Trong ba năm ở Bremerton, Leah Battles đã đạp xe đi đi về về từ bến phà trong vài cơn bão rất khủng khiếp, và cơn bão này nếu không dữ dội hơn thì chắc chắn cũng sánh bằng cơn bão tồi tệ nhất trong số đó. Gió lớn giật mạnh từng cơn, đủ để khiến chiếc Chevy TrailBlazer của Rebecca Stanley rung lắc. Battles không muốn nghĩ đến chuyện cơn gió đó sẽ tác động thế nào đến một người đi xe đạp.
Xe đạp của cô hiện đang ở đằng sau chiếc ô tô của Stanley.
“Cảm ơn bà lần nữa vì đã chở tôi.” Cô nói. “Cơn bão này khủng khiếp quá.”
“Không có gì.” Stanley nói. Bánh xe băng qua một vũng nước khác, làm bắn cả một bức tường nước lên phía bên ngoài cửa sổ của Battles.
Bầu trời sầm sì kéo hoàng hôn đến sớm, rồi nhanh chóng hóa thành màn đêm. Mưa đã làm các rãnh nước bên đường bị tràn, và các vũng nước càng lúc càng lan rộng trên mặt đường. Nước bắn lên từ lốp xe tạo thành hình đuôi gà trống mỗi lần chiếc xe lao qua các vũng nước.
Battles nhìn xuống sàn xe phía ghế lái. “Cổ chân bà thế nào rồi?”
Stanley đã giẫm phải một vũng nước sâu đến bắp chân ngay bên ngoài cửa xe của cô ta ở bãi đỗ. “Ướt và lạnh.” Cô ta nói. “Cô có phiền không nếu chúng ta ghé qua căn hộ của tôi để tôi không có cảm giác là chân mình đang bị nhúng trong một xô đá suốt thời gian ngồi uống với cô?”
Battles mỉm cười. “Không vấn đề gì.”
Cô chạm vào bên sườn và cảm nhận được sự tồn tại khiến cô cảm thấy an toàn của khẩu Glock ngay bên trong lớp áo việt quất.
“Cô thấy quán Bulkhead thế nào?” Stanley hỏi.
Bremerton là một thị trấn Hải quân, ở đây không thiếu những quán bar sử dụng các từ ngữ riêng biệt của Hải quân. Quán Bulkhead được yêu thích bởi vì nó thường xuyên đưa ra các chương trình khuyến mại cho các quân nhân, chẳng hạn như những cốc bia giá hai đô la vào các đêm thứ Năm và những chiếc bánh hamburger “Bell” tám đô la, kèm theo khoai tây chiên và đồ uống tự chọn.
“Nghe có vẻ được đấy.” Battles nói.
“Nó ở gần căn hộ của tôi.” Stanley nói. “Tôi sẽ thay đồ thật nhanh và chúng ta có thể uống thứ gì đó, và có lẽ ăn một chút gì đó nữa, rồi tôi sẽ đưa cô trở lại bến phà đúng giờ. Cô nghĩ họ có cho phà chạy tiếp trong thời tiết này không?”
“Nếu họ hủy chuyến thì cũng không phải là lần đầu tiên.” Battles nói. “Tôi có ứng dụng để xem lịch trình và lưu số điện thoại của bến phà vào hệ thống phím gọi tắt trên di động của mình rồi đây. Tôi có thể gọi điện để cập nhật tình hình nếu thời tiết không khá hơn. Tôi nghe trên radio rằng cơn bão này sẽ tan trong đêm nay.”
“Hy vọng chúng ta không bị mất điện.”
“Hy vọng như vậy.” Battles nói.
Stanley sống ở khu vực nằm về phía đông của căn cứ, bên kia cây cầu Manette bắc qua eo biển Cảng Washington. Họ lái xe trên con đường ôm lấy đường bờ biển để tới một tòa chung cư có tên là Tổ Quạ, có lẽ vì chẳng có thứ gì khác xung quanh hai tòa nhà cao tầng nằm đối diện với Căn cứ Hải quân Kitsap qua eo biển.
