Hỏi Đáp Về Học Thuật – Dư Thu Vũ Trò Chuyện Văn Hóa Trung Hoa Cùng Sinh Viên Đại học Bắc Kinh

Lượt đọc: 137 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Bài 47: Những trăn trở trên con đường hiện đại

❊ ❊ ❊

Dư Thu Vũ: Từ Marco Polo cho đến Matteo Ricci, thế giới đã lờ mờ nhìn thấy Trung Quốc, và Trung Quốc cũng lờ mờ nhìn thấy thế giới, nhưng rồi rốt cuộc lại đi tới một khúc quanh đầy bi kịch – hai nền văn minh nảy sinh xung đột quân sự nghiêm trọng, mà nền văn minh Trung Hoa lại thất bại hết lần này tới lần khác. Đến lúc này, nền văn minh Trung Hoa lâu đời buộc phải hạ mình, nghiêm túc đối diện với nền văn minh phương Tây hùng mạnh, tâm thế trở nên vô cùng phức tạp. Sự sụp đổ, chán nản, bực tức, thù hận, bao bọc lấy một sự tự đại, bảo thủ, cố chấp càng thêm méo mó, khiến tinh thần tập thể của Trung Quốc đột ngột rơi vào vũng bùn lầy lội. Bất cứ hồi ức huy hoàng nào ngược lại càng làm sâu sắc thêm cảm giác thất bại. Kết quả là, ngay cả Tần, Hán, Đường, Tống cũng cùng nhau lạc mất, tất cả mọi người đều rơi vào một tâm trạng "Trước không thấy người xưa, sau chẳng thấy người sau, nghĩ trời đất vô cùng, một mình xót xa rơi lệ".

Những tai ương mà người Trung Quốc gặp phải vào giai đoạn cuối thế kỷ XIX, trước hết là về mặt quân sự, vì vậy cho đến tận ngày nay chúng ta vẫn quen nhìn nhận từ góc độ thất bại quân sự. Một số học giả có tư tưởng sâu sắc hơn thì cho rằng, đằng sau thất bại quân sự là thất bại về chính trị và văn hóa. Nhưng theo tôi, nói là thất bại văn hóa thì có chút không chính xác. Dẫu sao văn hóa Trung Hoa đã kéo dài mấy nghìn năm, trong quá trình các nền văn minh khác lần lượt diệt vong và đứt gãy, nó vẫn luôn duy trì được sức sống của mình; đến thế kỷ XIX, vẫn chưa có đủ lý do để khẳng định rằng nó đã lâm vào cảnh diệt vong. Nhưng không nghi ngờ gì nữa, một nền văn hóa quá đỗi trường thọ như vậy quả thực đã xuất hiện một loạt những rào cản khó lòng vượt qua trong trạng thái sinh tồn. Khi chưa vượt qua được, thì trông nó có vẻ như là không thể vượt qua.

Trạng thái sinh tồn của văn hóa Trung Hoa thời bấy giờ có thể khái quát bằng hai chữ "cứng nhắc".

Mọi thứ đều bắt nguồn từ những quy tắc cũ kỹ, mọi thứ đều không thể thay đổi, ngay cả khi biết đã xảy ra tai họa lớn cũng chẳng biết phải ứng phó ra sao. Những người cảm nhận sâu sắc nhất về hệ sinh thái văn hóa này chính là lớp ngoại giao gia và du học sinh đầu tiên. Họ đứng ở tiền tuyến của cuộc gặp gỡ đầy ngượng ngùng giữa hai nền văn hóa.

Tôi từng tra cứu một số tài liệu về Quách Tung Đảo, vị công sứ đầu tiên của Trung Quốc tại Anh và Pháp, cảm thấy những tư liệu này giải thích vấn đề rất rõ, không ngại gì mà nói vài câu ở đây.

Năm 1875, khi Quách Tung Đảo chuẩn bị đi sứ, giới văn hóa thượng tầng Trung Quốc đều ra sức ngăn cản ông, với lý do là, giao thiệp với lũ quỷ Tây dương thì không còn là người tử tế nữa. Ngay cả rất nhiều bạn bè của ông cũng cho rằng, làm nhà ngoại giao chẳng khác nào nửa đời làm Hán gian. Đây không chỉ là sự vô tri; so với cảnh tượng các nền văn hóa thế giới đan xen hội tụ dày đặc ở Trường An thời Đại Đường vào thế kỷ thứ bảy, thì đây thực sự là một sự thụt lùi trượt dốc của văn hóa Trung Hoa.

