Sáng sớm ngày thứ Ba, trước khi những bánh xe công lý bắt đầu nhả ra các phán quyết dân sự và các án phạt, Delmo Castigliano bước đi dọc theo các hành lang của Tòa án quận King. Các sàn nhà lát đá cẩm thạch sáng loáng vẫn còn thoang thoảng mùi nước lau sàn hương chanh, nhưng chúng vẫn chưa in nhiều dấu chân của các luật sư, cán bộ tòa án hoặc các công dân có việc phải đến nơi này.
Del thấy tòa án là bộ mặt đại diện đầy thú vị của một thành phố và dân chúng ở đó. Bên trong các căn phòng của nó, người ta tuyên thệ những lời thề hôn nhân, chứng thực các bản di chúc sau khi một số kiếp đã tận, sang tên đổi chủ đất đai và nhà cửa. Người ta kiếm được hoặc mất đi những món tiền lớn trong các vụ kiện dân sự. Các sinh mạng bị kết án trong những vụ giết người. Các gia đình bị xáo trộn đến không thể vãn hồi. Tòa nhà này chứa đựng quá nhiều niềm vui nhưng những nỗi buồn thì cũng nhiều chẳng kém.
Và bây giờ Del có công chuyện ở đây.
Anh đã mất đi cháu gái. Em gái anh đã mất đi con gái. Có tranh biện thế nào hay kháng cáo ra sao cũng không thể thay đổi sự thật đó. Người ta không thể thay đổi những gì đã xảy ra. Allie sẽ không trở lại.
Nhưng anh có thể đưa những kẻ chịu trách nhiệm cho cái chết của Allie ra trước công lý. Phải, anh sẽ làm vậy.
Anh tới đây để nhờ vả một người mà không cho sếp của anh là Johnny Nolasco hay biết. Ông ta đã tỏ ra miễn cưỡng khi cho phép Faz truy tìm kẻ bán ma túy cho cháu gái Del. Del đã đồng ý lùi về phía sau trong cuộc điều tra đó, nhưng anh sẽ không khoanh tay đứng nhìn khi mà việc này đem lại sự khuây khỏa cho em gái mình. Đó là việc của gia đình Del. Đó là việc của Del.
Từ hành lang, anh bước vào văn phòng công tố viên quận King và thông báo với nhân viên lễ tân rằng anh có một cuộc hẹn với Rick Cerrabone.
“Ông ấy đang trong phiên xử.” Nhân viên lễ tân nói.
“Anh ta đang đợi tôi mà.”
Chẳng bao lâu sau khi nhân viên lễ tân gọi điện thoại, Cerrabone xuất hiện ở một cánh cửa bên trong và ra hiệu cho Del đi theo mình. Faz từng có lần chỉ ra rằng, với hai bọng mắt thâm quầng và cái hàm giống như một con chó săn, viên công tố cấp cao này của quận King trông giống y hệt Joe Torre, cựu quản lý của đội Yankees. Lời miêu tả đó đã in hằn trong đầu Del.
Del theo Cerrabone đi dọc một hành lang hẹp để vào văn phòng chật chội của anh ta. Từng tấc không gian trên bàn làm việc và sàn nhà đều chất chồng giấy tờ và bìa kẹp hồ sơ. Cerrabone là cánh tay phải của Chánh công tố quận - Kevin Dunleavy, anh ta xử lý hầu hết những vụ án mạng cấp độ một, bao gồm các vụ tử hình, và hiện giờ anh ta đang bận rộn với một vụ án khác.
“Xin lỗi anh vì sự bừa bộn này. Chúng tôi đang trong phiên xử vụ Westerberg.” Cerrabone đóng cửa, khiến văn phòng càng có vẻ nhỏ bé hơn. Del ngửi thấy mùi cà phê và nhìn thấy một tách trên bàn làm việc của Cerrabone.
“Tôi có nghe nói. Tôi hy vọng mình không làm phiền anh.” Del nói.
