Tracy dừng lại bên ngoài một tòa chung cư xây bằng gạch trên đường King gần nhà ga ở khu Pioneer Square. Căn cứ theo bằng lái xe của Leah Battles, cô sống ở một trong những tòa nhà này. Với chiều cao sáu tầng, đây là một trong những tòa nhà cao nhất khu vực. Hầu hết các tòa nhà xung quanh chỉ cao một, hai tầng, với một loạt cửa hàng và nhà hàng ở tầng trệt. Các quán bar, tụ điểm âm nhạc và cửa hàng bán đồ mỹ thuật thu hút nhiều thanh thiếu niên của Seattle, cùng với một lượng lớn người vô gia cư và những kẻ tâm thần. Mới sẩm tối, tiếng nhạc vọng ra từ một trong những cửa hàng ấy và người người đi lại trên các đường phố, kẻ thì đang trên đường đi làm về, kẻ thì trông như đang sắp sửa tận hưởng sớm kỳ nghỉ cuối tuần sắp tới.
Chiều hôm đó, Tracy đã gặp Rick Cerrabone, Sandy Clarridge và Kevin Dunleavy. Họ đã bày tỏ mối lo lắng trước tin tức cuốn băng bị mất. Dunleavy giải thích rằng luật sư tranh tụng cấp cao của Hải quân đã gọi điện đến thông báo là họ không thể tìm ra cuốn băng, và họ đang tiến hành một cuộc điều tra về đạo đức nghề nghiệp đối với Leah Battles. Ông ta giải thích rằng, tùy thuộc vào kết quả của cuộc điều tra đó, cô ta có thể bị đưa ra tòa án binh vì tội vô trách nhiệm. Ông ta cũng nói Battles không còn đại diện cho Trejo nữa, và họ đang đợi quyết định của sĩ quan phụ trách phiên tiền thẩm về việc các chứng cứ có đầy đủ và hợp lý để tiếp tục giam giữ anh ta hay không. Dunleavy giải thích điều mà tất cả mọi người trong phòng đều hiểu. Nếu sĩ quan phụ trách phiên tiền thẩm không đồng ý đưa vụ việc ra tòa án binh và quận King giành lại được quyền xét xử, họ sẽ phải đối mặt với những vấn đề tương tự trong việc đưa Trejo ra phiên tòa xử tội. Ở một tòa án cấp cao hơn, tiêu chuẩn để kết án không chỉ nằm ở một nghi ngờ hợp lý, nó là một cái ngưỡng nghiêm ngặt hơn nhiều so với việc chứng minh được bị cáo có dấu hiệu phạm tội. Không có cuốn băng video, bên công tố sẽ yếu thế hơn hẳn. Qua cuộc bàn bạc này, Tracy có cảm giác rằng khó có khả năng các vị lãnh đạo sẽ giành lại quyền xét xử, mặc dù không một ai trong cuộc họp nói điều đó ra miệng. Cô hiểu được luận điểm của họ. Tại sao lại đưa đầu vào trong chuồng sư tử nếu ta biết sẽ bị nó cắn chứ?
Tracy ra khỏi xe và tiến lại gần ô văng của tòa chung cư. Không khí buổi tối lạnh tê tái, mặc dù không còn lạnh như hồi đầu tháng. Các ngọn đèn đường cổ xưa thắp sáng vỉa hè ẩm ướt, và trong không trung có mùi nồng nồng báo hiệu cơn mưa sắp đến. Cô dò tìm tên của Leah Battles ở bảng tên và nhấn chuông. Không ai trả lời. Cô thử lại lần nữa và nhận được kết quả tương tự.
“Chị muốn hỏi thăm xem nhà hàng nào ăn ngon à?” Battles trèo xuống khỏi chiếc xe đạp trong bộ đồ giống với bộ cô đã mặc khi tới nhà tù vào đêm Trejo bị bắt. Cô chỉ trỏ. “Mang súng theo cũng tốt đấy, nhưng an ninh của khu vực này không đến nỗi kém lắm đâu.” Giọng Battles có vẻ hổn hển. Cô cởi mũ bảo hiểm. Mái tóc sẫm màu của cô được buộc chặt kiểu đuôi ngựa, hai má cô đỏ bừng.