Quách Tung Đảo cảm nhận vô cùng mạnh mẽ về sự thụt lùi này, thế nên ông đã đặc biệt viết một cuốn sách tên là "Sử Tây Kỷ Trình" để giới thiệu về văn minh phương Tây. Không ngờ, một số danh từ dịch thuật được nhắc đến trong cuốn sách này lại gây ra sự phản kháng đồng loạt và dữ dội từ giới văn hóa thượng tầng Trung Quốc. Những danh từ đó, vốn không hề có trong từ vựng gốc của Trung Quốc, nhưng lại phản ánh những thành quả mới của văn minh phương Tây, ví dụ như "xích đạo", "kinh độ", "vĩ độ", "quốc kỳ", "tin tức", v.v... Khi được Quách Tung Đảo viết ra đầu tiên, chúng đã trở thành sự phản bội đại nghịch bất đạo đối với ngôn ngữ Trung Quốc. Học giả nổi tiếng Lý Từ Minh cho rằng, dùng chữ Trung Quốc để viết ra những từ ngữ này là "kẻ nào còn chút khí huyết thì không ai là không nghiến răng căm hận". Đây thực sự là một sự phẫn nộ hoàn toàn mất kiểm soát. Một quan chức cấp cao khác là Trương Bội Luân, cũng chính là ông nội của nhà văn Trương Ái Linh, vốn cực kỳ bảo thủ, đã cho rằng hạng "người nghịch lý" như Quách Tung Đảo "ắt sẽ làm loạn lòng người". Sự "nghịch lý" của Quách Tung Đảo, ngoài những danh từ dịch thuật như xích đạo, kinh độ, vĩ độ đã nói ở trên, còn thể hiện ở cả phương thức sinh hoạt. Cấp phó của ông là Lưu Tích Hồng từng tố cáo ông mười tội trạng, trong đó nghiêm trọng nhất chẳng qua cũng chỉ là việc ông tuân theo thói quen "tôn vị" (vị trí tôn quý) của phương Tây khi tham gia một số hoạt động ở nước ngoài; hay như việc Quách Tung Đảo tỏ lòng tôn trọng với binh lính, bắt tay với thương nhân nước ngoài, khoác một chiếc áo khoác của Anh khi đi thăm pháo đài trong gió, dùng bộ đồ bạc nước ngoài đựng kẹo nước ngoài đãi khách, v.v... tất cả đều trở thành lý do khiến ông bị cách chức. Văn hóa Trung Quốc, ở đây đã trở thành những giới luật cực kỳ nhạy cảm và hẹp hòi, trở nên thật đáng ghét. Thời Đường, Huyền Trang dịch kinh Phật đã phát minh và đưa ra bao nhiêu từ ngữ và khái niệm chưa từng nghe thấy? Thời Minh, Từ Quang Khải dịch "Hình học nguyên bản" đã phát minh ra bao nhiêu mệnh đề toán học bằng văn Hán? Tại sao đến cuối thế kỷ XIX lại không được nữa? Điều này chứng minh rằng, văn hóa Trung Quốc lúc bấy giờ đã quá yếu ớt, yếu đến mức ngay cả một chút tự tin văn hóa cũng không còn. Thế nhưng, vì đã từng có Huyền Trang và Từ Quang Khải, thì điều đó lại có thể chứng minh ngược lại rằng, hệ sinh thái văn hóa tồi tệ mà Trung Quốc biểu hiện vào cuối thế kỷ XIX không thể đại diện cho bản tính của văn hóa Trung Quốc.

Quách Tung Đảo rất được chào đón trong giới ngoại giao châu Âu, phong thái quân tử ôn văn nhã nhặn của ông đã trở thành chiếc cầu nối nhân cách giúp người châu Âu nhìn nhận lại văn hóa Trung Quốc. Qua đó càng chứng minh thêm rằng, khuôn mẫu nhân cách mà văn hóa Trung Quốc theo đuổi vẫn chưa hề mất đi sức hút của nó vào cuối thế kỷ XIX. Chỉ tiếc là, hệ sinh thái văn hóa tổng thể do thể chế chính trị trong nước lúc bấy giờ gây ra đã mục nát, khiến Quách Tung Đảo lập tức trở thành đối tượng bị vây công. Đây thực sự là bi kịch của chính văn hóa Trung Quốc. Quách Tung Đảo cuối cùng bị cách chức, với tư cách là đại diện cho khả năng văn hóa Trung Quốc có thể giao lưu với phương Tây, ông ngậm ngùi trở về nước. Đoàn ngoại giao của hơn ba mươi nước ở London dù thế nào cũng không nỡ để ông đi.