Cerrabone phẩy tay gạt đi câu nói ấy. “Thẩm phán cho chúng tôi nghỉ buổi sáng. Một bồi thẩm viên gọi điện đến thông báo rằng vú em của cô ấy đến muộn.” Anh ta ngồi trên một cái ghế tiện nghi đằng sau bàn làm việc - lưng anh ta bị tật. Del ngồi ở một trong hai cái ghế lót nệm. Vật duy nhất tiết lộ về đời tư của Cerrabone là một bức ảnh đóng khung cỡ mười ba nhân hai mươi centimet của vợ anh ta, cũng là một công tố viên, mặc dù cô ta dùng họ thời con gái. Khi nghề nghiệp của bạn là tống cổ những tên sát nhân vào tù, bạn cần phải bảo vệ đời tư của mình. Trên tường chỉ treo toàn ảnh đen trắng về Seattle qua các thập kỷ.
“Tôi rất tiếc về chuyện của cháu gái anh, Del à.”
“Cảm ơn anh.” Del đáp, có vẻ là lần thứ một nghìn. “Cảm ơn anh vì đã đến đám tang.”
“Trông anh mệt mỏi quá. Anh có ngủ được không đấy?”
“Tối qua chúng tôi có một vụ gây tai nạn chết người rồi bỏ chạy. Nạn nhân là một cậu bé mười hai tuổi.”
“Tôi có nghe nói.” Cerrabone nói. “Vụ đó có thể sẽ về tay tôi.”
Câu nói ấy khiến Del ngạc nhiên. Cerrabone thường chỉ xử lý các vụ án thuộc MDOP, viết tắt của Chương trình Tội phạm Tối nguy hiểm. “Tại sao?”
“Lý do cũng giống như của anh thôi. Các sếp lo lắng về dư luận.”
Del thở dài. “Chà, tôi rất cảm kích sự giúp đỡ của anh trong vấn đề này.” Anh nói, cảm thấy có lỗi vì đã đến nhờ vả Cerrabone trong lúc anh ta đang rất bận rộn.
Một lần nữa, Cerrabone lại gạt đi. “Không có gì, tôi đã nhờ một cộng sự nghiên cứu và xử lý việc này trong lúc tôi tham gia tranh tụng.” Cerrabone lật giở đống giấy tờ trên bàn, tìm thấy thứ mà anh ta đang tìm và đưa nó cho Del. “Như thế có được không?”
“Vâng, được chứ.” Del nói.
Cerrabone nhấc điện thoại trên bàn lên, ấn một nút và nói: “Cô vào đây được không?”
Một phút sau, một người phụ nữ da đen hấp dẫn vừa gõ vừa mở cửa. “Mời vào.” Cerrabone giới thiệu họ với nhau. “Celia McDaniel. Del Castigliano. Tôi đã nhờ cô nghiên cứu về vấn đề sốc ma túy chính là để giúp anh Del đây.”
McDaniel đóng cửa và đi tới chỗ Del, anh đứng dậy để chào cô. “Chào điều tra viên.” Cô nói, giơ tay ra.
Del bắt tay cô thật chặt. Anh chưa bao giờ gặp Celia McDaniel và áng chừng cô khoảng từ ba mươi lăm đến bốn mươi tuổi. Cô chỉnh lại cái áo khoác màu xanh Hải quân bên ngoài cái áo cánh màu kem. Những lọn tóc dài màu nâu nhạt tết bím được kẹp lại bằng một chiếc kẹp tóc. Anh nhận thấy cô trang điểm rất ít, nếu cô có trang điểm.
“Cô là người mới.” Del nói.
Cô ngồi xuống cái ghế bên cạnh anh. “Không hẳn.” Cô mỉm cười. “Tôi chỉ là người mới ở đây thôi.”
“Celia từng phụ trách các vụ án ma túy ở Georgia.” Cerrabone giới thiệu. “Cô ấy mới chuyển tới đây khoảng sáu tháng trước và làm việc với chúng tôi được hai tháng.”
“Cô đi cũng xa đấy.” Del nói.