“Tôi đang hy vọng chúng ta có thể nói chuyện.” Tracy nói.
“Tại sao chúng ta phải nói chuyện?” Nghe giọng Battles có vẻ tò mò hơn là phản đối.
“Bởi vì tôi nghĩ chúng ta đều muốn cùng một thứ.”
“Chị cũng muốn trúng xổ số và chuyển tới sống trên một du thuyền ở Địa Trung Hải à?”
“Được thế thì tuyệt quá.” Tracy nói. “Mặc dù không phải lúc nào thảm cỏ ở bên kia hàng rào cũng xanh hơn.”
“Chị có thấy bất cứ thảm cỏ nào ở quanh đây không?” Battles nhìn xuống vỉa hè. “Cả hai chúng ta đều muốn thứ gì nhỉ?”
“Tôi có thể mời cô một tách cà phê chứ?”
Battles nhìn Tracy vẻ dò hỏi. “Một cảnh sát ngỏ lời mời tôi đi uống cà phê ư? Được thôi, tôi cũng có hứng thú. Để tôi cất xe đạp của tôi vào trong đã. Nếu tôi mà khóa nó ở ngoài này thì còn lại một cái nan hoa đã là may mắn lắm rồi.”
Vài phút sau, Battles trở ra, không còn cái xe đạp, chiếc mũ bảo hiểm hay đôi giày. Cô nắm chặt một mảnh khăn giấy Kleenex và lau mũi. Cô đi đôi xăng đan Birkenstock với tất trắng. “Tôi muốn khẳng định cá tính thời trang của mình khi tôi đi ra ngoài.” Cô nói. “Cánh đàn ông thích thế.” Cô nhìn quanh phố. “Chị muốn đi đâu?”
“Đây là khu nhà cô.” Tracy nói. “Hãy chọn một nơi và tôi sẽ đi theo cô.”
“Được thôi.” Battles suy nghĩ một lát rồi dẫn Tracy đi vòng quanh khối nhà tới tiệm cà phê Zeitgeist trên phố Jackson. Battles gọi một cốc cà phê đá. Tracy gọi một tách cà phê đã lọc caffein. Khi chưa có caffein trong cơ thể, cô đã khó ngủ lắm rồi. “Cô muốn ăn gì không?” Cô hỏi.
Battles mỉm cười. “Chuyện này đang bắt đầu giống một cuộc hẹn hò rồi đấy.”
Crosswhite giơ bàn tay lên. “Tôi kết hôn rồi.”
“Thế à? Anh ta có bạn không?”
Battles nhấc cốc cà phê của mình lên và đi về phía một cái bàn. Đi được nửa đường, cô dừng lại để xem một cuốn từ điển đang mở trên một cái kệ gần cửa. Cô lấy ngón tay dò qua một lượt các từ ngữ. “Hấp dẫn.” Cô đọc to. “Khơi gợi sự tò mò hoặc hứng thú của người khác. Quyến rũ.” Cô nhìn Crosswhite. “Nó có tài tiên tri đấy.”
Họ mang cà phê của mình tới một cái bàn biệt lập gần một bức tường gạch. Phía trên đầu họ, một tác phẩm điêu khắc màu trắng, có vẻ là những đám mây, treo trên cái trần chưa được hoàn thiện với xà nhà, hệ thống ống dẫn và dây cáp. Tracy cởi áo khoác và hai người phụ nữ ngồi xuống những chiếc ghế đối diện nhau qua bàn. “Cô vừa đi đạp xe để rèn luyện sức khỏe à?”
“Không.” Battles nói. “Xe đạp là phương tiện trung chuyển của tôi. Tôi đi tàu ở đầu phía bắc thành phố, đi ô tô trong thành phố này thì đắt đỏ lắm.”
