Truyện Cổ Grimm

Lượt đọc: 85 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Món Xà Lách

❊ ❊ ❊

Thuở ấy, có một chàng thợ săn trẻ tuổi và vui tính đang rảo bước nhanh nhẹn qua khu rừng, chợt một bà lão thấp lùn tiến lại gần và nói: «Chào cậu, chào cậu; trông cậu có vẻ vui quá nhỉ, nhưng ta đang đói và khát quá; xin hãy rủ lòng thương cho ta chút gì để ăn đi.» Chàng thợ săn động lòng thương, liền thò tay vào túi đưa cho bà tất cả những gì mình có. Xong xuôi, chàng định đi tiếp; nhưng bà níu áo chàng lại và bảo: «Này bạn hiền, hãy nghe ta nói điều này; ta sẽ đền đáp lòng tốt của cậu; cứ đi đi, rồi chẳng mấy chốc cậu sẽ đến một cội cây và thấy chín con chim đang đậu trên một chiếc áo choàng. Hãy bắn vào giữa bầy chim ấy, một con sẽ rơi xuống chết tươi: chiếc áo choàng cũng sẽ rơi xuống theo; hãy lấy nó đi, đó là chiếc áo choàng ước nguyện, và khi khoác nó lên người, cậu muốn đến đâu cũng sẽ được như ý. Hãy mổ bụng con chim chết, lấy tim nó ra và giữ lấy, mỗi khi thức dậy vào buổi sáng, cậu sẽ thấy một đồng tiền vàng nằm dưới gối của mình. Chính trái tim con chim ấy sẽ mang lại cho cậu vận may này.»

Chàng thợ săn cảm ơn bà lão và tự nhủ: «Nếu chuyện này thực sự xảy ra, thì đúng là phúc lớn cho ta.» Khi đi được tầm một trăm bước, chàng nghe thấy tiếng réo và tiếng hót ríu rít trên những cành cây phía trên, bèn ngước lên và nhìn thấy một đàn chim đang dùng mỏ và chân kéo giật một chiếc áo choàng; chúng kêu la, đánh nhau và giằng co cứ như thể con nào cũng muốn tranh lấy cho riêng mình. «Chà,» chàng thợ săn tự nhủ, «lạ thật đấy; mọi chuyện diễn ra đúng y như lời bà lão nói»; đoạn chàng giương súng bắn thẳng vào giữa bầy chim khiến lông bay tứ tung. Đàn chim tán loạn bay đi; nhưng có một con rơi xuống chết, và chiếc áo choàng cũng rơi xuống cùng với nó. Chàng thợ săn bèn làm theo lời bà lão dặn, mổ bụng con chim, lấy tim ra và mang chiếc áo choàng về nhà.

Sáng hôm sau, khi tỉnh dậy, chàng vén gối lên và thấy đồng tiền vàng đang lấp ló bên dưới; ngày hôm sau cũng vậy, và quả thực là ngày nào thức dậy chàng cũng thấy thế. Chàng tích lũy được rất nhiều vàng, và cuối cùng tự nhủ: «Ta cứ giữ đống vàng này ở nhà thì có ích gì chứ? Ta sẽ đi khắp đó đây để mởmang tầm mắt.»

Thế là chàng từ biệt bạn bè, quàng túi và cung tên lên vai rồi lên đường. Hôm nọ, con đường đưa chàng đi xuyên qua một khu rừng rậm, tận cuối rừng là một tòa lâu đài lớn nằm giữa một đồng cỏ xanh tươi, và ở một ô cửa sổ có một bà lão cùng một tiểu thư vô cùng xinh đẹp đang đứng nhìn ngắm cảnh vật bên ngoài. Số là bà lão ấy là một phù thủy, bỗng bảo thiếu nữ rằng: «Có một chàng trai đang bước ra từ khu rừng mang theo một báu vật tuyệt vời; chúng ta phải chiếm lấy nó thôi con gái yêu ạ, vì thứ đó hợp với chúng ta hơn là với hắn ta. Hắn đang giữ trái tim của một con chim mang lại một đồng tiền vàng dưới gối mỗi sáng.» Trong lúc đó, chàng thợ săn tiến lại gần hơn, ngắm nhìn nàng thiếu nữ và tự nhủ: «Ta đi đường lâu ngày quá rồi, giá được vào lâu đài này nghỉ ngơi thì thích biết mấy, vì ta có đủ tiền để trả cho bất cứ thứ gì mình muốn»; nhưng lý do thực sự là chàng muốn được ngắm nhìn nàng thiếu nữ xinh đẹp ấy lâu hơn. Chàng bèn bước vào trong nhà và được đón tiếp niềm nở; chẳng bao lâu sau, chàng yêu say đắm đến mức chẳng còn nghĩ ngợi được gì ngoài việc ngắm nhìn đôi mắt của nàng và làm mọi điều nàng muốn. Lúc bấy giờ, bà lão liền bảo: «Đến lúc lấy trái tim con chim rồi đấy.» Thế là nàng thiếu nữ liền lén lấy trộm nó, từ đó chàng chẳng bao giờ còn tìm thấy đồng tiền vàng nào dưới gối nữa, bởi vì bây giờ nó nằm dưới gối của nàng thiếu nữ, và mỗi buổi sáng bà lão lại đem nó đi; thế nhưng vì quá đỗi si tình nên chàng chẳng hề mảy may hay biết rằng mình đã mất đi báu vật.

