Leah Battles thụp đầu xuống phía dưới nòng khẩu súng lục, giơ cả hai tay lên chộp lấy nó rồi thúc đầu gối vào háng kẻ tấn công mình. Cô nhanh nhẹn vừa lùi lại vừa bẻ mạnh cổ tay hắn gập vào trong, giật phăng khẩu súng và chĩa nòng súng vào trán hắn.
“Tốt lắm.” Huấn luyện viên của cô nói, giọng nói của anh ta đặc sệt chất Anh quốc. “Nhưng cô đã chần chừ.”
Battles cố kiềm chế không nói gì. Có vẻ như người đàn ông này lúc nào cũng phải chêm vào một từ “nhưng”.
“Các bạn có thể chắc chắn một điều.” Anh ta quay sang nói với cả lớp. “Khi các bạn tấn công lại đối thủ, đối thủ của các bạn sẽ nổ súng. Vì vậy nếu các bạn chần chừ, nếu các bạn không thể lập tức cúi thấp xuống dưới tầm nòng súng, các bạn sẽ chết.” Anh ta vỗ tay để nhấn mạnh lời mình. “Do đó động tác của các bạn phải thật dứt khoát. Cô hiểu ý tôi chứ? Cô Lee?”
Battles gật đầu. Sau ba năm tập môn võ Krav Maga, sau khi đã đạt tới cấp bốn, đáng lẽ cô không nên chần chừ như vậy. Cô biết mình không nên như vậy. “Tôi hiểu.” Cô đáp.
Cô có thể đổ lỗi rằng hôm nay cô đã có một ngày làm việc vất vả - một khách hàng bị đưa ra xử ở tòa án binh chỉ vì một chuyện nhảm nhí - nhưng đó sẽ là một lời bao biện. Cô không có thói bao biện hay chấp nhận sự bao biện. Cô từng nghe ai đó nói rằng nghề luật là một cô nhân tình ghen tuông. Đúng là vớ vẩn. Nghề luật là một ả quỷ cái khó chiều, nhưng Leah đã biết điều đó từ trước khi quyết định theo đuổi sự nghiệp luật sư tranh tụng. Công việc của cô không những ngốn nhiều thời gian - phải nói là rất nhiều - mà có những ngày nó còn khiến cô kiệt quệ về tinh thần. Có những đêm cô đã tính đến chuyện đổi ngành, chuyển sang làm một nghề gì đó cho phép cô khóa kín công việc của mình vào ngăn kéo bàn làm việc lúc cuối ngày và thảnh thơi đi về nhà. Tuy nhiên, cho dù cô cố tình lãng mạn hóa cách sống đó thế nào, cô biết cô sẽ nhanh chóng trở nên buồn chán. Cô yêu những mẹo mực và chiến lược trong nghề luật, cô thấy được sự tương đồng giữa nghề luật và môn cờ, bộ môn mà cô chơi rất giỏi. Anh đi một nước và tôi chặn lại. Tôi chặn anh mà anh không phản công lại được? Vậy thì tôi thắng. Điều này đặc biệt đúng trong việc tranh tụng, phần việc cô yêu thích nhất trong nghề của mình. Có ai không thể cơ chứ? Nếu không tham gia tranh tụng thì trở thành luật sư để làm gì? Hẳn nhiên, nghề này có thể gây phiền phức lớn cho ta khi ta đang cố tập trung vào một chuyện gì đó khác - chẳng hạn như tập võ hay một mối quan hệ yêu đương chết tiệt, nhưng ít nhất nghề luật cũng trước sau như một, điều mà cô không thấy được ở những người đàn ông mà cô hẹn hò gần đây.
Cái áp lực tinh thần hằng ngày mà nghề luật gây ra cho cô chính là một trong những lý do khiến cô thích môn võ Krav Maga, một môn võ đòi hỏi người ta phải vắt kiệt sức lực, và đó cũng là lý do khiến cô cố gắng hết sức để bố trí thời gian đi tập đều đặn. Cô chẳng thể kiên nhẫn nổi nếu một công tố viên lôi ra một vấn đề vớ vẩn nào đó khiến cô bị lỡ mất buổi tập. Cuối cùng, có người sẽ phải trả một cái giá rất đắt. Và cô chính là người thu phí.
Cô đã tình cờ phát hiện ra Krav Maga khi đang theo học ở trường Tư pháp Hải quân tại Newport, Rhode Island, sau ba năm học trường luật. Cô đã muốn vừa được phục vụ đất nước vừa được tham gia tranh tụng trong những phiên xét xử - những vụ án thực thụ, những vụ phạm tội, chứ không phải mấy vụ đòi tiền đền bù thiệt hại vớ vẩn. Ngành Luật quân sự này của Hải quân cho cô cơ hội để làm cả hai điều đó, ngay lập tức - phục vụ đất nước với tư cách luật sư của Hải quân và tham gia tranh tụng trong những phiên xét xử. Ừ thì cũng có vài vụ nhảm nhí nhưng cô vẫn được đứng trước một bồi thẩm đoàn để tranh luận và chất vấn các nhân chứng. Bạn sẽ không có được điều đó nếu làm việc ở các hãng luật lớn, nơi hứa hẹn giúp bạn kiếm được nhiều tiền nhưng đem lại cho bạn rất ít kinh nghiệm.
Đó cũng là lý do cô bị Krav Maga thu hút. Nó không phải một môn rèn luyện thể lực tiêu biểu. Krav Maga là một môn huấn luyện nghiêm túc và thiết thực về cách bảo vệ tính mạng - vung những cú đấm vào cổ họng, đá vào hạ bộ, quật ngã đối phương. Được phát triển bởi Lực lượng Phòng vệ Israel, nó khuyên răn người ta tránh những cuộc xung đột. Nó cũng khuyên rằng khi không thể tránh được xung đột, hãy kết thúc cuộc chiến. Nói cách khác, hãy làm hòa. Khi không thể làm hòa, hãy đá đít đối phương.