“Tôi đang muốn thay đổi môi trường.”
“Tôi nghĩ cô đã đạt được mục đích rồi. Từ một nơi ướt át đến một nơi ướt át hơn.”
“Tôi thích mưa.” Cô nói.
Cerrabone nhắc: “Tôi nghĩ sẽ nhanh hơn nếu để cô nói với Del về các phát hiện của mình, phòng khi anh ấy có câu hỏi gì.”
“Chắc chắn rồi.” McDaniel xoay người đối diện với Del, bắt tréo chân. “Trước hết, tôi rất tiếc về chuyện của cháu gái anh.”
“Cảm ơn cô.” Del nói. Lần thứ một nghìn lẻ một.
“Theo như tôi hiểu, cô bé… hoặc bạn trai của cô ấy, đã mua heroin vào buổi tối hôm đó, đến sáng hôm sau thì cô bé qua đời.”
“Chúng tôi tin là như vậy. Tâm trạng em gái tôi chưa ổn định lắm nên cô ấy không giúp được gì nhiều, nhưng theo những gì tôi biết, Allie bị ngạt vì những chất mà con bé nôn mửa ra.” Những từ cuối cùng như mắc lại trong cổ họng Del. Anh hắng giọng.
“Vì thế chúng ta có thể chứng minh được rằng liều heroin mà cô bé dùng tối hôm đó chính là liều heroin đã làm cô bé thiệt mạng, phải không?” McDaniel nhẹ nhàng hỏi.
“Chính xác. Con bé đã cai nghiện được hơn hai tháng.” Del nói khi giọng anh bình thường trở lại. “Chúng tôi đã gửi con bé tới một trại cai nghiện ở Yakima.”
“Đó cũng không phải chuyện hiếm.” McDaniel nói, như thể đang tự nói với chính mình. “Nếu chúng ta có thể xác định được kẻ đó là ai và chứng minh được rằng hắn đã cung cấp chỗ heroin dẫn đến cái chết của cháu gái anh, chúng ta có thể khép hắn ta… hoặc ả ta… vào tội giết người bằng chất cấm theo RCW 69.50.401.”
“Giết người ư?” Del liếc nhìn Cerrabone.
“Đúng thế.” McDaniel đáp.
“Nếu hắn chỉ vận chuyển chỗ heroin đó thì sao? Nếu hắn không sản xuất ra nó thì sao?” Del hỏi.
“Đạo luật này tương đối mới và có phạm vi rộng. Nó quy định rằng bất cứ người nào sản xuất, vận chuyển hoặc tàng trữ với ý định sản xuất hoặc vận chuyển một chất cấm thì đều bị coi là phạm pháp.”
Del không nắm rõ đạo luật này lắm, nhưng anh thích những gì mình vừa được nghe. “Hình phạt là gì?”
“Đó là một trọng tội loại B. Nếu bị kết án, kẻ phạm tội có thể phải ngồi tù đến mười năm, nộp phạt lên đến tối đa hai mươi lăm nghìn đô la, hoặc kết hợp cả hai hình phạt ấy, nếu khối lượng tang vật dưới hai kilogram. Tôi cho rằng vụ này hẳn thuộc trường hợp đó.”
Mười năm. Del hồ nghi. “Lần gần đây nhất có người bị kết án theo đạo luật này là khi nào?”
“Với sự phổ biến của heroin và ma túy đá dạo gần đây, hình phạt này đang được áp dụng thường xuyên hơn.” Cerrabone nói, nhìn Del qua mép trên của cặp kính hai tròng, trong tay anh ta là một văn bản biện hộ.
“Nhưng tôi mới thấy có vài trường hợp bị kết tội thôi.” McDaniel nói thêm. “Chẳng ai phải ra tòa cả. Họ đều chấp nhận điều đình.”
“Họ nhận được hình phạt gì?”
“Hai đến bốn năm tù và ba đến năm nghìn đô la.”
“Cái giá ấy quá rẻ cho việc đoạt một mạng người.”