“Bà có bao giờ về nhà và cảm thấy rằng mình chưa từng rời đi không?” Battles hỏi, say sưa ngắm nhìn quang cảnh trước mắt.
“Tôi luôn thích nước.” Stanley nói. “Tầm nhìn trên ban công của tôi đẹp đến chết người đấy. Hãy lên xem thử nào.”
Battles bước ra khỏi xe. Cảm thấy cơn gió quất mạnh vào lưng mình, cô bèn giữ chặt phần lưỡi trai của chiếc mũ để tránh phải chạy đuổi theo nó qua bãi cỏ. Cô theo Stanley đi qua một cánh cửa bằng kính vào trong một tiền sảnh nhỏ với các hòm thư và một cái thang máy. Stanley lấy thư của mình rồi họ đi thang máy lên tầng trên cùng. Căn hộ của Stanley nằm cách thang máy ba cánh cửa về phía bên phải. Cô ta mở khóa, vặn tay nắm cửa rồi bước vào trong, bật đèn lên. Battles đi theo cô ta vào trong và đóng cửa lại.
Battles coi một căn hộ như một phần thân thể chủ nhân của nó. Căn hộ của cô hơi bừa bộn, lúc nào cũng thấy một khung giá vẽ giữ bức tranh mới nhất mà cô đang vẽ dở, và một bàn cờ trên bàn bếp với một ván cờ đang chơi dở. Cô tự chơi với chính mình, cứ mỗi sáng trước khi đi làm cô lại đi một nước và lúc về nhà cô lại đi một nước chặn lại. Ván cờ lâu nhất của cô tính đến nay kéo dài đến ba tuần.
Stanley ném chìa khóa lên cái quầy formica ngăn cách bếp và phòng khách. “Cứ tự nhiên như ở nhà nhé! Tôi sẽ quay lại ngay thôi.” Cô ta biến mất dọc theo một hành lang.
Battles đi sâu hơn vào trong căn phòng khách gọn gàng nhưng thưa thớt đồ đạc. Một cánh cửa kính trượt dẫn ra một ban công hẹp chỉ vừa đủ chỗ cho một cái bàn nhỏ bằng kim loại và hai cái ghế đồng bộ, nhưng đúng là nó có tầm nhìn đẹp đến chết người. Đứng từ đây có thể nhìn thấy những ánh đèn của xưởng đóng tàu phía bên kia mặt nước.
Cô bước tới mặt lò sưởi. Trên đó có những bức ảnh đóng khung của Stanley chụp cùng một người đàn ông tóc sẫm và một cô bé chừng hai, ba tuổi. Stanley không để bức ảnh nào của mình ở văn phòng, cô ta cũng chưa bao giờ nhắc đến chuyện mình đã kết hôn hay có con, hay đã ly dị, căn cứ vào những gì cô quan sát được ở căn hộ này. Mọi thứ đang bắt đầu sáng tỏ.
Nghe tiếng Stanley quay trở lại, Battles đưa tay tìm khẩu Glock, rút nó ra khỏi bao và cầm nó ở cạnh sườn mình.
“Tôi đã nói với cô nó có tầm nhìn đẹp đến khó lòng chịu nổi mà.” Stanley nói.
Battles quay lại và giơ khẩu Glock lên. “Thực ra, bà nói nó có tầm nhìn đẹp đến chết người.”
Giờ thì Tracy đã biết làm thế nào để người ta vào được tòa nhà DSO mà không phải nhập mật mã bằng số an sinh xã hội và không bị ai nhìn thấy. Cho dù người đó là ai, họ chỉ đơn giản đợi đến lúc Al Tulowitsky đi hút thuốc theo thói quen và chèn cửa bằng cái nêm gỗ. Điều này xác nhận rằng cuốn băng ở cửa hàng tiện lợi không phải bị thất lạc. Đó là một hành động cố ý, nó đã bị lấy cắp bởi một người biết rõ thói quen của Tulowitsky. Điều đó có nghĩa là, rất có thể đó là người làm việc trong tòa nhà ấy. Battles và Cho là những lựa chọn đầu tiên của Tracy. Stanley cũng không thể bị loại trừ.