Đây là thứ giúp tâm trí cô tạm quên đi nghề luật.
“Làm lại lần nữa.” Thầy huấn luyện của cô nói.
Cô đứng lại vào vị trí và bạn tập của cô giơ khẩu súng giả lên. Khi đang chuẩn bị vung chân lên đá, cô nghe thấy tiếng chuông điện thoại của mình giữa những tiếng lầm rầm của các học viên khác. Đó không phải là điện thoại cá nhân của cô; cô không bao giờ mang điện thoại cá nhân vào lớp học. Đó là cái điện thoại mà cô mang theo mỗi khi đến phiên trực. Các thầy huấn luyện hiểu rõ hoàn cảnh độc nhất vô nhị của cô, cô phải sẵn sàng nghe điện thoại hai mươi tư giờ một ngày mỗi khi đến phiên trực. Cô xin lỗi và xin phép rời đi rồi vội vã ra lấy điện thoại trong túi đựng đồ tập nhét trong ngăn tủ đựng đồ ở cuối phòng.
“Đại úy Battles xin nghe.”
Cô lắng nghe người ở đầu bên kia một lúc rồi thấy mình bị rơi vào một cuộc đấu tranh nội tâm. Đương nhiên là cô muốn hoàn tất bài tập luyện hôm nay, nhưng cô cũng không bao giờ có thể từ chối một cuộc đấu thú vị, và vụ việc mà cô đang nghe qua điện thoại này có vẻ sẽ là một cuộc đối đầu quyết liệt.
Tracy đỗ xe sát một hàng rào mắt cáo không xa giao lộ nơi D’Andre Miller bị ô tô đâm. Cô không thể không nghĩ rằng cậu bé ấy đã ở quá cận kề tổ ấm, quá cận kề chốn an toàn, quá cận kề ranh giới sự sống.
Cô bước xuống xe, mở cánh cổng dẫn vào một lối đi bê tông giao với một thảm cỏ gọn gàng nhưng cằn cỗi. Có hai bậc thềm dẫn lên hàng hiên và cánh cửa ra vào màu gụ ẩn sau một lớp cửa bảo vệ. Cô kéo lớp cửa bảo vệ nhưng phát hiện nó bị khóa. Không thấy chuông cửa đâu nên cô liền gõ cửa và chờ đợi. Một người phụ nữ ra mở cửa, nhưng đó không phải là Shaniqua Miller. Bà ta không mở lớp cửa bảo vệ.
“Chào bà.” Tracy nói. “Tôi đang tìm chị Shaniqua Miller. Chị ấy có nhà không?”
“Có chuyện gì vậy?” Người phụ nữ có vẻ trẻ trung, bà ta mặc áo phông và quần jean xanh. Trông bà ta khá giống Shaniqua Miller nên Tracy đoán bà ta là chị hoặc mẹ của cô ta. Bà ta nhìn Tracy qua cặp kính tròn gọng mảnh. Mái tóc thẳng ôm trọn khuôn mặt và cằm của bà ta.
“Tôi là Tracy Crosswhite. Tôi là một trong các điều tra viên xử lý vụ án của D’Andre Miller. Bà có phải là bác của cậu bé không?”
“Tôi là bà của nó.” Lưng của người phụ nữ cứng đờ nhưng giọng bà ta vẫn mềm mại. “Có chuyện gì quan trọng không? Shaniqua đang giúp bọn trẻ chuẩn bị đi ngủ.”
“Có.” Tracy nói. “Tôi sẽ không làm chị ấy mất nhiều thì giờ đâu.”
Người bà cau mày, vẫn còn hoài nghi, rồi quay người bước đi, không mời Tracy vào trong, cũng không mở lớp cửa bảo vệ. Tracy nghe tiếng bà ta gọi con gái. “Shaniqua?” Cô không nghe thấy những lời còn lại.
Sandy Clarridge, Giám đốc Sở Cảnh sát Seattle, đã nói với các cấp dưới quyền rằng ông ta muốn một đơn vị của SPD tham gia vụ án này, và ông ta không muốn đơn vị đó chỉ là Đơn vị Hỗ trợ Nạn nhân. Ông ta muốn một điều tra viên đích thân thông báo cho gia đình nạn nhân biết mọi chuyện xảy ra mỗi khi có thể. Mong muốn của ông ta đã được chuyển đến trưởng ban của Tracy là Johnny Nolasco, và cuối cùng được chuyển tới Tracy, đó là lý do cô có mặt ở ngôi nhà này.
“Ai thế ạ?” Cô nghe thấy một giọng nói cất tiếng hỏi.
“Một điều tra viên.”
“Ông ta muốn gì?”
“Cô ta muốn nói chuyện với con.”
Một thoáng ngừng. “Cô ta có nói lý do không ạ?”
“Không. Chỉ bảo là muốn nói chuyện với con thôi. Cô ta nói có chuyện quan trọng.”
“Chờ con chút.”
Người phụ nữ lớn tuổi quay trở lại cửa. “Con bé sẽ ra ngay thôi.”
Họ đứng đó, chẳng ai nói gì vì không biết mình phải nói gì với đối phương.