«Thế là ổn,» mụ phù thủy già nói, «chúng ta đã lấy được trái tim con chim, nhưng chiếc áo choàng ước nguyện thì vẫn chưa, ta phải lấy cho bằng được mới thôi.» «Thôi hãy để lại thứ đó cho anh ấy đi,» nàng thiếu nữ nói; «anh ấy đã mất hết tài sản rồi còn gì.» Mụ phù thủy nghe vậy vô cùng tức giận, liền quát lên: «Cái áo choàng ấy là một vật hiếm có và kỳ diệu lắm, ta nhất định phải có và sẽ phải cướp cho bằng được.» Thế là nàng thiếu nữ làm theo lời bà lão dặn, ra đứng bên cửa sổ, nhìn ra phong cảnh xung quanh và ra vẻ vô cùng buồn bã; chàng thợ săn thấy vậy liền hỏi: «Điều gì khiến nàng buồn rầu thế kia?» «Ôi! thưa chàng trai kính mến,» nàng đáp, «đằng kia chính là ngọn núi đá hoa cương nơi những viên kim cương quý giá mọc lên, em ao ước được đến đó biết bao, mỗi khi nghĩ đến là em lại không sao kìm được nỗi buồn, vì làm sao có ai lên được đến nơi đó chứ? Chỉ có loài chim và loài ruồi mới tới được—con người thì không thể.» «Nếu nỗi buồn của nàng chỉ có thế,» chàng thợ săn nói, «anh xin vui lòng đưa nàng đi»; nói đoạn chàng kéo nàng đứng vào trong áo choàng của mình, và ngay khoảnh khắc chàng vừa ước được đặt chân lên ngọn núi hoa cương thì cả hai đã có mặt ở đó. Những viên kim cương lấp lánh bốn bề khiến họ vô cùng thích thú và tha hồ nhặt những viên đẹp nhất. Thế nhưng mụ phù thủy già đã yểm bùa khiến chàng chìm vào giấc ngủ sâu, rồi nàng thiếu nữ bảo chàng: «Chúng ta hãy ngồi xuống nghỉ ngơi một lát đi, em mệt đến mức không đứng nổi nữa rồi.» Thế là họ ngồi xuống, chàng gối đầu lên đùi nàng và chìm vào giấc ngủ; và trong khi chàng đang ngủ say, nàng liền thởi chiếc áo choàng khỏi vai chàng, khoác lên người mình, nhặt mấy viên kim cương rồi ước được trở về nhà ngay tức khắc.