Sau khi Quách Tung Đảo trở về, chẳng có nơi nào để đi, chỉ đành về quê nhà. Năm 1879, ông cuối cùng đã trở về quê hương Trường Sa.

Điều đáng ngạc nhiên là, ngay cả quê hương cũng bài xích ông triệt để. Từ quan Tuần phủ Trường Sa cho đến tất cả các quan lại đều hoàn toàn phớt lờ ông. Hơn nữa, trên đường phố Trường Sa còn xuất hiện "đại tự báo", trên đó viết rằng: chúng ta từ chối cấu kết với kẻ Hán gian làm nô lệ cho ngoại bang. Quách Tung Đảo đã sống trong bầu không khí khủng bố đó đầy u uất và nhanh chóng qua đời. Nghiêm Phục đã viết cho ông một đôi câu đối, trong đó có câu "Duy công phụ độc tỉnh chi lụy" (Chỉ có ngài là gánh chịu cái khổ của sự tỉnh thức một mình), chỉ ra bi kịch của Quách Tung Đảo là khi mọi người đều đang ngủ say, thì chỉ mình ông thức tỉnh trước. Sự "tỉnh thức một mình" này, tất yếu sẽ trở thành một gánh nặng nặng nề.

Theo tôi, sự kiện Quách Tung Đảo không phải là sự kiện ngoại giao, mà là sự kiện văn hóa.

May mắn thay, đúng hai mươi năm sau khi Quách Tung Đảo qua đời, Cách mạng Tân Hợi bùng nổ, mọi thứ đã khác hẳn.

Hiện nay trong giới học thuật văn hóa Trung Quốc có một cách nói rằng, Cách mạng Tân Hợi và phong trào Ngũ Tứ sau đó đã cắt đứt văn hóa truyền thống Trung Quốc. Tôi cảm thấy những người giữ quan điểm này là thiếu công phu, chỉ nghĩ đương nhiên, coi Trung Quốc trước Cách mạng Tân Hợi là thời Đường hoặc thời Tống. Thực ra, nếu không có Cách mạng Tân Hợi và phong trào Ngũ Tứ, văn hóa Trung Quốc thực sự đã tiêu tùng rồi. Bởi vì văn hóa Trung Quốc thế kỷ XIX đã thoi thóp trong cái lồng giam chính trị - văn hóa mục nát nhất, không đập bỏ cái lồng này, thì dù có bao nhiêu anh tài văn hóa cũng chỉ có thể chịu chết oan nơi thôn dã và mang tiếng xấu muôn đời như Quách Tung Đảo mà thôi. Cải cách, thậm chí là rạn nứt, là lựa chọn tất yếu để văn hóa Trung Quốc muốn tiếp tục sinh tồn. Văn hóa Trung Quốc cuối cùng đã đưa ra lựa chọn đó, đó là minh chứng cho việc nó vẫn tiềm tàng sức sống cao quý.

Tôi muốn mời mọi người thảo luận một chút, sau Cách mạng Tân Hợi, văn hóa Trung Quốc có những sự kiện nào xứng đáng để chúng ta ghi nhớ?

Vương Mục Địch: Việc giải mã Giáp cốt văn đã phát hiện ra nhà Thương trong lịch sử, sự phát hiện Đôn Hoàng Mạc Cao quật, ý nghĩa đều rất lớn. Còn cả sự du nhập của văn hóa phương Tây, ví dụ như tranh sơn dầu, kịch nói, âm nhạc nước ngoài, v.v...

Lữ Phàm: Bãi bỏ khoa cử, bắt đầu sử dụng bạch thoại văn.

Một số trường học kiểu mới cũng xuất hiện ồ ạt, trình độ học vấn của quốc dân được nâng cao đáng kể. Còn sự xuất hiện của những học giả mới như Hồ Thích, Nghiêm Phục, sự đề xướng dân chủ và khoa học, đều có mối liên hệ mật thiết với Đại học Bắc Kinh, mỗi người chúng ta ít nhiều đều chịu ảnh hưởng từ di phong của hai vị tiên sinh này.

Ngoài ra chính là dưới ảnh hưởng của trào lưu tư tưởng này, chúng ta có rất nhiều du học sinh ra nước ngoài học tập tri thức mới, sau đó về nước cống hiến.