Shaniqua Miller đi ra cửa, mặc quần jean xanh và áo phông. Cô ta rút chốt cánh cửa bảo vệ rồi mở nó ra. Trên cổ cô ta đeo một sợi dây chuyền vàng có treo cây thánh giá. Cô ta trông có vẻ mệt mỏi và tiều tụy, đôi mắt cô ta sưng húp. Tóc cô ta cũng được duỗi thẳng và được cặp lại đằng sau, tôn lên đôi gò má cao và đôi mắt đầy biểu cảm. “Tôi có thể giúp gì cho chị?” Cô ta hỏi.
“Chị Miller, hôm nọ chúng ta đã gặp nhau.”
Miller không trả lời ngay, như thể đang cố nhớ nhưng lại không muốn nhớ.
“Tôi là Tracy Crosswhite, một trong các điều tra viên phụ trách vụ án của con trai chị.”
“Vâng.” Cô ta nói, giọng dịu dàng. “Tôi nhớ rồi. Chị đã có mặt ở con đường đó vào cái đêm con trai tôi bị xe đâm.”
“Vâng, đúng thế. Tôi muốn thông báo cho chị biết rằng tối nay chúng tôi đã bắt được người đàn ông lái xe đâm vào con trai chị.”
Shaniqua Miller nhìn Tracy chằm chằm, không nói gì và cũng chẳng để lộ điều gì. Cô ta không tỏ vẻ giận dữ, buồn rầu, vui vẻ hay phấn chấn. Cô ta chậm rãi đưa tay lên tìm cây thánh giá trên cổ. “Chị chắc chứ?”
“Chúng tôi đã xác định được chiếc xe của anh ta chính là chiếc xe đã đâm vào con trai chị.” Tracy nói. “Và chúng tôi đã lấy được đoạn băng video ghi lại hình ảnh của người đàn ông đó ở một cửa hàng tiện lợi không xa giao lộ ấy ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn.”
“Anh ta nói gì?” Miller hỏi, các ngón tay mân mê cây thánh giá.
“Ban đầu, anh ta nói chiếc xe của anh ta đã bị đánh cắp và anh ta không có mặt ở Seattle vào thời gian đó. Tối nay, khi được cho xem bằng chứng, anh ta quyết định không nói gì cả. Anh ta đã yêu cầu có luật sư.”
Bất chấp bằng chứng bất lợi với mình, Trejo vẫn khăng khăng rằng người đàn ông trong video không phải là anh ta. Sau đó, anh ta im lặng. Thường thì Tracy và Kins có thể bắt một đối tượng tình nghi phải nói gì đó, đặc biệt là khi họ có bằng chứng bằng video đi ngược lại với lời khai của hắn. Kẻ tình nghi không phải lúc nào cũng nói ra sự thật, nhưng thường thì, ít nhất, hắn cũng cố gắng giải thích về bằng chứng ấy. Có lẽ Trejo đã quyết định rằng anh ta không thể giải thích về cuốn băng, vì vậy tốt hơn hết là không nói gì cả.
“Anh ta là ai?” Miller hỏi.
“Một binh nhì.”
“Lục quân à?”
“Hải quân. Anh ta đóng quân ở Căn cứ Hải quân Kitsap tại Bremerton.”
“Giờ thì sao?” Miller hỏi.
Tracy sẽ trở lại SPD, nơi Trejo đang bị tạm giữ. “Anh ta sẽ bị giam ở Nhà tù quận King. Chiều mai anh ta sẽ ra hầu tòa lần đầu. Chúng tôi muốn chị có mặt ở đó… nếu có thể.”
Shaniqua Miller không trả lời ngay. Cô ta nhìn qua Tracy, đôi mắt trở nên xa xăm. Sau một thoáng, cô ta định thần lại. “Mấy giờ?”
“Hai giờ.”
Cô ta thở dài. “Tôi phải đi làm. Tôi phải trở lại với công việc. Tôi không có sự lựa chọn nào cả. Tôi vẫn còn phải nuôi hai đứa con trai nữa.”
Câu nói ấy khiến Tracy ngạc nhiên bởi vì nó được thốt ra khi D’Andre chỉ vừa mới qua đời. Cuộc sống vẫn tiếp diễn, dù ta có thích hay không. Cô đã học được điều đó khi Sarah mất tích.
“Trong phiên tiền thẩm này, tòa sẽ quyết định xem liệu có đầy đủ chứng cứ để giam giữ kẻ tình nghi hay không. Anh ta sẽ không trả lời cáo trạng cho đến khi nào phiên tòa luận tội diễn ra, khoảng hai tuần nữa.” Cô ngừng lời, chắc chắn Shaniqua Miller không hứng thú với luật tố tụng hình sự. “Chị có muốn tôi giải thích tình cảnh này với chủ của chị không?”
“Dù thế nào tôi cũng sẽ không được trả lương.” Cô ta nói.
Tracy gật đầu.
“Chị nói là mấy giờ nhỉ?” Shaniqua hỏi.
“Hai giờ.” Tracy cho cô ta địa chỉ của tòa án liên bang ở tầng một của nhà tù. Rồi cô đưa cho cô ta một tấm danh thiếp có số điện thoại của cô và một tấm khác có số của Đơn vị Hỗ trợ Nạn nhân. “Chị có thể gọi điện cho tôi hoặc gọi cho số điện thoại trên tấm danh thiếp. Họ đã chỉ định một người phụ trách việc cung cấp thông tin cho chị và giải thích các quy trình trong suốt quá trình xét xử. Họ cũng có thể trả lời bất cứ câu hỏi nào mà chị đặt ra về phiên tiền thẩm hoặc phiên tòa luận tội.”
“Tôi sẽ xem mình có thể làm gì.” Shaniqua nói. Rồi cô ta bước lùi lại, chậm rãi và lặng lẽ đóng cửa.