“Cô bắt tàu đi đâu vậy?”
“Chẳng có gì đặc biệt. Tôi đi học một môn gọi là Krav Maga. Chị đã bao giờ nghe về nó chưa?”
“Nghe chi tiết cụ thể thì chưa. Nó có phải là môn võ của lính đặc công Israel không?”
Battles giải thích về sự phát triển của môn võ này và Tracy có thể cảm nhận được niềm hãnh diện của Battles trong lời nói của cô ấy.
“Nghe có vẻ thiết thực nhỉ?” Tracy nói.
“Về mặt lý thuyết thôi.” Battles nhấm nháp cốc cà phê. “Trên thực tế, nếu thực hiện đúng cách, chị có thể làm cho đối phương bị tàn tật đấy.” Battles đặt cốc của mình xuống bàn và ngồi ngả người ra sau. “Chị muốn gặp tôi. Vậy chị muốn nói gì thì nói đi.”
“Tôi không nghĩ cô đã lấy cuốn băng.”
Battles nở nụ cười mỉm. “Thật không may, chị nằm trong nhóm thiểu số.”
“Việc lấy cuốn băng chẳng đem lại lợi ích gì cho cô.”
“Thân chủ của tôi được tự do và tôi là người chiến thắng vẻ vang.”
“Và cô sẽ bị truy tố.”
“Có thể thôi.”
“Ừ thì có thể.” Tracy đồng ý. “Tôi thấy đó không phải là một sự đánh đổi cân xứng - ít nhất cũng không có lợi cho cô.”
“Tôi cũng không biết nữa. Tôi có thể sẽ bị tước bằng luật sư, bị sa thải, bị mất lương - nghĩa là tôi có thể mất gần như tất cả những gì khiến tôi gia nhập Hải quân.”
“Và cô quá thông minh nên sẽ không làm một việc ngu ngốc như thế.”
“Chị chắc chắn đây không phải một cuộc hẹn hò đấy chứ? Chị dễ thương hơn nhiều so với vài gã đàn ông tôi từng đi chơi cùng.”
Tracy mỉm cười. Cô mừng khi thấy Battles chưa mất đi sự sắc sảo. “Vậy, cô sẽ nói chuyện với tôi chứ?”
“Tôi không thể nói về thân chủ của mình. Hay đúng ra là thân chủ cũ.”
“Tôi hiểu.”
“Để tôi hỏi chị một câu trước đã.” Battles ngồi thẳng dậy. “Các chị không có quyền xét xử và tôi cảm nhận được rằng Sở Cảnh sát Seattle sẽ không nóng lòng lấy lại một vụ án chắc chắn thua cuộc và có khả năng kích động công chúng.”
“Những gì cô nói có thể đúng.”
“Vậy tại sao chị lại đến đây? Tại sao chị lại quan tâm?”
Tracy suy nghĩ một lát về câu hỏi này. Cô đã lái xe tới nhà Shaniqua Miller sau cuộc họp với Cerrabone, Dunleavy và Clarridge. Miller đã tỏ ra lịch sự, nhưng rõ ràng cô ta không có hứng thú bàn bạc chi tiết về vấn đề này với Tracy, cô ta coi Tracy là một phần của hệ thống tư pháp - thứ mà bây giờ cô ta chẳng còn tin tưởng chút nào hết - và do đó là một phần của rắc rối.
“Tôi quan tâm đến cậu bé đó.” Tracy nói. “Tôi quan tâm đến một bà mẹ có thể sẽ phải sống cả quãng đời còn lại mà không có bất cứ câu trả lời nào.”
Battles nhấm nháp tách cà phê. Ánh mắt cô hướng tới những ô cửa sổ gắn kính dày, nhìn ra ánh sáng ban ngày đang tắt dần và ánh đèn đường soi chiếu lên những thân cây và tầng lá trên vỉa hè. Một chiếc tàu điện kiểu cổ rầm rầm chạy qua tiệm cà phê, vừa đi vừa kêu leng keng. Rồi cô lại nhìn Tracy. “Bảo vệ cho những người khốn khổ không phải lúc nào cũng là công việc được ưa chuộng nhất.” Cô nói. Thế rồi, cô dịu giọng hơn: “Chị hỏi gì thì hỏi đi.”
