Sau cuộc trò chuyện với Battles, Tracy báo cáo qua với Owens rồi rời khỏi tòa nhà, nhưng cô không về Seattle ngay. Battles không biết tên công ty cung cấp dịch vụ vệ sinh, nhưng cô có thể miêu tả đồng phục và chiếc xe tải mà cô đã nhìn thấy trong bãi đỗ xe của DSO. Cô nói rằng cả hai thứ đó đều gắn logo một người đàn ông vẽ theo kiểu hoạt hình mặc bộ đồ màu trắng và đội mũ lưỡi trai, đoạn dưới hai chân anh ta xoay tròn như phần bàn chải ở đầu hút của một cái máy hút bụi, và bộ đồng phục của anh ta được in những chữ cái viết tắt IJS. Sau mười phút tra cứu trên laptop, Tracy tìm ra công ty Dịch vụ Vệ sinh Công nghiệp trên đường West G, gần căn cứ Hải quân. Cô gọi vài cú điện thoại, nói chuyện với người chủ công ty và hẹn gặp nhân viên vệ sinh đã làm việc trong tòa nhà DSO vào buổi tối trước khi diễn ra phiên tiền thẩm theo Điều 32.
Tracy rẽ vào ô đỗ xe trước mặt tòa nhà gạch một tầng với một bãi đỗ xe có vài chiếc xe tải màu trắng in chữ IJS trên các ô cửa. Nhiệt độ vẫn hơi lành lạnh nhưng lúc này trời đã tạnh ráo. Một con mòng biển khệnh khạng đi dọc theo vỉa hè, kêu lên quang quác như thể phàn nàn khi Tracy tiến về phía cửa trước của tòa nhà. Cô bước vào một tiền sảnh kiểu cổ ốp ván gỗ, với những bức ảnh đen trắng cùng những ngọn đèn và đồ nội thất từ những năm 1950. Tòa nhà thậm chí còn có một mùi cũ kĩ, mốc meo.
Tracy có một cuộc hẹn với Gary Buchman, chủ tịch của IJS. Cô giới thiệu về mình với nhân viên lễ tân, và Buchman bước vào chào cô. Trông ông ta cũng xứng hợp với cách bài trí nơi đây, với mái tóc muối tiêu chải theo kiểu pompadour cách tân. Tracy ước chừng Buchman khoảng sáu mươi lăm đến sáu mươi chín tuổi. Chiếc áo polo màu trắng của ông ta hơi nhô lên ở phần bụng và trên ngực trái có chữ IJS. Khi ông ta bắt tay Tracy, cô nhận thấy trên tay ông ta đeo vài cái nhẫn. Trên cổ tay ông ta đeo một cái vòng tay y tế, loại mà Tracy thấy những người bị bệnh tiểu đường thường đeo.
“Điều tra viên Crosswhite?” Ông ta hỏi, vẻ mặt hay giọng nói đều chẳng tỏ vẻ gì là căng thẳng khi tiếp đón một điều tra viên, dù cô nhận thấy bàn tay ông ta hơi run. Buchman mời cô cà phê nhưng cô từ chối, rồi ông ta dẫn cô đi dọc theo một hành lang dài và hẹp, bừa bộn nào tủ hồ sơ và các chồng giấy tờ tài liệu. Văn phòng của Buchman nằm ở phía cuối của tòa nhà, nó cũng được ốp ván gỗ sẫm màu và trang bị nội thất kiểu cổ. Trên một bức tường có bức chân dung đen trắng của một người đàn ông với mái tóc húi cua, đeo kính gọng đen, trông rất giống Buchman. Một ô cửa sổ treo mành mành trông ra một trạm xăng và cửa hàng rửa xe bên kia đường.
“Cảm ơn ông vì đã đồng ý gặp tôi khi được báo trước gấp gáp như vậy.” Tracy ngồi trên một cái ghế bọc vải màu bơ đối diện với cái bàn làm việc lớn của Buchman, trên bàn có ba màn hình máy vi tính.
“Không có gì.” Buchman ngồi xuống một cái ghế da.
“Đó là cha của ông à?” Tracy chỉ vào bức chân dung, hỏi.
“Đúng vậy.” Buchman đáp.
“Ông đã làm trong ngành này lâu rồi nhỉ.” Cô nói.
“Từ năm 1956.” Ông ta nói. “Ông tôi gây dựng công ty này và cha tôi mở rộng nó bằng hợp đồng với Hải quân.” Buchman đổi chủ đề. “Tôi đã gọi điện cho nhân viên vệ sinh làm việc trong ca mà cô hỏi đến. Chắc là anh ta đến đây ngay thôi.”