Leah Battles nhấn mạnh bàn đạp, rẽ về phía nam vào đại lộ Westlake rồi lại rẽ vào đại lộ Năm. Cô sống trong một căn hộ ở Pioneer Square, nằm ở đầu phía nam, hay đầu kia, của thành phố. Một trong những đặc quyền của một sĩ quan là không phải sống ở căn cứ Hải quân. Tối nay việc này còn đem lại cho cô một lợi thế nữa. Laszlo Trejo đã gọi điện thoại cho cô, nói rằng anh ta bị tạm giữ ở Sở Cảnh sát Seattle, chuẩn bị được đưa sang tạm giam ở nhà tù quận. Cả SPD và Nhà tù quận King đều tọa lạc ở địa điểm nằm giữa lớp tập võ và căn hộ của cô, vì vậy cô có thể dễ dàng ghé qua nói chuyện với Trejo và thu thập thêm thông tin.
Battles biết chưa chắc sĩ quan chỉ huy của cô sẽ chỉ định cô làm luật sư bào chữa cho Trejo nếu cô đang là sĩ quan trực ca. Vai trò của cô là lập tức hỗ trợ người lính bị bắt về những vấn đề liên quan đến luật pháp. Luật sư bào chữa được chỉ định sẽ không can thiệp gì trong quá trình người lính Hải quân bị bắt giữ, đặc biệt là khi vụ án xảy ra bên ngoài căn cứ quân sự, và họ cũng chưa được chỉ định ngay mà phải đợi từ mười ngày đến hai tuần sau vụ bắt giữ ấy. Cảnh sát địa phương tiến hành các thủ tục bắt giữ nghi phạm. Nghi phạm thông báo cho sĩ quan trực ca, sĩ quan trực ca thông báo các chi tiết của vụ bắt giữ cho Bộ tư lệnh Hải quân, sau đó vụ việc sẽ được đưa xuống qua các kênh thích hợp. Nếu được cho là cần thiết, NCIS sẽ điều tra, và nếu Hải quân giành thẩm quyền xét xử, họ sẽ khởi tố vụ án. Chỉ đến khi đó, với tư cách là luật sư bào chữa, Battles mới tham gia, nếu cô được chỉ định xử lý vụ án ấy. Những trường hợp như thế có vẻ càng ngày càng trở nên thường xuyên hơn kể từ khi bộ phim tài liệu Cuộc chiến vô hình được trình chiếu. Đó là bộ phim tài liệu kể về những vụ tấn công tình dục nữ binh sĩ trong khắp các lực lượng vũ trang. Sự phẫn nộ của công chúng đã khiến các sĩ quan chỉ huy của các căn cứ quân sự chịu sức ép lớn từ Quốc hội là phải dẹp sạch các vấn đề bê bối của quân đội, và quân chủng nào cũng trở nên xông xáo trong việc khởi tố các vụ án. Hải quân cũng không ngoại lệ.
Đây không phải một vụ án tấn công tình dục, nhưng nó có vẻ nghiêm trọng, và có khả năng làm xấu mặt Hải quân. Đâm xe vào một cậu bé mười hai tuổi rồi bỏ chạy thì thật là bi thảm và hèn nhát, nếu nghi phạm bị chứng minh là có tội. Battles cũng biết rằng Văn phòng Dịch vụ Bào chữa đang thiếu người, đặc biệt là trong tình hình hiện tại, và cô là luật sư bào chữa có thâm niên. Do đó, mặc dù đang là sĩ quan trực ca, khả năng cô được chỉ định làm luật sư của Trejo có thể thực sự tăng lên nếu cô tham gia vào vụ án ngay từ bây giờ, trong một giới hạn nhất định, một việc mà cô sẽ dễ dàng làm được.
Và cô muốn giành lấy vụ án này.
Cô rất muốn.
Vào tám rưỡi tối, xe cộ đi lại trên các đường phố của Seattle thưa thớt hẳn. Tuy nhiên, nhiệt độ vẫn lạnh buốt và chiếc áo dính đầy mồ hôi của cô khiến cô càng rét hơn. Lúc cô tới SPD, khuôn mặt cô tê cóng và cơ thể run rẩy dưới lớp quần áo tập. Cô xuống xe và khóa chiếc xe đạp của mình ở khoảnh sân trước mặt tòa nhà. Vâng, làm thế khiến cô cảm thấy yên tâm hơn. Trong tuần đầu tiên ở Seattle, cô đã khóa chiếc xe đạp của mình ở bãi đỗ xe đạp bên ngoài tòa chung cư. Sáng hôm sau, khi thức dậy, cô chỉ còn thấy cái dây xích và cái ổ khóa. Kể từ đó, cô vác cả cái xe đạp vào thang máy cùng mình. Nếu ai phàn nàn, họ có thể đi cầu thang bộ.
Battles thay giày đi xe đạp thành dép xỏ ngón - cô vẫn mang tất khi đi dép xỏ ngón, một lỗi thời trang lớn ngay cả trong con mắt của những người dân Seattle vốn luôn phóng khoáng.
Bên trong sảnh của tòa nhà SPD, cô đi tới chỗ một sĩ quan mặc đồng phục đang ngồi ở cái bàn đằng sau tấm kính chống đạn Plexiglas. Trông anh ta mới ngoài ba mươi tuổi, trạc tuổi Battles, với mái tóc ngắn kiểu quân đội và bộ ngực phồng lên bởi chiếc áo chống đạn mặc bên trong bộ đồng phục. Anh ta ngước lên khi Battles tiến tới rồi nhìn khắp người cô một lượt.
“Chào anh. Tôi tới đây để gặp Laszlo Trejo.” Cô nói. “Tôi được biết anh ta bị bắt vào tối nay và đang bị tạm giữ.”