“Tôi đồng ý, nhưng như thế là tốt hơn ngày trước nhiều rồi, và còn có những yếu tố khác ảnh hưởng đến việc đó nữa.”
“Chẳng hạn như?” Del hỏi.
Điện thoại trên bàn của Cerrabone bỗng reo lên và anh ta vươn tay nhấc máy. Sau khi nghe một lúc, anh ta nói: “Đơn kiến nghị gì vậy? Kỳ cục thế! Ừ, nói với thẩm phán là tôi đang xuống đây.” Anh ta gác máy, đứng dậy và vuốt tay áo xuống để cài cúc cổ tay áo. “Tôi phải đi tranh cãi về một đơn kiến nghị tố cáo một bồi thẩm viên không đủ tư cách. Cứ tự nhiên ở lại đây và sử dụng văn phòng của tôi nhé!”
“Anh có uống cà phê không?” McDaniel nói với Del khi Cerrabone chộp lấy chiếc áo khoác của mình.
“Tôi mê cà phê lắm.” Del đáp lời.
Tracy bước vào phòng họp trên tầng bảy của Sở Cảnh sát sau khi chỉ ngủ có vài tiếng. Kins và Faz đã ngồi ở bàn, tán gẫu về các trận đấu của giải bóng rổ NBA.
“Del đâu rồi?” Cô hỏi Faz.
Faz nhấm nháp một cốc cà phê lớn. Ở một mặt của cái cốc dập nổi dòng chữ Người Ý là người tình tuyệt vời nhất… và ở mặt bên kia… của thức ăn. Hương thơm vừa ngọt vừa đắng ấy khiến Tracy ứa nước miếng, dù cô biết cô sẽ bị ợ nóng cả ngày nếu uống một tách cà phê khi dạ dày trống rỗng. “Sáng nay cậu ấy có một cuộc hẹn, cậu ấy nói chúng ta cứ tiến hành cuộc họp dù vắng mặt cậu ấy.”
“Thực sự thì tình hình của anh ấy thế nào rồi?” Tracy kéo một cái ghế ở phía đối diện và ngồi xuống. Bên ngoài những ô cửa sổ hẹp và dài, mưa đang trút xuống khoảnh sân xi măng.
“Cậu ấy ổn cả.” Faz nhún vai. “Cậu ấy chỉ đang tức giận thôi, cô biết chứ? Cậu ấy muốn trút giận lên ai đó.”
“Có đến mức làm chuyện gì ngốc nghếch không?” Tracy hỏi.
“Tôi sẽ để mắt đến cậu ấy.” Faz nói, chất giọng New Jersey của ông trở nên nặng hơn. “Cậu ấy sẽ ổn thôi.”
“Anh ấy không nên xử lý vụ án của cháu gái mình.” Tracy nói.
Faz nhún vai. “Tất cả mọi người trong ban đều đang bận đến ngập đầu ngập cổ, và Del chỉ đang cố gắng giúp đỡ em gái, cô biết chứ? Cô ấy đã vắng chồng nhiều năm. Đừng lo, tôi sẽ trông chừng cậu ấy.”
Kins quay sang Tracy. “Joe có đến không?”
“Anh ấy gọi điện nói rằng mình đã thức khuya dậy sớm và đang nỗ lực để mang đến cho chúng ta một thứ vào sáng nay.”
“Chẳng phải tất cả chúng ta đều thế sao?” Faz xoay vai và bẻ cổ. Việc thức khuya dậy sớm lộ rõ qua đôi mắt vằn tia máu của ông.
Tracy có cảm giác như ai đó đã đâm vào sau đầu cô. Cô chẳng được ngủ mấy. “Anh và Del có phát hiện ra điều gì lúc đi điều tra ở các tòa nhà không?”
Faz lắc đầu. “Chẳng ai nhìn thấy hay nghe thấy gì. Tôi sẽ ghi lại vào trong hồ sơ.”
“Điều đó chứng thực cho những gì Jensen nói.” Kins nêu ý kiến. “Người lái xe đã không nhấn phanh.”