Khi thức dậy và phát hiện ra nàng thiếu nữ đã lừa gạt mình, bỏ mặc mình trơ trọi trên ngọn núi hoang vắng, chàng thợ săn than thở: «Ôi! Trên đời này mới lắm gian trá làm sao!» rồi ngồi đó trong nỗi buồn tủi và sợ hãi khôn cùng, chẳng biết phải làm thế nào. Ngọn núi này vốn là lãnh địa của những tên khổng lồ hung ác; khi thấy ba tên đang sải bước đi tới, chàng tự nhủ: «Ta chỉ có thể tự cứu mình bằng cách giả vờ đang ngủ mà thôi»; thế là chàng nằm dài xuống đất ra điều ngủ say như chết. Khi lũ khổng lồ tiến đến chỗ chàng, tên thứ nhất lấy chân khều khều và nói: «Con sâu bọ quái quỷ nào mà cuộn tròn nằm đây thế này?» «Dẫm nát nó đi cho rồi,» tên thứ hai gầm gừ. «Không đáng để nhọc sức đâu,» tên thứ ba cản lại; «cứ để nó sống đi, rồi nó sẽ leo lên cao hơn trên núi, thể nào cũng có đám mây sà xuống cuốn phăng nó đi cho mà xem.» Rồi chúng bỏ đi qua. Nhưng chàng thợ săn đã nghe thấy hết mọi lời chúng nói; vừa lúc chúng đi khuất, chàng liền leo lên đỉnh núi, và chỉ ngồi ở đó một lát thì một đám mây bỗng kéo đến bao quanh lấy chàng, cuốn chàng vào trong một trận cuồng phong mang đi suốt một hồi, cho đến khi hạ xuống một khu vườn, và chàng rơi nhẹ nhàng xuống đất giữa đám rau xanh.

Bấy giờ chàng mới đưa mắt nhìn quanh và tự nhủ: «Ước gì mình có chút gì để ăn, bằng không thì tình cảnh còn tồi tệ hơn lúc trước; bởi vì ở đây ta chẳng thấy táo, chẳng thấy lê hay bất kỳ loại trái cây nào, toàn là rau củ không thôi.» Cuối cùng chàng nghĩ bụng: «Thôi ăn xà lách vậy, nó sẽ giúp ta giải khát và lấy lại sức lực.» Thế là chàng chọn một cây xà lách ngon lành và ăn lấy ăn để; nhưng vừa nuốt xong hai miếng, chàng đã thấy cơ thể mình biến đổi hoàn toàn, và bàng hoàng nhận ra mình đã biến thành một con lừa. Mặc dù vậy, bụng vẫn thấy đói và món xà lách lại rất ngon miệng; thế là chàng tiếp tục ăn cho đến khi sang một loại xà lách khác, và vừa nếm thử nó thì chàng lại cảm thấy một sự biến đổi nữa xảy ra, để rồi nhanh chóng nhận ra mình thật may mắn khi đã lấy lại được hình hài con người.

Chàng bèn nằm xuống ngủ một giấc cho vơi đi nỗi mệt nhọc; và khi thức dậy vào sáng hôm sau, chàng bẻ lấy hai cây xà lách, một tốt một xấu, rồi tự nhủ: «Thứ này sẽ giúp ta lấy lại cơ đồ, và cho phép ta trả món nợ bội bạc với mấy kẻ kia.» Thế rồi chàng lên đường đi tìm tòa lâu đài của những kẻ quen cũ; sau vài ngày lang thang, cuối cùng chàng cũng may mắn tìm ra nơi ấy. Chàng bèn lấy bùn nâu bôi khắp mặt, đến nỗi mẹ ruột có sống lại cũng chẳng thể nhận ra, rồi bước vào lâu đài xin trọ lại; «Tôi mệt quá,» chàng nói, «chẳng thể đi tiếp được nữa.» «Này anh bạn quê mùa,» mụ phù thủy hỏi, «anh là ai? Đến đây có việc gì?» «Tôi,» chàng đáp, «là sứ giả do nhà vua phái đi tìm loại xà lách ngon nhất mọc dưới ánh mặt trời. Tôi đã may mắn tìm thấy và mang theo bên mình; nhưng trời nắng gắt quá khiến nó héo rũ cả đi, chẳng biết có mang đi xa hơn được nữa không.»