“Tôi cũng không rõ.” Viên sĩ quan nói. “Nếu anh ta đang bị tạm giữ ở đây, cô sẽ phải đợi cho đến khi anh ta được chuyển sang nhà tù. Nhưng giờ thăm viếng đã hết rồi.” Anh ta mỉm cười như một cậu bé đến tuổi dậy thì lần đầu tiên nhìn thấy hình phụ nữ khỏa thân. “Có vẻ như sớm nhất là sáng mai cô mới có thể gặp được anh ta.”
Cô giơ giấy tờ của mình lên trước tấm kính. “Mặc dù tôi ăn mặc thế này nhưng đây không phải một cuộc viếng thăm xã giao để tán gẫu về chuyến di cư hằng năm của cá hồi. Anh Trejo đã gọi điện yêu cầu luật sư. Tôi chính là luật sư của anh ta. Tôi muốn nói chuyện với anh ta trước bất cứ ai khác.”
“Cô là sĩ quan Hải quân à?” Anh ta nói, nhìn giấy tờ của cô và có vẻ ngạc nhiên. “Đại úy Battles?”
“Chính xác. Tôi còn là luật sư nữa.” Cô lại mỉm cười, dù lần này là có chút mục đích.
“Thế này nhé, Đại úy, nếu anh ta vẫn đang được làm thủ tục, cô vẫn sẽ phải đợi cho đến khi mọi thủ tục xong xuôi mới có thể nói chuyện với anh ta.” Nụ cười của viên cảnh sát nở rộng hơn. “Và, xin nói cho cô biết điều này, chuyến di cư của cá hồi năm nay tuyệt vời lắm. Tuần này tôi đã bắt được một cặp cá chúa đấy.”
Battles hy vọng đó không phải là câu nói đưa chuyện tốt nhất của anh ta. “Anh không đùa đấy chứ? Tôi không ăn được cá hồi. Nó khiến tôi buồn nôn.”
“Sống ở đây mà không ăn được cá hồi thì chán lắm nhỉ?”
“Đúng vậy. Trong mọi bữa tiệc tôi tham dự, người ta luôn đặt một miếng cá to vào đĩa của tôi. Thế là tôi phải đưa nó cho anh chàng mà tôi đang hẹn hò lúc đó.”
“Hẳn là anh ta mừng húm vì có thêm một miếng.” Viên cảnh sát cười toe.
“Đúng vậy.” Cô nói. “Cho đến khi anh ta nhận ra đó là thứ duy nhất anh ta nhận được từ tôi vào tối hôm đó.”
Chiếu tướng. Ván cờ kết thúc.
“Tôi sẽ rất cảm kích nếu anh nhấc chiếc điện thoại kia lên để gọi lên tầng trên và tìm hiểu xem thân chủ của tôi đang ở đâu.”
Viên cảnh sát ngả người ra sau, không còn cười nữa. Anh ta chỉ tay về phía mấy cái ghế. “Cô ngồi đi, Đại úy. Đêm nay có thể là một đêm dài đấy.”
Battles trả lời email trên điện thoại di động trong lúc chờ đợi. Vài phút sau, cô nghe thấy tiếng tinh báo hiệu cửa thang máy mở ra. Một người phụ nữ bước vòng qua góc tường, nhìn Battles, rồi nhìn sang viên cảnh sát mặc đồng phục ngồi sau bàn. Cô ta tỏ rõ sự bối rối. Có lẽ cô ta ngỡ rằng sẽ gặp một người đàn ông mặc bộ com lê ba món và đeo cà vạt thay vì một người trông như cô đưa thư bằng xe đạp như thế này. Viên cảnh sát mặc đồng phục hất đầu về phía Battles để xua đi bất cứ nghi ngờ nào, và người phụ nữ bước ra khỏi cửa an ninh.
Chiều cao của Battles trong hồ sơ của Hải quân là một mét sáu mươi tám. Đấy là họ còn rộng tay rồi đấy. Người phụ nữ này phải cao hơn cô hẳn một cái đầu, cặp chân của cô ta rất dài. Cô ta có mái tóc vàng hoe và đôi mắt xanh giống như một vận động viên bóng chuyền bãi biển mặc quần soóc ngắn cũn cỡn trong giải đấu Olympic. Chưa từng có ai nói rằng Battles có cặp chân dài, hoặc đoán rằng cô đã dành nhiều thời gian trên một bãi biển ở miền Nam California. Cô có mái tóc sẫm và làn da ngăm của cha, đặc biệt là khi cô bị rám nắng vào mùa hè. Cô đã lớn lên trên vùng Bờ Đông.
Người phụ nữ này như được viết chữ cớm ở khắp người vậy - ừ thì chiếc phù hiệu kẹp ở thắt lưng gần chỗ khẩu súng đã tiết lộ điều đó, cũng như việc Battles đang ở trụ sở cảnh sát, nhưng đó không phải là thứ đầu tiên ở cô ta gây ấn tượng với cô. Thứ gây ấn tượng với cô chính là phong thái và bước đi tự tin của cô ta.
“Tôi đoán chị không phải là Laszlo Trejo.” Battles nói.
“Tôi là điều tra viên Tracy Crosswhite. Tôi có thể giúp gì cho cô?”
“Chị có thể giúp được tôi nếu chị đưa binh nhì Trejo ra đây và sắp xếp cho tôi một phòng để tôi nói chuyện với anh ta.”
Crosswhite chỉ cười nửa miệng. “Và cô là?”
“Leah Battles. Tôi là luật sư, luật sư quân sự thuộc Căn cứ Hải quân Kitsap ở Bremerton. Xin lỗi chị, nhưng tôi không có thời gian để mặc quân phục trước khi đến đây. Nếu tôi mặc quân phục thì có lẽ sẽ khiến người khác đỡ bối rối hơn nhỉ?”