Tracy tập trung suy nghĩ, mặc dù cô đã biết cô sẽ bắt đầu từ đâu nếu Battles ưng thuận. Cô biết một chút về những gì đã xảy ra nhờ việc có mặt ở phiên tiền thẩm và cuộc họp của cô chiều hôm đó. Cô muốn xem Battles phản ứng thế nào với việc bị buộc tội. “Cô đã xem xét bằng chứng vào buổi tối trước khi diễn ra phiên tiền thẩm?”
“Lúc ấy tôi đang xem lại vài chứng cứ, nhưng không phải là cuốn băng. Tôi đã không lấy nó ra. Thực ra, tôi thậm chí còn không biết lúc bấy giờ nó có ở trong hộp hay không. Nhưng tôi chắc chắn rằng tôi đã không xem nó. Tại sao tôi phải xem chứ? Tôi đã xem nó rồi. Tôi sẽ không nói trong cuốn băng có gì hay tôi nghĩ gì về nó, nhưng tôi biết rõ dù có xem lại nó lần nữa thì nội dung cuốn băng cũng sẽ không thay đổi. Hơn nữa, tôi không có ti vi để mở cuốn băng.”
Tracy thấy điều đó cũng có lý. “Cũng đúng. Cô đã làm gì với hộp bằng chứng sau khi xong việc với nó?”
“Tôi đã mang trả nó lại cho thư ký tòa án và để nó trên ghế của anh ta. Thường thì anh ta phải ký nhận, nhưng anh ta không phải quân nhân nên lúc đó đã về từ lâu rồi. Trước đây tôi vẫn làm thế suốt. Chúng tôi tin tưởng nhau.” Cô giơ các ngón tay lên theo kiểu chào của đội Hướng đạo sinh nữ.
“Văn phòng của anh ta có ở cùng tòa nhà đó không?”
“Có. Anh ta ở trên tầng hai, đối diện phòng xử án.”
“Văn phòng của Cho ở đâu?”
Battles mỉm cười. “Tầng hai, trên cùng một hành lang với phòng của thư ký tòa án.”
“Cô trả cái hộp vào lúc mấy giờ?”
“Sau khi Cho rời khỏi văn phòng của tôi, nếu đó là điều chị muốn biết, trong khoảng từ mười giờ bốn mươi lăm đến mười một giờ tối.”
“Cho đã tới văn phòng của cô sao?”
“Trên đường anh ta ra cửa chính để về nhà.”
“Và lúc đó cô vẫn giữ cái hộp bằng chứng?”
“Vâng.”
“Cô có thấy anh ta rời đi không?”
“Rời khỏi tòa nhà ư? Chỉ trên cuốn băng an ninh thôi.”
“Tòa nhà của cô có camera an ninh à?”
“Bên trong cửa, được lắp ở vị trí quan sát được tiền sảnh.”
Tracy đã không nghĩ đến vấn đề an ninh của tòa nhà. Cô thầm ghi nhớ trong đầu là phải lấy đoạn video đó. “Cô vào tòa nhà bằng cách nào? Cánh cửa có được gắn hệ thống an ninh không?”
“Mọi lúc. Chị phải bấm bốn chữ số cuối cùng trong số an sinh xã hội của chị. Nếu hệ thống nhận ra các ký tự đó, chị sẽ được vào. Nếu không, chị sẽ không thể vào được.”
“Dữ liệu đó được lưu trữ ở đâu? Dữ liệu về các số an sinh xã hội được chấp nhận ấy?”
“Có một văn phòng an ninh trên tầng một, trên cùng hành lang với văn phòng của tôi. Tôi cho là họ giữ nó. Họ cũng lưu giữ tất cả các video an ninh.”
“Trong bao lâu?”