Dư Thu Vũ: Tốt, chúng ta vẫn nên bỏ phiếu đi, mọi người hãy viết các sự kiện văn hóa trước và sau Cách mạng Tân Hợi lên giấy theo thứ tự quan trọng, sau đó thống kê lại, lập ra một thứ tự xếp hạng.

Vương Mục Địch: Thầy Thu Vũ, kết quả bỏ phiếu đã có rồi ạ. Xếp thứ nhất là sáng lập "Tân thanh niên", đề xướng khoa học và dân chủ;

Xếp thứ hai là phổ biến bạch thoại văn;

Thứ ba là mở hàng loạt trường học mới;

Thứ tư là giải mã Giáp cốt văn, một nhà Thương vĩ đại lộ diện;

Thứ năm là phát hiện hang động Đôn Hoàng;

Thứ sáu là bãi bỏ khoa cử;

Thứ bảy là cử du học sinh;

Thứ tám là sự xuất hiện của các học giả phái mới đại diện là Hồ Thích;

Thứ chín là sự xuất hiện của các nhà văn như Lỗ Tấn, Quách Mạt Nhược, Chu Tác Nhân, Băng Tâm, Từ Chí Ma, Lâm Ngữ Đường;

Thứ mười là du nhập tranh sơn dầu, kịch nói và âm nhạc nước ngoài.

Dư Thu Vũ: Cảm ơn các bạn đã liệt kê đầy đủ như vậy, có thể thấy các bạn vẫn rất quan tâm đến thời kỳ chuyển hình quan trọng này của văn hóa Trung Quốc, chứ không như một số học giả, trong mắt chỉ có cổ văn và ngoại văn.

Thứ tự xếp hạng cũng khá hợp lý. Những sự kiện này là một sự liên động hệ thống, nếu tách riêng từng hạng mục ra xem thì có vẻ hơi vội vàng và thô sơ, nhưng cộng lại với nhau thì lại ngăn chặn được xu thế suy sụp toàn diện của văn hóa Trung Quốc, mở đầu cho việc tìm kiếm một nền văn hóa mới.

Chúng ta hãy dành sự kính trọng sâu sắc đối với các học giả văn hóa thời bấy giờ, chứ đừng đứng ở tầm cao văn hóa ngày nay mà chế giễu họ, chỉ trích họ. Cần hiểu rằng, tuy họ không ít hạn chế, nhưng xét về tổng thể thì họ cao thượng hơn, dũng cảm hơn và sâu sắc hơn rất nhiều so với giới trí thức Trung Quốc ngày nay. Trong sự nôn nóng vì nỗi nhục quốc gia, họ đã không chọn cách trốn tránh, mà đứng vững trên nền tảng văn hóa để tiến hành cải cách. Họ hầu như không nhận được sự hỗ trợ từ chính phủ lúc bấy giờ, ngược lại còn thường xuyên bị các chính trị gia bức hại. Trong tình thế quân phiệt hỗn chiến, binh đao loạn lạc, họ hiếm khi có thời gian và không gian để sáng tạo, họ không có được vinh quang của những nhà tư tưởng thời Khai sáng, thời Lãng mạn ở châu Âu, hầu như luôn ở trong sự bất an của cảnh lưu lạc trôi dạt, vậy mà họ lại làm được nhiều việc quan trọng đến thế. Có những việc xuất hiện đột ngột khi họ hoàn toàn không có chuẩn bị về tư tưởng, ví dụ như sự phát hiện Giáp cốt văn và hang tàng kinh Đôn Hoàng, họ cũng đều có mặt kịp thời, lập tức tiến hành nghiên cứu và đạt được những thành quả đáng nể.

Họ thực sự quá vất vả, những học giả thuộc thế hệ ông nội, cụ nội của chúng ta này.

Trong những thành quả mà các bạn đã liệt kê, có hai điểm không mấy nổi bật, tôi cần phải nói thêm. Một là phổ biến bạch thoại văn, đây là một sự sinh sôi mới về hình thức của chính văn hóa Trung Hoa. Tuy trước đây cũng có bạch thoại văn, nhưng không phải là văn ngôn chủ thể, mà văn ngôn văn lại gắn liền với truyền thống lịch sử phong phú, lắng đọng văn học mỹ miều, hàm súc âm luật tinh tế đến nhường ấy; có thể tưởng tượng rằng, một khi bị thay thế thì sẽ gặp phải sự kháng cự văn hóa và vấn đề kỹ thuật lớn đến mức nào, mà việc này còn liên quan đến toàn bộ xã hội, trong tình trạng không có lệnh của chính phủ thì tất yếu sẽ vô cùng gian nan. Thế nhưng, điều kỳ diệu không thể tưởng tượng đã xảy ra, việc phổ biến bạch thoại văn thực sự đã đạt được thành công, từ việc xây dựng ngữ pháp, viết văn mẫu, tiếp nhận giáo dục, cho đến phổ cập truyền bá, tất cả đều nhờ vào những văn nhân từng chút một thực hiện. Một việc lớn như vậy mà thời gian thực hiện lại không quá dài, thực sự khiến người ta kinh ngạc.