Cả ba người họ đều biết phòng cất giữ bằng chứng nằm ở đâu, cũng như tầm quan trọng của cuốn băng. Nó là đường dẫn trực tiếp tới những gì Laszlo Trejo đang làm ở Seattle vào cái đêm anh ta đâm phải D’Andre Miller, điều đó có nghĩa là anh ta có thể đang phân phối số heroin mà anh ta đã vận chuyển lậu trên con tàu Hải quân gần đây nhất của anh ta.
“Cô nghĩ Tulowitsky có liên quan đến vụ này không?” Owens hỏi. Họ đã trở lại xe và đang trên đường tới gặp người quen của ông ta ở căn cứ Hải quân.
Tracy đã suy nghĩ về câu hỏi tương tự, liệu Tulowitsky có cố tình để cửa mở không?
“Không.” Cô nói. “Kẻ lẻn vào trong tòa nhà đã cố gắng trốn Tulowitsky. Nếu anh ta có liên quan thì họ việc gì phải làm thế. Tôi cá rằng chính kẻ đó cũng đã giết Trejo để ngăn anh ta làm chứng, nếu điều đó xảy ra, vì thế việc lôi kéo Tulowitsky vào vụ này sẽ là một sự mạo hiểm quá lớn.”
Owens và Tracy xuất trình giấy tờ cho các lính gác trực ở Cổng Charleston, rồi đợi cho đến khi bạn của Owens tới gặp họ và dẫn họ tới tòa nhà DSO, nơi có văn phòng của sĩ quan an ninh ở tầng một.
Văn phòng của David Bakhtiari chất đầy các máy tính, màn hình video và đèn nháy. Bakhtiari cũng mặc đồng phục màu xanh và xám như những người khác ở căn cứ, nhưng đó là điểm chung duy nhất của anh ta với họ. Anh ta to lớn như Del, cao hơn Tracy đúng mười lăm phân và nặng khoảng tạ ba. Anh ta không phải là béo, hoàn toàn không. Trông anh ta giống như một tiền vệ tấn công trong một đội bóng bầu dục của giải NFL vậy. Sau khi giới thiệu họ với nhau, bạn của Owens ở lại ngoài văn phòng.
“Bà muốn băng hình của đêm mồng Bốn tháng Ba.” Bakhtiari nói. Đó không phải một câu hỏi. “Tôi từng sao băng hình đó một lần cho OIC Stanley.”
“Tôi biết.” Tracy nói. “Chúng tôi muốn xem băng gốc.”
Đôi mắt Bakhtiari nheo lại vẻ quan tâm. Anh ta rõ ràng đang tự hỏi tại sao, và có thể đang suy luận câu trả lời. “Tôi cho là bà có lệnh khám xét.” Giọng điệu anh ta nghe như một lời thách thức, nhưng có thể anh ta chỉ muốn có một cái cớ để biện hộ cho mình phòng khi có ai đó hỏi đến việc này thôi.
Tracy đưa lệnh khám xét cho anh ta. Bakhtiari đọc nó một cách kĩ càng. Sau một, hai phút, anh ta gật đầu và nói: “Được rồi. Tôi sẽ tạo cho bà một bản sao. Tôi nên gửi nó tới đâu?”
“Chúng tôi muốn xem băng hình ngay bây giờ.” Owens nói. Ông ta thò tay vào trong túi áo khoác và đưa cho Bakhtiari một tấm danh thiếp. “Sau khi chúng tôi xem xong, anh có thể gửi một bản sao tới địa chỉ này, nhưng chúng tôi muốn xem nó ngay bây giờ.”