“Tôi không biết. Chưa từng có vấn đề gì khiến chúng tôi phải hỏi đến điều đó cả.”
“Đó có phải là nơi cất giữ cuốn băng an ninh ghi lại hình ảnh của tối hôm đó không?”
“Vâng, nhưng OIC của tôi có một bản sao.”
“OIC của cô?”
“Sĩ quan phụ trách. Rebecca Stanley.”
“Và cô đã xem cuốn băng đó.”
“Vâng.”
Tracy tìm kiếm một hành động vô thức có thể tiết lộ điều gì đó từ Battles trong lúc cô ấy nói chuyện. “Tối hôm đó cô rời đi lúc mấy giờ?”
“Rời khỏi tòa nhà ư? Ngay sau Cho. Chuyến phà cuối cùng khởi hành lúc mười một giờ bốn mươi. Tôi đạp xe từ văn phòng tới bến phà Bremerton mất chừng mười phút. Vì vậy tôi đem trả bằng chứng cho văn phòng của thư ký tòa án và rời khỏi tòa nhà ngay sau đó.”
“Đáng lẽ cô nên ngủ lại ở văn phòng.”
Battles giơ bàn tay trái trống trơn lên. “Tôi đã nhắc đến chuyện tôi còn độc thân và không có ý định chết trong cô độc chưa?”
“Có ai nhìn thấy cô trả cái hộp lại không?”
“Lúc đó trong tòa nhà chẳng còn ai cả, ít nhất là theo những gì tôi biết.”
“Được rồi.” Tracy nói. “Và theo như cô biết, không có ai vào trong tòa nhà sau khi cô ra về?”
“Chỉ có nhân viên vệ sinh thôi. Anh ta có xuất hiện trên cuốn băng.”
“Công ty vệ sinh ấy có thuộc quân đội không?”
“Không.”
“Đã có ai nói chuyện với anh ta chưa?”
“Tôi cho là NCIS đã nói chuyện với anh ta. Họ đang nói chuyện với tất cả mọi người, kể cả tôi.”
Tracy thầm ghi nhớ trong đầu là phải xác định xem liệu NCIS có đánh máy lại các cuộc thẩm vấn của họ không.
Battles nói: “Vậy là có vẻ ai đó đã lấy cuốn băng trước khi tôi mượn cái hộp, hoặc đến vào sáng sớm hôm sau, nhìn thấy nó trên ghế của thư ký tòa án và lấy nó.”
“Cho chăng?”
“Tôi không biết, nhưng nếu tôi chẳng được lợi lộc gì nếu lấy cuốn băng thì anh ta càng chẳng được lợi lộc gì. Nếu không có cuốn băng, anh ta sẽ gặp bất lợi.”
“Và việc lấy cuốn băng trước khi cô mượn cái hộp sẽ rất mạo hiểm.”
“Ý chị là bởi vì tôi có thể nhận ra nó bị mất? OIC của tôi cũng nói như vậy. Điều đó có vẻ có lý, nhưng như tôi đã nói, chẳng có ai vào hay ra khỏi tòa nhà sau tôi ngoại trừ các nhân viên vệ sinh.”
“Ai có thể vào các văn phòng trong tòa nhà của cơ quan cô?” Tracy hỏi.
“Ngoài các nhân viên vệ sinh?” Battles nhún vai. “Bất cứ ai có số an sinh xã hội được chấp nhận.”
“Khoảng bao nhiêu người?”
Battles giễu nhại. “Nhiều lắm.” Cô trở nên trầm ngâm hơn. “Lấy danh sách đó cũng không phải một ý tồi, nhưng chẳng phải chị đang lờ đi câu hỏi mà chị đã hỏi tôi sao?”
“Tại sao người đó lại làm thế?”
Battles gật đầu.
Tracy không biết, nhưng dù sao đi nữa, cô sẽ lấy bằng được danh sách các mã số đã nhập vào hệ thống an ninh của cánh cửa trong buổi tối hôm đó.