Trưởng ban của họ là Johnny Nolasco bước vào trong phòng. Tracy không ngờ ông ta cũng sẽ có mặt. Quan hệ giữa họ cứ như nước với lửa vậy. “Nghe nói tối qua có một vụ gây tai nạn rồi bỏ chạy?”
“Nạn nhân là một đứa trẻ mười hai tuổi.” Faz nói.
“Có chết người không?”
“Rủi là có.” Tracy đáp.
Nolasco nói: “Tôi sẽ thuyết phục các sếp giao cho TCI xử lý vụ này.”
“Đây có thể là một vụ án mạng.” Tracy nói. “Billy nói các sếp lớn đang yêu cầu chúng tôi xử lý vụ này, hoặc chí ít cũng hợp tác với TCI.”
“Tôi thừa biết điều đó, nhưng vụ giết mấy mạng người của tuần trước đang nóng lên và các sếp cần sự trợ giúp để đối phó với các cuộc phỏng vấn. Đây là một vụ gây tai nạn chết người rồi bỏ chạy.” Nolasco nói. “Là việc của TCI.”
“Nếu nó là một vụ án mạng thì sao?”
“Chuyện đến đâu hay đến đó.”
Jensen bước tới ngưỡng cửa. Nolasco liếc nhìn ông rồi xoay người rời đi. Jensen gỡ quai túi đựng máy tính khỏi vai rồi đặt chiếc túi lên một cái ghế. “Tôi xin lỗi vì đến muộn, nhưng tôi đã tìm ra một thứ mà tôi nghĩ là các vị sẽ thấy hữu ích.”
Khi không đội mũ len và thiếu chiếc áo khoác to sù sụ, trông Jensen hoàn toàn khác biệt. Ông có mái tóc đỏ dày dặn và vóc dáng săn chắc. Sáng nay ông mặc quần jean, áo polo, áo khoác nhồi lông vũ và đi giày leo núi cổ thấp. Ông đã nhanh chóng vắt chiếc áo khoác ấy lên một cái ghế trống.
“Anh có được ngủ tí nào không đấy?” Kins hỏi.
Jensen lôi chiếc laptop ra khỏi túi và mở máy ra, đợi nó khởi động. “Có chứ, tôi vẫn ổn mà. Chất adrenaline đang dâng trào mãnh liệt trong tôi.”
“Cho tôi xin một ít để bỏ vào cốc cà phê của tôi đi.” Faz nói.
Jensen lấy ra vài tờ giấy, đưa cho Tracy, rồi nhìn đồng hồ đeo tay. “Chúng ta có thể đến kịp ca điểm danh buổi sáng đấy.”
“Có cần thiết không?” Tracy hỏi.
“Cô xem đi!”
Cô đọc tờ giấy. “Subaru Outback ư?” Cô nhìn Jensen. “Anh đã xác định được hãng xe và mẫu xe rồi sao? Có video à?”
“Có một video, nhưng khoảng cách xa quá nên nhìn không rõ lắm.”
“Vậy làm sao chúng ta biết đó là một chiếc Subaru?” Kins hỏi.
“Tôi đã đem mảnh phụ tùng tìm được trên đường tới Phòng Nghiên cứu Tội phạm Bang Washington vào sáng sớm nay. Họ đã cung cấp cho tôi số xê ri và xác định rằng nó rơi ra từ một chiếc Subaru. Bạn thân của tôi là chủ của đại lý Walker’s Renton Subaru.” Jensen nói. “Vì thế tôi đã đem mảnh phụ tùng đến chỗ anh ấy và anh ấy nói nó rơi ra từ một cái đèn pha phía ghế cạnh ghế lái của một chiếc Subaru Outback đời 2003. Màu đen.”