Phổ biến bạch thoại văn không phải là bãi bỏ văn ngôn văn. Tất cả các kinh điển văn hóa truyền thống vẫn được bảo tồn tốt đẹp, nhưng văn hóa Trung Quốc buộc phải xây dựng được văn bản có thể biểu đạt khoa học kỹ thuật hiện đại, tin tức quốc tế, tâm thái dân gian, thì không thể không phổ biến bạch thoại văn. Nhìn chung, việc này đã làm rất tốt. Những nhà văn mà các bạn xếp hạng thứ chín về độ quan trọng, đóng góp lớn nhất cũng nằm ở chỗ họ sớm xây dựng được sự tự tin thẩm mỹ cho bạch thoại văn, điều này hiệu quả hơn cả những tư tưởng mà họ truyền đạt.

Một điểm sáng văn hóa khác không mấy nổi bật nhưng lại rất quan trọng, chính là việc các học giả hiện đại Trung Quốc đã giải mã được Giáp cốt văn vừa mới được phát hiện trong thời gian không quá dài. Việc này đầu khóa học năm nay tôi đã giảng giải kỹ lưỡng, giờ đây khi khóa học sắp kết thúc lại không thể không nhắc đến, thực sự là một ý trời, vì vậy tôi còn muốn nói thêm vài câu. Giải mã Giáp cốt văn là một kỳ tích văn hóa không thể tin nổi, chứng minh rằng người văn hóa Trung Quốc không chỉ có dũng khí hướng tới hiện đại, mà còn có năng lực hướng tới viễn cổ. Ngay cả Khổng Tử, Tư Mã Thiên cũng chưa từng thấy qua Giáp cốt văn, bỗng nhiên xuất hiện trong thời đại binh đao loạn lạc, đây là một bài kiểm tra lớn đối với tính quán thông văn hóa mấy nghìn năm của một dân tộc. Có giải mã được hay không chính là hòn đá thử vàng cho việc nền văn hóa này có bị đứt gãy hay không. Bài kiểm tra đã được vượt qua, một nhà Thương vĩ đại hiện ra rõ ràng trước mắt, chân thực hơn cả sự tưởng tượng của chư tử bách gia. Hồn phách của lịch sử và sức bền bỉ của lịch sử đã cùng nhau trở lại, người văn hóa Trung Quốc cuối cùng cũng biết rõ hơn bất cứ lúc nào trước đây rằng: Chúng ta là ai.

Vì vậy, tôi đã nhiều lần nói rằng, hai việc lớn về văn hóa mà Trung Quốc làm được vào giai đoạn đầu thế kỷ XX – phổ biến bạch thoại văn, giải mã Giáp cốt văn – đã chứng minh văn hóa Trung Quốc không hề mất đi sức sống, thậm chí cũng không hề mất đi sự cao quý.

Văn hóa Trung Quốc có rất nhiều thói hư tật xấu, đến thời hiện đại lại càng nhiều hơn. Chúng ta từng tiếc nuối rằng hai triều Minh, Thanh chỉ xuất hiện được vài nhà sáng tạo văn hóa ít ỏi như Tào Tuyết Cần và Vương Dương Minh, nhưng đến thời cận đại, hiện đại, đương đại, ngay cả hy vọng xuất hiện một tiểu thuyết gia như Tào Tuyết Cần, một triết gia như Vương Dương Minh cũng không còn nữa. Trong một cục diện đáng chán nản như vậy, dù chỉ là phổ biến bạch thoại văn, giải mã Giáp cốt văn thôi, thì khí u uất cũng đã tan biến quá nửa. Huống chi, các hạng mục mà các bạn bầu chọn còn vượt xa hai hạng mục này.

Còn về ưu điểm và khuyết điểm của văn hóa Trung Quốc, tôi đã giảng suốt một năm trên chuyên mục "Thu Vũ thời phân" của Phượng Hoàng Vệ Thị. Ngày nào cũng có, nên rất dài, chúng ta sẽ không lặp lại thảo luận nữa.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Dư Thu Vũ

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.