“Cô có giấy tờ gì chứng minh không?” Nghe giọng Crosswhite có vẻ hồ nghi.
Battles liếc nhìn viên cảnh sát mặc đồng phục đang ngồi sau bàn giấy, nhưng anh ta chỉ mỉm cười. Cô bực tức, mò mẫm trong ba lô và một lần nữa đưa giấy tờ của mình ra. “Chị gặp nhiều người giả vờ là luật sư quân sự đến yêu cầu được nói chuyện với thân chủ lắm à?”
“Không phải thế.” Crosswhite nói, cầm lấy chỗ giấy tờ. “Bởi vì chúng tôi thường không cho ai gặp gỡ các nghi phạm. Nhà tù cũng vậy, sau giờ thăm viếng.”
Một nước cờ hay. Battles thích người phụ nữ này. Cô cá rằng Crosswhite có thể chơi một ván cờ tuyệt vời. “Nhưng với tư cách một luật sư quân sự, tôi có thể gặp thân chủ của mình vào bất cứ lúc nào tôi muốn.”
Crosswhite không nói năng gì. Cô chăm chú xem xét các giấy tờ. “Đây là giấy tờ của bang Virginia. Cô có được cấp giấy phép hành nghề ở bang Washington không?”
“Tôi được cấp giấy phép hành nghề trong Hải quân Mỹ, nó phần nào giống như một công ty luật toàn cầu vậy, nhưng hiện tại tôi công tác ở Căn cứ Hải quân Kitsap ở Bremerton, nơi Laszlo Trejo đang đóng quân, đó là lý do anh ta gọi cho tôi, đó là lý do tôi tới đây, đó là lý do tôi muốn nói chuyện với anh ta.”
Crosswhite vẫn điềm tĩnh. “Hải quân đang giành quyền xét xử à?”
“Tôi không biết. Tôi chỉ biết anh Trejo đã gọi điện cho sĩ quan trực ca, chính là tôi. Anh ta thông báo rằng mình vừa bị bắt, và yêu cầu một luật sư. Tôi chính là luật sư đó.”
“Cô từ Bremerton đến đây cũng nhanh nhỉ?”
“Tôi là người bơi giỏi mà.”
Crosswhite mỉm cười và trả lại giấy tờ cho Battles. “Đáng lẽ cô không nên vội vã như vậy. Cô sẽ không được gặp anh Trejo cho đến sau khi chúng tôi hoàn tất các thủ tục bắt giữ anh ta.”
“Và bỏ lỡ toàn bộ chuyện thú vị này ư? Thưa điều tra viên, tôi tò mò muốn biết anh Trejo đang làm gì ở đây, ở trụ sở cảnh sát?” Trejo đã kể với Battles rằng anh ta tới đây mong lấy lại chiếc xe của mình từ bãi giam xe của cảnh sát và anh ta tới Seattle cũng chỉ vì lý do đó thôi.
“Cô sẽ phải hỏi anh ta.”
“Chị không bịa ra một cái cớ để lừa anh ta đến đây đấy chứ?… Dụ anh ta ra khỏi căn cứ để chị có thể bắt anh ta?”
“Anh Trejo không sống ở căn cứ.” Crosswhite nói. “Vì vậy tôi sẽ không cần bất cứ cái cớ bịa đặt nào để bắt giữ anh ta. Nhưng tôi xin nói lại một lần nữa, cô có thể hỏi anh ta khi nào cô nói chuyện với anh ta.” Cô quay đi và bước trở lại cửa an ninh.
“Anh ta đã đề nghị được nói chuyện với một luật sư.” Battles nói sau lưng Crosswhite. “Tôi sẽ rất cảm kích nếu chị cho các đồng nghiệp của mình biết một chi tiết đó thôi.”
Crosswhite không trả lời. Cô không quay lại. Cửa an ninh kêu lên một tiếng và cô bước vào trong, để cánh cửa đóng lại sau lưng. Viên cảnh sát mặc đồng phục ngả người vào lưng ghế với một nụ cười hả hê.
Battles cũng mỉm cười. Cô không ngán một đối thủ mạnh mẽ. Cô còn chào mừng đối thủ ấy là khác. Sự cạnh tranh sẽ khơi lên năng lực tiềm ẩn trong cô, và cuộc tiếp xúc vừa rồi với Crosswhite chỉ càng khiến cô muốn giành lấy vụ án này.
Mà trước đây cô đã muốn có nó lắm rồi.
Tracy thả chùm chìa khóa vào cái bát gỗ trên cái bàn cổ kiểu nông trại. Cô và Dan đã mua cái bàn này ở một cuộc thanh lý đồ cũ tại một điền trang gần biên giới Canada. Bên cạnh cái bát là bức ảnh cưới của cô, được đóng khung và đặt trên một cái giá. Đằng sau cái bàn là hai ô cửa sổ lớn đem lại cho căn phòng lượng ánh sáng dồi dào, mặc dù không phải vào lúc sáng sớm như thế này. Các cửa sổ quay mặt về phía đông, hướng ra bãi chăn ngựa và những ngọn đồi nhấp nhô phủ đầy cây cối, vì thế mà chẳng cần phải dùng đến rèm - trừ khi bạn là một điều tra viên án mạng và dành nhiều thời gian để săn đuổi những kẻ bệnh hoạn hay suy đồi. Cô muốn lắp tấm che cửa sổ. Dan thì không. Họ đã thỏa hiệp. Dan đã lắp những ngọn đèn pha ở ngoài trời có gắn thiết bị cảm ứng chuyển động. Đó có vẻ là một giải pháp tối ưu cho đến khi các ngọn đèn cứ liên tục bị kích hoạt khi những con thú thi nhau mon men lại gần ngôi nhà của họ - sóc, gấu mèo, hươu, Rex và Sherlock, thậm chí cả con mèo của Tracy là Roger. Từ lúc chuyển đến đây, con mèo mới được phép đi ra ngoài chơi.