Jeanine Welch dẫn Del và Faz đi dọc theo hàng hiên tới cánh cổng bị gãy, hai cánh tay cô ta khoanh chặt trước ngực để xua đi hơi lạnh. Hoàng hôn đã nhường chỗ cho màn đêm. Những ngọn đèn đường thưa thớt hắt những đốm sáng màu vàng nhạt lên vỉa hè, và một mớ dây cáp cùng dây dẫn chăng giữa các cột điện thoại và các ngôi nhà trên phố. Đâu đó dọc theo con đường, có tiếng hai cậu bé đang reo hò, có lẽ là đang vội vã kết thúc một trò chơi trên khoảnh cỏ nhỏ nhà chúng trước khi bóng tối bao quanh chúng.
Jeanine Welch dừng lại ở cổng, hoặc đúng hơn là chỗ mà đáng lẽ cánh cổng phải ở đó. “Nó đã đá cánh cổng tung khỏi bản lề khi nó bỏ đi vài đêm trước.” Nghe giọng cô ta có vẻ mệt mỏi. “Nó muốn tiền. Nó nói nó muốn mua một cái ampli mới, nhưng tôi biết tốt hơn hết là không nên cho Jack tiền.” Cô ta ngoảnh mặt về phía ngôi nhà. “Tôi từng có nhiều đồ đạc hơn thế này, nhưng bất cứ thứ gì có giá trị đều bị nó lấy cắp và bán đi. Nó bán món đồ trang sức mà tôi được thừa kế từ mẹ tôi, lò nướng bánh, ti vi, xe đạp của em gái nó. Nó cứ chối, nhưng tôi biết nó là thủ phạm.”
Del thò tay vào trong túi và lấy ra một hộp đựng danh thiếp. Anh đưa một tấm danh thiếp cho Jeanine Welch. “Allie là cháu gái tôi.” Anh nói. “Đó là lý do tôi có mặt ở đám tang của con bé.”
Bàn tay cô ta dừng lại, như thể tấm danh thiếp có thể cắn cô ta. “Tôi rất tiếc.” Cô ta nói.
“Hãy gọi điện cho tôi nếu chị có bất cứ điều gì cần tôi giúp đỡ.”
Cô ta gật đầu và ngập ngừng nhận lấy tấm danh thiêp.
Del nghe thấy tiếng nhạc xập xình vọng đến. Một chiếc Honda Accord đời mới rẽ vào góc phố với tốc độ cao, suýt nữa đâm phải một trong những chiếc xe đang đỗ, và dừng khựng lại ở cuối đường dẫn vào nhà.
“Jack đấy.” Jeanine Welch nói, nghe giọng hơi do dự.
Vừa nhìn thấy Faz và Del đang nói chuyện với mẹ mình, Jack Welch vội vàng cho xe lùi lại.
“Cậu ta đang bỏ chạy.” Del nói, chạy tới cửa bên ghế cạnh ghế lái của chiếc Prius. Faz nhanh chóng đi vòng quanh mui xe tới cửa ghế lái.
Chiếc Honda giật khùng khục và chết máy. Jack Welch khởi động lại động cơ, cố gắng vào đúng số, và chiếc xe chồm về đằng trước.
Faz khởi động chiếc Prius và vào số. Họ sẽ không phá vỡ bất cứ kỷ lục nào về tốc độ trên mặt đất, nhưng đó là một điều tốt. Họ sẽ không tham gia vào một cuộc rượt đuổi tốc độ cao cùng Welch, nếu đó là mục đích của cậu ta. Các quy tắc nghiêm cấm điều đó, và họ không muốn nhìn thấy ai bị thương một cách không cần thiết.
Chiếc Accord rẽ phải ở biển báo DỪNG mà không giảm tốc độ.
Faz nhấn phanh, giảm tốc ở góc đường để đảm bảo không có cái xe nào đang đi tới, rồi mới rẽ theo Welch.
“Rẽ trái ở góc đường.” Del nói. “Thằng nhóc lại chạy thẳng qua một tấm biển báo DỪNG nữa rồi.”