“Tôi rất cảm kích vì điều đó.” Tracy nói. “Tôi hy vọng đã không dựng anh ta dậy.”
“Tôi chắc chắn là không sao đâu.”
“Ông ký hợp đồng với Hải quân bao lâu rồi?”
“Gần bốn mươi lăm năm. Đó là một hợp đồng lớn đối với chúng tôi, chắc cô cũng hình dung ra được. Trước kia chúng tôi chưa bao giờ gặp phải vấn đề gì.”
“Ông là một nhà thầu dân sự à?”
Buchman gật đầu. “Căn cứ Hải quân là khách hàng lớn nhất trong bang. Tôi không rõ cô có biết điều đó không.”
“Tôi không biết.” Cô nói.
Buchman có vẻ sôi nổi hơn. “Căn cứ thuê hơn mười nghìn nhà thầu và chừng đó nhân viên là thường dân làm việc trong Bộ Quốc phòng.”
“Thật ấn tượng.”
“Như tôi đã nói, chúng tôi chưa từng gặp vấn đề gì. Chúng tôi là đối tác lâu năm nhất của họ.”
“Tôi sẽ không gây ra bất cứ vấn đề rắc rối nào cho ông đâu.” Tracy trấn an ông ta. “Như tôi đã nói trên điện thoại, tôi vừa mới gặp các điều tra viên ở Bremerton và nghĩ rằng tôi sẽ ghé qua chỗ ông trước khi bắt chuyến phà trở về Seattle. Tôi chỉ đang tìm hiểu vài việc thôi.”
“Có phải là vì cuốn băng video bị mất không?”
“Đúng vậy.” Cô nói, dù cô không hề nhắc đến cuốn băng trong cuộc trò chuyện ngắn gọn với ông ta trên điện thoại lúc sắp xếp cuộc gặp này. “Đây không phải lần đầu tiên ông nghe nói về nó?”
“Đúng vậy.” Buchman nói. “NCIS đã gọi điện cho tôi khi chuyện này xảy ra. Họ đã cử một điều tra viên đến để lấy lời khai của tôi và các nhân viên vệ sinh.”
Tracy thầm ghi nhớ là phải lấy bản sao của những lời khai ấy. “Nhân viên vệ sinh bị lấy lời khai là ai?”
“Nhân viên vệ sinh tối hôm đó là Al Tulowitsky. Al đã làm việc với tôi gần mười lăm năm.” Ông ta nói, như thể đang bênh vực cho người đàn ông ấy. “Mười năm trở lại đây, anh ta làm việc ở căn cứ. Chúng tôi chưa bao giờ bị phàn nàn. Thực tế, đó là một trong những lý do tôi phân cho anh ta làm việc ở đó. Tất cả các nhân viên của chúng tôi đều bị Hải quân xem xét nghiêm ngặt. Al là một người chính trực.”
Một tiếng gõ cửa vang lên khiến họ quay lại nhìn. Đứng ở cửa là một người đàn ông cao gầy trông có vẻ ngập ngừng.
“Đúng lúc quá.” Buchman nói, đứng dậy từ sau bàn mình.
Tulowitsky chừng bốn mươi lăm tuổi, mái tóc anh ta bị bạc sớm. Anh ta chỉ vu vơ ra đằng sau. “Debra bảo tôi cứ vào.”
Buchman đi ra cửa. “Al, đây là điều tra viên Crosswhite của Sở Cảnh sát Seattle.” Tracy bắt tay anh ta. Tulowitsky đeo vài cái vòng tay bằng bạc ròng và có nước da đỏ au giống như một người sống ở Arizona hoặc có lẽ thường xuyên đến các tiệm nhuộm da.
“Điều tra viên Crosswhite có vài câu hỏi về cuốn băng bị mất ở DSO.”
“NCIS đã lấy lời khai của tôi.” Tulowitsky có một hình xăm trên cánh tay phải: một trái tim màu đỏ với hoa văn trang trí hình xoáy ốc và dòng chữ Bạn được yêu thương.
“Tôi chưa được xem bản khai ấy.” Tracy nói. “Cảm ơn anh vì đã đến đây.” Cô chỉ vào hình xăm trái tim màu đỏ và phỏng đoán. “Anh từng nhập ngũ à?”
“Vâng.” Tulowitsky nói.
“Hải quân chăng?”