“Tracy?”
Dan bước ra từ phòng ngủ, mặc quần dài pyjama và áo phông in chữ Đại học Boston, trường cũ của anh. Rex và Sherlock cũng nhẹ nhàng bước ra chào đón cô với cái đuôi ngoáy tít. Cô nghe thấy tiếng ti vi vọng ra từ phòng ngủ. Các chuyên gia về hôn nhân vẫn khuyên rằng đặt ti vi trong phòng ngủ là một điều cấm kỵ, nhưng trong nhà chẳng còn chỗ nào khác để dành cho nó cả. Dan đang cầm bàn chải và nói qua cái miệng đầy bọt kem đánh răng.
“Anh đã không…” Anh lúng búng nói. “Chờ chút nhé!” Anh biến mất vào trong phòng tắm. Tracy nghe thấy tiếng nước ở bồn rửa mặt. Lát sau, Dan trở ra, không còn cầm bàn chải đánh răng nữa. “Anh đã không nghe thấy tiếng em vào nhà.”
Cô xoa đầu hai con chó. “Tối nay bọn em đã bắt được nghi phạm trong vụ gây tai nạn rồi bỏ chạy và phải làm thủ tục để đưa anh ta tới phiên tòa thẩm định bằng chứng vào chiều mai.” Cô hôn Dan và bước qua anh để vào bếp.
“Anh chàng ở Hải quân đó hả?” Dan hỏi.
“Vâng.” Cô mở một ngăn tủ bếp và rót một cốc nước ở bồn rửa.
“Em đã nói em nghĩ anh ta là thủ phạm.”
Cô uống cốc nước để nuốt trôi hai viên thuốc Advil rồi nói: “Đoạn băng video đã chứng thực điều đó.”
“Em bị đau đầu à?” Dan hỏi, tựa người vào khung cửa.
“Không, vai em bị nhức.” Vai của cô bị tổn thương hơn hai năm trước, khi một kẻ biến thái đột nhập vào nhà cô ở Tây Seattle và khống chế cô từ đằng sau. Bác sĩ chuyên khoa chỉnh hình nói cô đã bị rách một phần cơ quay khớp vai. Nếu vật lý trị liệu không giải quyết được vấn đề, cô sẽ phải phẫu thuật và cần sáu tháng để hồi phục. Hoặc là cô có thể bắt chước Kins, uống ibuprofen mỗi ngày cho đến khi cơn đau trở nên dữ dội đến mức không thể chịu nổi nữa.
“Anh ta nói gì khi em cho anh ta xem đoạn băng video ấy?”
“Anh ta muốn gọi điện thoại.” Cô đi vào phòng ngủ và ngồi lên giường, loay hoay cởi giày.
“Anh cho rằng anh ta gọi điện cho một luật sư?” Dan cầm lấy từng bên chân của cô và giúp cô cởi giày ra.
“Luật sư quân sự từ Bremerton.” Cô nói, lắc lắc hông để cởi quần jean.
“Thật ư?” Nghe giọng anh có vẻ ngạc nhiên.
“Vâng, thế thì sao?” Cô bước tới tủ quần áo và treo quần lên một cái móc.
“Luật sư quân sự thường không nhúng tay vào vụ án nhanh như vậy, đặc biệt là luật sư bào chữa. Họ thường phải trình vụ việc lên cả một hệ thống cấp bậc trước đã để những người có thẩm quyền quyết định xem liệu quân đội có giành quyền xét xử hay không. Họ có giành quyền xét xử vụ này không vậy?”
“Em không biết. Em đã hỏi cô ta. Nhưng cô ta cũng không biết.” Cô cởi áo sơ mi và áo lót rồi mặc vào một cái áo phông của Dan in hình Rex và Sherlock. Trên áo có dòng chữ: Chúng tôi không ương ngạnh. Chỉ là cách của chúng tôi tốt hơn thôi. “Nhưng có một luật sư quân sự đã đến nhà tù để nói chuyện với anh ta.”
“Có vẻ như họ sẽ giành quyền xét xử. Nếu không, anh ta đã nhận tội hoặc không nhận tội rồi. Em có cuốn băng video; anh ta nói gì?”
“Vào lúc này, anh ta chẳng nói gì, kể cả về đoạn video. Em đã nghĩ anh ta sẽ cố gắng giải thích. Có lẽ anh ta không thể. Em cũng không biết nữa.” Cô đánh răng ở bồn rửa mặt trong phòng tắm, rồi trở lại phòng ngủ.
“Em đói không? Có muốn anh làm gì cho em ăn không?” Dan hỏi.
“Cảm ơn anh, nhưng lúc nãy em đã mua xa lát và ăn ở bàn làm việc rồi.” Kins cũng đã xuôi xuôi khi bị thuyết phục mua một suất xa lát cho đến khi anh mở thực đơn các món ăn mua mang về và gọi một chiếc sandwich kẹp thịt bò ướp hun khói. “Em chỉ mệt thôi.”
Dan tựa người vào khung cửa phòng ngủ. “Em ổn chứ?”
“Vâng, sao vậy?” Cô giở cái chăn nhồi lông ngỗng ra.
“Bác sĩ Kramer đã gọi đến điện thoại bàn để hỏi xem em cảm thấy thế nào. Ông ấy gửi lời nhắn cho em đấy.”
Tracy dừng sững lại.