Khi mụ phù thủy và nàng thiếu nữ nghe nói về món xà lách tuyệt hảo ấy, họ liền thèm thuồng khôn tả và nói: «Anh bạn quê mùa ơi, cho chúng tôi nếm thử một chút đi.» «Dĩ nhiên rồi,» chàng đáp; «tôi mang theo hai cây, sẽ biếu các vị một cây»; đoạn chàng mở túi ra và đưa cho họ cây xà lách xấu. Mụ phù thủy tự tay mang nó xuống bếp để chế biến; và khi món ăn vừa chuẩn bị xong, mụ chẳng màng chờ đem lên nhà trên mà bốc ngay mấy lá bỏ vào miệng, để rồi vừa nuốt xuống mông lung là mụ lập tức mất đi hình hài con người, cứ thế vừa kêu ré lên vừa chạy thục mạng ra sân trong lốt một con lừa. Lúc bấy giờ, cô hầu gái bước vào bếp, thấy đĩa xà lách đã làm xong liền định bưng lên nhà trên; nhưng dọc đường đi, cô ta bỗng nổi thèm thuồng y như bà lão nọ, bèn bốc vài lá ăn thử; thế là cô cũng biến thành lừa và chạy đuổi theo con kia, làm rơi cả đĩa xà lách xuống đất. Suốt thời gian ấy, chàng sứ giả vẫn đang ngồi cùng nàng thiếu nữ xinh đẹp, vì mãi chẳng thấy ai bưng xà lách lên mà nàng thì đã thèm rỏ dãi nên cất lời: «Chẳng biết xà lách để đâu mà lâu thế không biết.» Chàng thợ săn liền nghĩ chắc đã có chuyện chẳng lành xảy ra, bèn bảo: «Để tôi xuống bếp xem sao.» Vừa bước xuống, chàng đã thấy hai con lừa đang chạy lon ton ngoài sân và đĩa xà lách thì nằm lăn lóc dưới đất. «Được lắm!» chàng tự nhủ; «hai ả đó đã hưởng phần của mình rồi đấy.» Chàng bèn nhặt những chiếc lá còn lại lên, bày vào đĩa rồi mang đến chỗ nàng thiếu nữ, cất tiếng: «Chính tay tôi mang đĩa xà lách này lên đây để nàng không phải đợi lâu nữa.» Thế là nàng liền ăn, và cũng giống như hai kẻ kia, nàng vứt đĩa chạy thốc tháo ra sân vừa chạy vừa kêu réo inh ỏi.

Lúc này, chàng thợ săn mới rửa sạch mặt rồi đi ra sân để chúng nhận diện ra mình. «Giờ thì tụi bây phải trả giá cho thói gian trá của mình rồi đấy,» chàng bảo; rồi lấy dây thừng trói cả ba con lại lôi tuốt đi cho đến khi tới một cối xay gió thì gõ cửa sổ. «Có chuyện gì thế?» người chủ cối xay hỏi. «Tôi có ba con vật bướng bỉnh đây,» chàng đáp; «nếu ông chịu nhận nuôi, cho chúng chỗ ở và thức ăn, đồng thời đối xử với chúng theo đúng lời tôi dặn, tôi sẽ trả ông bất cứ giá nào.» «Tôi sẵn lòng thôi,» bác thợ xay nói; «nhưng phải đối xử với chúng ra sao nào?» Chàng thợ săn bèn dặn rằng: «Hãy đánh con già ba lần một ngày và cho ăn cỏ một lần; con thứ hai (chính là cô hầu gái) thì cho ăn đòn một lần một ngày và ăn cỏ ba lần; còn con nhỏ nhất (chính là nàng thiếu nữ xinh đẹp) thì cho ăn cỏ ba lần một ngày và không được đánh đòn roi nào cả»: bởi vì chàng không nỡ lòng nào để nàng bị đánh đập. Dặn dò xong, chàng quay trở lại lâu đài, nơi mọi thứ đều sẵn sàng theo ý muốn của chàng.

Vài ngày sau, bác thợ xay tìm đến báo tin con lừa già đã chết; «Còn hai con kia,» bác nói, «vẫn sống và chịu ăn, nhưng buồn bã quá chắc cũng chẳng thọ được bao lâu nữa đâu.» Chàng thợ săn nghe thế liền động lòng xót xa, bảo bác thợ xay lùa chúng đến gặp mình; khi chúng vừa tới, chàng liền bèn lấy một ít xà lách ngon cho chúng ăn. Ngay lập tức, nàng thiếu nữ xinh đẹp sụp xuống quỳ gối trước mặt chàng, thổn thức: «Ôi chàng thợ săn dấu yêu! Xin hãy tha thứ cho mọi lỗi lầm mà em đã gây ra cho chàng; mẹ em ép buộc em làm thế, chứ hoàn toàn trái với ý muốn của em, vì thâm tâm em vẫn luôn vô cùng yêu thương chàng. Chiếc áo choàng ước nguyện của chàng đang treo trong tủ đấy, còn trái tim con chim, em cũng xin trả lại cho chàng luôn.» Nhưng chàng đáp: «Cứ giữ lấy đi, kết quả cũng thế cả thôi, vì anh định rước em về làm vợ cơ mà.» Thế là họ tổ chức đám cưới và sống hạnh phúc bên nhau cho đến cuối đời.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.