Tulowitsky nở nụ cười mỉm. “Họ chở tôi đi.” Anh ta nói.
“Tôi là lính thủy đánh bộ.”
“Nhưng tôi đoán anh không còn trong quân ngũ nữa.”
“Một lần làm lính thủy đánh bộ thì cả đời vẫn là lính thủy đánh bộ.” Anh ta nói.
“Tôi từng nghe thấy câu nói đó. Vậy anh vừa nói rằng NCIS đã lấy lời khai của anh?”
“Họ gọi điện cho tôi ngay ngày hôm sau, nói rằng có một cuốn băng bị mất và họ muốn thẩm vấn nhân viên vệ sinh đã làm việc ở tòa nhà DSO vào đêm hôm đó.” Buchman nói.
“Tôi chưa từng thấy cuốn băng nào.” Tulowitsky nói. “Và tôi chẳng động chạm vào bất cứ thứ gì ở trên các bàn làm việc, không bao giờ.”
“Tôi hiểu.” Tracy nói. “Tôi chỉ đang muốn hiểu rõ hơn về quá trình lau dọn tòa nhà của anh.”
Buchman đề nghị tất cả bọn họ cùng ngồi xuống. Tulowitsky chọn cái ghế bên cạnh Tracy, kéo và xoay nó trước khi ngồi xuống. Trên người anh ta ám mùi khói thuốc lá mới hút và có những biểu hiện rõ rệt của một người nghiện thuốc lá - đôi môi nhăn nhúm, hàm răng vàng khè, giống như các móng tay của bàn tay phải. Có lẽ anh ta đã hút một điếu thuốc lá trong xe hoặc bãi đỗ xe ngay trước khi vào đây.
“Bà muốn tôi kể cho bà nghe quá trình lau dọn tòa nhà của tôi?”
“Mong anh vui lòng.” Tracy nói.
“Được thôi. Đầu tiên, tôi đổ các thùng rác. Sau đó, tôi lau các nhà vệ sinh, hút bụi và xếp đặt lại mọi thứ gọn gàng. Nhưng tôi không động vào bất cứ thứ gì trên bàn làm việc.” Tulowitsky lại nói.
Tracy cần anh ta nói chậm hơn và cụ thể hơn. Cô lấy ra một cuốn sổ ghi chép. “Vậy là anh đã đi vào các văn phòng? Anh đã lau dọn bên trong các văn phòng?”
“Vâng, thưa bà.” Tulowitsky nói, dù họ có thể xấp xỉ tuổi nhau. Anh ta có thói quen nhắm mắt lại và ngửa đầu ra sau, như thể tỏ ra thách thức, tuy nhiên đó có vẻ chỉ là một cái tật mà thôi. “Nhưng chúng tôi không động chạm vào bất cứ thứ gì trên các bàn làm việc. Một mảnh giấy trong mắt chúng ta có thể là một cái tên hoặc một số điện thoại quan trọng đối với những người làm việc ở đó.”
Buchman gật đầu đồng tình với anh ta, và Tracy có cảm giác Tulowitsky đã thuật lại chính xác một tôn chỉ của công ty.
“Anh có nhớ rằng tối hôm đó anh đã lau dọn văn phòng của Đại úy Battles không?”
“Có, nhưng chẳng qua là vì tôi đã được hỏi về chuyện đó. Tôi lau dọn tất cả các văn phòng trên tầng một.”
“Anh nhớ là không nhìn thấy cái hộp nào trên bàn cô ấy?”
“Vâng. Không có cái hộp nào cả.”
“Và trên sàn nhà không có gì?”
“Tôi không nhìn thấy gì trên sàn. Như tôi đã nói, NCIS đã gọi điện vào ngày hôm sau. Những gì tôi kể với họ có thể là chính xác nhất. Nếu nhìn thấy một cuốn băng thì tôi ắt hẳn sẽ nhớ. Nếu trên sàn nhà mà có một cuốn băng thì hẳn là tôi sẽ nhặt nó lên và đặt trên ghế của cô ấy để tôi có thể hút bụi, nhưng không có chuyện đó. Tôi chưa từng nhìn thấy cuốn băng nào.”
“Anh có thể nói cho tôi biết quy trình lau dọn của anh trong tòa nhà đó không?”
Tulowitsky nhún vai. “Tòa nhà DSO ư? Vâng.”
Anh ta lại liếc nhìn Buchman và điều đó khiến Tracy ước gì Buchman không có mặt ở đây, nhưng cô biết nếu cô đề nghị Buchman rời đi thì sẽ càng khiến mọi người không thoải mái.