Tracy liếc nhanh đồng hồ đeo tay, rồi nhìn ngang qua bàn. “Faz à…”
“Để tôi lo việc này.” Faz đẩy ghế lùi lại, một tay cầm tờ giấy, tay kia cầm cốc cà phê. Nếu họ có thể chuyển thông tin này đến cho đội trưởng đội tuần tra trong ca điểm danh sáng, các sĩ quan cảnh sát tuần tra của ca trực Một sẽ được thông báo kịp thời về việc để ý đến những chiếc xe loại đó. Tiếp theo, Faz sẽ chuyển thông tin này đến tất cả các cơ quan hành pháp khác trên toàn bang, bao gồm cả cảnh sát tuần tra đường cao tốc, cũng như các hãng sửa chữa xe hơi.
“Anh đã nói video này có thứ gì đó?” Tracy hỏi Jensen khi Faz đã rời đi.
“Trên con đường ấy có một chiếc camera giao thông. Nó không được nét lắm, nhưng vì chúng ta đã biết được loại xe và khoảng thời gian xảy ra vụ tai nạn nên chúng ta có thể tua nhanh đến đoạn đó.” Jensen gõ bàn phím laptop và nói với Kins. “Anh nên vòng sang bên này.”
Kins vòng sang chỗ họ, nhòm qua vai Jensen.
“Có một cái camera giao thông dành cho làn xe buýt trên đỉnh cột đèn của đường South Henderson, cách ngã tư khoảng một trăm thước về phía tây. Nó là một chiếc camera tốt nhưng vì khoảng cách và ánh sáng… nên video không được nét lắm. Và chiếc xe đang đi từ phía nam lên phía bắc, vì thế chúng ta không thể nhìn được biển số xe.” Jensen gõ các phím. Chỉ vài giây sau, họ đã thấy một video đen trắng hơi ngả vàng và bị nhiễu chằng chịt. “Ánh đèn đã làm màu sắc bị biến đổi.” Jensen nói. Ông gõ thêm vài phím nữa, tua nhanh đoạn video trong khi kiểm tra các ghi chép trên một tờ giấy. Ông dùng ngón tay để chỉ. “Ngay ở đây, nếu hai vị nhìn kĩ, hai vị sẽ thấy có một người đang đi trên vỉa hè ở phía bên trái của con đường.”
Tracy chỉ có thể nhìn thấy một hình ảnh hơi nhạt hơn một chút. “Khó nhìn quá.”
“Thời điểm này trùng khớp với thời điểm D’Andre Miller rời khỏi trung tâm cộng đồng theo lời khai của nhân chứng. Và cậu ấy có vẻ đang chạy. Giờ nhìn xem, ngay ở đây.” Jensen gõ các phím để cho video chạy chậm lại. “Chiếc xe đi vào khung hình ở đây, trên đỉnh con dốc. Hình ảnh rõ hơn một chút khi nó đến ngã tư.”
Tracy dõi theo một chiếc xe sẫm màu đổ dốc và băng qua ngã tư mà không giảm tốc độ. “Tòa nhà trát vữa ở góc đường chắn mất tầm nhìn của cậu bé đang bước từ trên vỉa hè xuống.”
“Như tôi đã nói, video không được nét lắm, nhưng thời gian, chiếc xe, và hình ảnh đứa trẻ đang đi trên đường đều khẳng định điều mà mảnh phụ tùng của chiếc xe tiết lộ với chúng ta - cậu bé bị một chiếc Subaru sẫm màu đâm phải.”
“Anh có thể tăng chất lượng hình ảnh hơn nữa không?” Tracy hỏi.
“Như thế sẽ càng làm nó bị nhiễu. Cô sẽ không thể thấy được biển số xe trừ khi chúng ta tìm ra những chiếc camera khác ghi lại được hình ảnh của chiếc xe dọc tuyến đường đó.”
Tracy đứng thẳng người dậy. “Anh đã cử ai làm việc ấy chưa? Biết đâu chúng ta sẽ may mắn thấy được biển số xe hoặc ít nhất cũng thấy được một phần của nó.”
“Chúng tôi đang tiến hành rồi.” Jensen nói. Ông mỉm cười với Tracy. “Tôi đã nói với cô rằng chuyện này thú vị hơn các vụ án mạng chán phèo của cô mà.”