Bakhtiari thở ra một hơi mà anh ta kìm nén nãy giờ và nhanh chóng kiểm tra đồng hồ. Tracy tự hỏi liệu anh ta có đang bao che cho ai không.
“Anh cần đi đâu đó à?” Owens hỏi, giọng điệu thoáng chút giễu nhại.
“Hôm nay là sinh nhật con gái tôi.” Bakhtiari nhún vai. “Chúng tôi dự định tổ chức một bữa tiệc ở sân sau nhưng với thời tiết này thì… Vợ tôi hơi lo lắng. Cô ấy đã bảo tôi về nhà càng sớm càng tốt.”
Tracy kìm nén một nụ cười; chẳng gì có thể hạ gục một người đàn ông, cho dù là một người đàn ông rất to lớn, nhanh hơn cơn giận dữ của vợ anh ta. Anh ta sẽ chống lại những người đàn ông khác, thậm chí là đánh nhau để bảo vệ cái tôi của mình, nhưng khi vợ anh ta đòi hỏi một điều gì đó, anh ta sẽ rùng mình trước ý nghĩ không thực hiện được.
“Tôi có các mốc thời gian mà chúng tôi quan tâm đến.” Tracy nói. Cô thò tay vào trong túi để lấy mảnh giấy mà Dan ghi lại các thời điểm cánh cửa văn phòng trông như đã dịch chuyển. “Chúng tôi chỉ muốn xem một đoạn băng cụ thể thôi. Sau khi chúng tôi xem xong, anh có thể mail đến cho điều tra viên Owens một bản. Chúng tôi sẽ không làm phiền anh lâu đâu, anh vẫn sẽ về nhà kịp giờ để mừng sinh nhật con gái anh.”
Bakhtiari có vẻ thở phào nhẹ nhõm. “Vậy thì tốt quá. Bà muốn xem đoạn nào?”
Tracy đưa anh ta mảnh giấy. Anh ta xem xét nó, rồi nói với giọng rạng rỡ hơn. “Được rồi. Như thế này dễ dàng hơn.”
Họ theo Bakhtiari tới một cái máy tính, đứng đằng sau mh ta khi anh ta ngồi xuống và gõ các lệnh. Trong vòng vài phút, anh ta đã mở lên hình ảnh một tiền sảnh quen thuộc. Bakhtiari chỉ vào chuỗi số đầu tiên trên mảnh giấy mà anh ta đặt trên bàn và xác nhận rằng nó là mốc đầu tiên.
Tracy nói: “Nhưng hãy lùi lại ba mươi giây nữa.”
“Vâng, thưa bà.” Bakhtiari khẽ gật đầu với cô và tiếp tục gõ phím. Anh ta so thời gian trên cuốn băng với thời gian trên mảnh giấy, rồi đẩy ghế lại, định ấn vào hình mũi tên để cho cuốn băng chạy.
“Anh có thể đứng ở phía bên kia của chiếc máy tính được không?” Owens nói.
Bakhtiari hết nhìn người này lại đến người kia giữa hai người họ, không hiểu yêu cầu đó lắm.
“Trong trường hợp cuốn băng này trở thành bằng chứng, anh có thể phải cung cấp lời khai về quy trình lưu trữ.” Owens nói. “Tôi nghĩ tốt hơn hết là anh không nên trở thành nhân chứng cho nội dung của cuốn băng nữa.”
“Không vấn đề gì.” Bakhtiari nhổm dậy khỏi ghế của mình. “Cứ ấn cái nút đó để cho cuốn băng chạy tới và cái nút đó để tua lại cuốn băng.” Anh ta bước vòng qua phía bên kia của màn hình.
Owens ngồi xuống, nhìn ngó bàn phím trong một giây, và ấn vào hình mũi tên để video bắt đầu chạy. Khi ông ta làm vậy, Tracy nhấn đồng hồ bấm giây trên điện thoại của mình.