“Xem thử xem chúng ta có thể nhờ trợ giúp trước khi thằng nhóc giết chết ai đó không. Đèn hậu ở bên phải xe nó bị hỏng rồi kìa.” Faz nói.
Del nhấc micro lên và thông báo vào bộ đàm về nhãn hiệu, kiểu mẫu, biển số của chiếc Honda, và vị trí hiện tại cùng hướng đi của họ. Nếu Welch đi vào đường dẫn để lên đường cao tốc, họ sẽ thông báo cho cảnh sát tuần tra đường cao tốc và chuyển vụ rượt đuổi sang cho bộ phận ấy.
Những chiếc xe đang đỗ vun vút lùi lại qua cửa sổ của họ. Faz liếc nhìn xuống táp lô - tám mươi kilomet một giờ trên một con đường trong khu dân cư. Đôi mắt ông dáo dác để ý xem có chiếc xe nào rời khỏi vệ đường hoặc lùi ra khỏi lối dẫn vào nhà hay có đứa trẻ nào đang đi trên vỉa hè không.
“Có nhờ được ai trợ giúp không?” Ông hỏi Del.
Del tiếp tục cung cấp vị trí của họ trên bộ đàm. “Có một đơn vị tuần tra ở gần đây.” Anh nói với Faz.
“Tôi sẽ giảm tốc và rút lui. Có lẽ thằng nhóc cũng sẽ làm vậy. Nó lại đang rẽ kìa.” Faz nói.
Del thông báo điều đó cho đơn vị tuần tra kia.
Ở đằng trước, điều Faz lo sợ đột ngột xảy ra. Khi chiếc Honda tăng tốc, một chiếc xe tải màu đỏ nhanh chóng lùi ra khỏi một đường dẫn vào nhà.
“Khoan đã.” Faz nói.
Chiếc đèn hậu duy nhất còn hoạt động của chiếc Honda sáng lên, phanh xe rít lên ken két. Mui xe chúi xuống và đâm vào đuôi xe tải đánh rầm một tiếng, nghe rõ tiếng kim loại va vào nhau bẹp rúm và tiếng kính vỡ loảng xoảng.
“Gọi xe cứu thương đi.” Faz nói, nhưng cánh cửa bên ghế lái của chiếc Honda bị đẩy ra và Welch lồm cồm bò ra ngoài. “Thằng nhóc này trông như một con mèo chết tiệt vậy.”
“Để tôi lo.” Del mở cánh cửa xe của anh, đuổi theo cậu ta.
Welch cuống quýt chạy hết tốc lực qua vài bãi cỏ trước nhà dân, rồi rẽ vào một đường dẫn vào nhà. Del sẽ không bắt được cậu ta; thời kỳ sung mãn nhất của anh đã lùi sâu vào quá khứ rồi, nhưng sau khi giảm bảy cân, anh có cảm giác mình đủ sức bám đuổi cậu ta. Welch trèo lên một hàng rào dọc theo sườn của một ngôi nhà và gấp gáp leo qua nó. Khi Del đang tìm then cài cổng, một ánh đèn pha rọi sáng góc ngôi nhà, một con chó to cất tiếng sủa ầm ĩ và gầm gừ. Hai bàn tay lại xuất hiện trên đỉnh hàng rào, ngay sau đó là cái đầu và vai của Jack Welch nhô lên. Trông cậu ta thật hoảng hốt. Cậu ta vắt một chân qua hàng rào và thả phịch người xuống lối đi trải cỏ và bê tông. Gấu quần của cậu ta đã bị rách. Del tì một bên đầu gối lên lưng cậu ta và bập cái còng vào hai cổ tay cậu ta. Một người đàn ông cầm gậy bóng chày đi ra khỏi cổng. “SPD.” Del nói, lấy phù hiệu ra khỏi túi và giơ lên cho ông ta thấy.
Rồi anh quay lại phía Welch. “Cậu có quyền giữ im lặng.”