“Đó là tòa nhà 433.” Tulowitsky nói. “Đó là tòa nhà đầu tiên mà chúng tôi lau dọn. Đó là tòa nhà đầu tiên ở bên trong tính từ Cổng Charleston.”
“Chỉ có mình anh hay còn có những nhân viên vệ sinh khác lau dọn tòa nhà đó?”
“Chỉ có hai chúng tôi lau dọn tòa nhà đó, tôi và Darren, nhưng tôi phụ trách lau dọn tầng một.”
“Darren lau dọn các tầng trên à?”
“Đúng vậy. Trên đó ít văn phòng hơn.”
“NCIS cũng đã lấy lời khai của anh ta.” Buchman nói. “Sáng nay tôi đã cố gọi điện cho anh ta nhưng không liên lạc được.”
“Theo tôi biết, anh phải nhập bốn ký tự cuối cùng trong số an sinh xã hội của anh để vào được tòa nhà đó.” Tracy nói.
“Cửa bị khóa; bà không thể vào tòa nhà nêu không có số an sinh xã hội.” Tulowitsky xác nhận. “Và số an sinh xã hội của bà, hay đúng ra là bốn ký tự cuối cùng của nó, phải nằm trong những số được chấp thuận.”
Buchman ngồi thẳng dậy. “Việc đó được vi tính hóa.” Ông ta nói. “Có một văn phòng an ninh lưu giữ các số đó. Như tôi đã nói, chúng tôi chưa bao giờ gặp vấn đề gì.”
“Chưa từng có ai đánh cắp số an sinh xã hội của ai sao?” Tracy hỏi.
“Với các nhân viên của chúng tôi thì chưa.” Buchman nói, rồi nói thêm. “Ít ra là theo những gì tôi biết.”
Tracy hỏi Tulowitsky bốn ký tự cuối cùng trong số an sinh xã hội của anh ta rồi nói: “Được rồi, giờ thì anh nói cho tôi biết quy trình lau dọn bên trong tòa nhà của anh nhé.”
Tulowitsky cau mày như thể ám chỉ rằng anh ta vừa mới nói rồi. “Như tôi đã nói, điều đầu tiên tôi làm là đổ tất cả các thùng rác trong các văn phòng.”
“Tất cả mọi thứ đều phải cắt vụn.” Buchman nói xen vào. “Một vài quân nhân Hải quân tự làm việc đó. Và rác thải được đem tới một địa điểm được chỉ định ở căn cứ để tiêu hủy.”
Tracy lại nhìn Tulowitsky. “Vậy là anh đổ rác đầu tiên. Sau đó thì anh làm gì?”
“Tôi mang rác ra xe tải rồi lấy dụng cụ cọ rửa và máy hút bụi. Tôi lau dọn các nhà vệ sinh ở tầng một, và sắp xếp gọn gàng các văn phòng. Tôi hút bụi rồi rời khỏi tòa nhà.” Anh ta nhún vai.
“Mất bao nhiêu thời gian?”
“Tất cả các việc đó ư?” Anh ta nhìn lên trần. “Toàn bộ quá trình đó mất khoảng bốn mươi lăm phút đến một tiếng - thi thoảng lâu hơn chút, nếu chúng tôi phải hút bụi ở thảm, nhưng các văn phòng chẳng bao giờ bẩn đến thế, vì vậy công việc cũng không vất vả lắm.”
“Vậy anh đến từ lúc nào?”
“Tôi thường đến vào khoảng mười một giờ, và thường xong việc trong tòa nhà đó vào khoảng nửa đêm.”
“Anh có nhớ là mình nhìn thấy ai khác trong tòa nhà vào đêm hôm đó không?” Tracy nhìn vào những ghi chép của mình. “Đêm Mười tám tháng Ba.”
Tulowitsky lắc đầu. “Tôi đã nói với NCIS điều này. Nếu có ai ở đó, tôi sẽ nhớ là đã nhìn thấy họ.”
“Và khi anh rời khỏi tòa nhà để đổ rác, anh có khóa cửa không?”
“Cửa khóa tự động. Tôi cứ thế đi ra thôi. Cánh cửa sẽ tự đóng lại sau lưng. Đơn giản vậy đấy.” Tulowitsky nói.
Có lẽ, Tracy nghĩ, chỉ có điều, trong vụ này có vẻ như chẳng có gì là đơn giản cả.