“Cô đang làm gì thế?” Owens hỏi.
Cô nói nhỏ: “Tôi muốn chắc chắn cuốn băng này cũng không bị chỉnh sửa.”
Trên màn hình, Al Tulowitsky ra khỏi văn phòng thứ hai với hai thùng rác bằng nhựa, một thùng đựng rác thường và một thùng đựng rác có thể tái chế. Anh ta đổ chúng và đem trả cả hai thùng rác vào trong văn phòng. Sau đó, anh ta lăn cái thùng rác di động của mình tới cửa chính và ra ngoài.
Vài phút trôi qua, Tracy định ấn nút TUA ĐI.
“Anh ta sẽ mất một, hai phút để đổ rác.” Owens nói, dán mắt vào màn hình.
Mười lăm giây tiếp theo, ai đó bước vào sảnh. Owens và Tracy ghé sát màn hình hơn. Cô cảm thấy một luồng adrenaline dâng trào. Đó không phải là Tulowitsky. Đó là một người mặc bộ quân phục màu xanh và xám rộng thùng thình, cái mũ đội ngay ngắn trên đầu. Y đang ngoảnh mặt về phía nên trái, tránh khỏi camera.
“Chết tiệt.” Owens thì thào. “Đúng là có ai đó thật. Tôi… không thể nhận ra đó là ai. Còn cô?”
“Y biết ở đó có camera.” Tracy khẽ nói. “Cho dù y là ai thì y cũng đang tránh nó, tránh để lộ mặt.”
Owens ghé sát hơn. “Vậy là y làm việc trong tòa nhà ấy.”
“Hoặc chỉ là y biết chỗ lắp camera an ninh.” Cô nói.
“Cô có nhận ra đó là đàn ông hay phụ nữ không?”
“Với bộ quân phục đó thì không.” Tracy nói. “Ai trông cũng như nhau cả.” Góc độ của camera cũng khiến cho việc phân biệt chiều cao trở nên khó khăn.
Người đó đi dọc hành lang giữa hai văn phòng, có lẽ đang tới cầu thang dẫn lên phòng cất giữ bằng chứng ở bên trên.
“Tua lại đi.” Tracy nói.
Owens làm theo, nhưng ngay cả khi xem lại nó lần thứ hai, Tracy cũng không phát hiện thêm điều gì từ cuốn băng.
Họ để cuốn băng chạy tiếp. Tracy kiểm tra đồng hồ bấm giây trên điện thoại. Bốn phút hai mươi tư giây đã trôi qua. Rồi năm phút nữa. Sáu phút. Vào phút thứ sáu và bốn mươi hai giây, người mặc quân phục xuất hiện trở lại trên hành lang, nhưng người đó vẫn cúi thấp đầu, phần lưỡi trai của chiếc mũ khiến Tracy không thể nhìn ra chi tiết nào trên khuôn mặt của người đó.
“Tôi nghĩ đó là một phụ nữ.” Cô nói.
“Làm sao cô nhận ra được?”
“Đường nét khuôn mặt mềm mại. Nhìn cái cằm ấy.”
Thay vì đi tiếp về phía cửa chính, người mặc quân phục nhanh chóng rẽ vào văn phòng thứ hai và khép cửa lại một chút.
“Điều này giải thích cho sự xê dịch lần đầu tiên của cánh cửa.” Tracy nói.
“Cô còn nhận ra bất cứ điều gì nữa không?” Owens hỏi.
“Chưa.” Tracy nói.
“Đó có thể là Cho không?”
“Tôi không nghĩ vậy. Dáng đi của Cho thẳng hơn và đường nét khuôn mặt anh ta cũng rắn rỏi hơn. Đó có thể là Battles hoặc Stanley. Họ có chiều cao và vóc dáng giống nhau.”
Vào phút thứ mười một và bốn giây, Al Tulowitsky đi vào qua cửa chính, mang theo các dụng cụ lau dọn và máy hút bụi.
“Ai đó đã cắt đoạn video khoảng hai phút.” Tracy nói. “Trong đoạn video mà tôi có, Tulowitsky đi có chín phút.”
“Anh ta đang tiến về phía nhà vệ sinh.” Owens nói.
Sau khi Tulowitsky ra khỏi khu vực lễ tân khoảng vài giây, cửa văn phòng kia mở ra và người mặc quân phục bước ra.
“Đó là lần xê dịch thứ hai của cánh cửa.” Tracy nói.
Người mặc quân phục đi nhanh về phía cửa ra vào, đầu vẫn cúi thấp, mặt vẫn bị che một phần bởi cái mũ lưỡi trai. Trái tim Tracy đập nhanh hơn một nhịp trước khi người đó ra khỏi cửa. “Tua lại đi.”
Owens nhấn các phím và tua lại. “Tua lại bao lâu?”
“Đến đó là được rồi. Chúng ta có thể tua nó chậm lại từng khung hình một không?” Tracy hỏi Bakhtiari.
Bakhtiari đi vòng qua bàn và Owens đẩy ghế lại để tạo khoảng trống cho anh ta. Bakhtiari ấn một vài phím rồi lại đi ra. Owens nhấn nút PHÁT và Tracy cúi sát màn hình hơn. Người mặc quân phục ra khỏi văn phòng và bước về phía cánh cửa với tốc độ một khung hình một lần. Tracy đặt ngón tay lên bàn phím khi người mặc quân phục tiến gần cửa ra vào. Cô ấn nút DỪNG, khiến khung hình đứng im.
“Tôi biết đó là ai rồi.” Cô nói.
Tracy và Owens rời khỏi văn phòng của Bakhtiari, vội vã đi xuôi hành lang tới văn phòng của Leah Battles trên cùng một tầng. Battles không có ở đó.
Tracy đi nhanh tới chỗ người phụ nữ ở quầy lễ tân. “Tôi đang tìm Leah Battles.” Cô nói, giơ phù hiệu và thẻ cảnh sát ra.
“Tôi có thể hỏi là có chuyện gì không ạ?” Người phụ nữ nói.
“Trả lời cô ấy đi, binh nhì.” Bạn của Owens yêu cầu.
“Bà ấy đi rồi.” Người phụ nữ nói. “Bà ấy đi cùng OIC.”
“Rebecca Stanley ư?” Tracy hỏi.
Người phụ nữ gật đầu. “Vâng.”
“Cô có biết họ đi đâu không?”
“Không, thưa bà, tôi không biết.”
“Văn phòng của cô ta ở đâu?” Owens hỏi.
“Văn phòng của OIC ấy ạ? Nó nằm dọc hành lang ngay trên tầng một này.”
Tracy theo Owens và ông đại tá kia đi dọc hành lang. Stanley không ở trong văn phòng của cô ta. Họ quay lại quầy lễ tân.
“Điều tra viên Crosswhite?” Brian Cho đứng ở cầu thang phía trên họ, lông mày cau lại. “Cô đang làm gì ở đây vậy?”
“Tôi đang tìm Leah Battles hoặc Rebecca Stanley. Anh có thấy ai trong hai người họ không?”
Cho gật đầu. “Lúc nãy, nhưng họ đi cùng nhau chừng nửa tiếng rồi.”
“Anh có biết họ đi đâu không?”
“Có.” Một người phụ nữ nói. Cô ấy bước ra từ một cái bàn ở tiền sảnh. “Họ đi uống ở quán Bulkhead.”
“Đi uống à?” Cho có vẻ ngờ vực. “Chắc là để giải sầu.”
“Sao anh lại nói thế?” Tracy hỏi.
“Bởi vì hôm nay ủy ban Đạo đức đã quay lại đây với quyết định của họ. Họ đang đề nghị chúng tôi tiến hành đưa Đại úy Battles ra tòa án binh.”