“Em đang uống Clomid à?” Anh hỏi.
Tracy chưa kể với Dan về chuyện cô đang dùng loại thuốc ấy. Cô chỉ kể với anh rằng bác sĩ Kramer khuyên họ cứ tiếp tục cố gắng. Cô đã hy vọng nhờ uống loại thuốc này, cô sẽ mang thai, và cô sẽ không phải thú nhận với Dan rằng cô đã quá già - rằng vấn đề là ở cô.
“Đây là một trong những kỹ thuật đối chất của anh phải không? Dụ nhân chứng nói chuyện, rồi ném cho cô ta câu hỏi mà anh thực sự quan tâm?”
“Đừng làm thế.” Anh nói, giọng hoàn toàn nghiêm túc, đôi mắt gắn chặt vào cô. “Chúng ta đã nói về chuyện này; chúng ta đã nói về chuyện cùng nhau đưa ra quyết định.”
“Vâng, đúng là chúng ta đã thống nhất như vậy.”
“Thế mà em vẫn chẳng hỏi ý kiến anh?”
Tracy thở dài. “Khả năng mang thai của em rất thấp, Dan à. Các phương pháp đều không hiệu quả. Chỉ còn cách dùng thuốc hỗ trợ sinh sản hoặc sử dụng trứng hiến tặng.”
“Chuyện đó thì liên quan gì đến việc em tự mình quyết định?”
“Em không nên như vậy. Được chưa? Em xin lỗi.” Cô bắt đầu leo lên giường.
“Thế sao em lại làm vậy?”
“Chúng ta nói chuyện này sau được không?”
“Không. Em đã giấu giếm anh. Anh nghĩ anh có quyền được biết lý do.”
“Em không giấu giếm.”
“Em không nói với anh còn gì.”
“Sáng mai em phải đi làm sớm để chuẩn bị cho phiên tòa thẩm định bằng chứng.” Cô nói, hất những cái gối mà cô không dùng đến xuống sàn nhà.
“Anh cũng phải đi lấy lời khai của nhân chứng.”
“Vậy hãy đi ngủ đi và bàn về chuyện này sau.”
Dan rời khỏi khung cửa. “Clomid có những tác dụng phụ; chúng ta đã nói về vấn đề đó rồi.”
“Cái gì thế, anh định nói rằng tâm trạng của em mấy hôm nay thật dở hơi chứ gì?”
“Anh không nói vậy, nhưng bây giờ anh có thể nói thế đấy.”
“Thông minh lắm.” Cô tóm lấy một cái gối và bước qua người anh, quyết định rằng cô sẽ ngủ trên xô pha ngoài phòng khách.
“Này, đừng có làm như đây là lỗi của anh. Đáng lẽ em phải bàn với anh. Đây cũng là con của anh mà.”
Cô biết anh đúng, nhưng cô đã được thừa hưởng tính nết cứng đầu của cha mình. “Vâng, nhưng có vẻ như trong thời gian tới anh sẽ chẳng phải lo lắng về vấn đề đó đâu.” Cô tóm lấy một cái chăn từ cái ghế đọc sách và đi về phía xô pha.
“Thế có nghĩa là gì?”
Cô xoay người và dừng lại. “Thế nghĩa là em không thể mang thai.” Cô nói. “Được chưa? Thế nghĩa là vấn đề là ở em.”
Trong một thoáng, Dan không nói gì, khiến Tracy băn khoăn tự hỏi anh thực sự đang nghĩ gì. Anh có tha thiết mong mỏi có con không? Phải chăng anh đang suy nghĩ lại về quyết định kết hôn với cô?
Dan dịu giọng. “Anh không quan tâm đến đứa bé. Anh quan tâm đến em. Anh quan tâm đến sức khỏe của em.”
Cô thở dài. “Bác sĩ nói các tác dụng phụ là rất nhỏ. Chỉ là tâm trạng thay đổi thất thường và hay có những cơn bốc hỏa thôi. Em ổn mà. Em xin lỗi vì đã không nói với anh. Đáng lẽ em nên nói với anh mới phải.”
Dan hít một hơi sâu. Khi anh lại cất tiếng, anh đã điềm tĩnh. Anh luôn điềm tĩnh. Thi thoảng cô ước anh sẽ quát tháo và ném đồ chỉ để cô có thể nổi quạu với anh. “Hãy cho anh biết tại sao em lại không nói.”
Cô lắc đầu.
“Sao nào?”
Cô biết những gì cô định nói là ấu trĩ và điều đó cũng khiến cô phiền lòng. Nhưng cô đã muốn có con cùng anh, và đứa bé đó phải là kết tinh của hai người họ. “Hôm đó, khi anh đi lấy kết quả từ chỗ bác sĩ về, hoàn toàn phấn khích, vung nắm tay vui mừng và… Em đã không muốn làm anh thất vọng. Em đã không muốn mình là lý do khiến chúng ta không thể có con.”
Dan thở ra một hơi và đi về phía cô. Anh bỏ cái gối cô đang cầm ra và đặt hai tay lên vai cô. “Lúc đó anh phấn khích vì anh nghĩ em muốn có con.”
“Anh thì không ư?”
“Dĩ nhiên là anh muốn chứ. Nhưng nếu điều đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của em thì không. Em là điều quan trọng nhất đối với anh, Tracy, chứ không phải một đứa trẻ nào đó mà anh thậm chí còn chưa biết đến. Anh xin lỗi nếu anh đã tỏ ra quá khích về vụ tháo ống dẫn tinh. Lúc đó anh chỉ đang cường điệu tình huống ấy lên thôi. Anh đã nghĩ em sẽ vui nếu anh tỏ ra hào hứng một chút.” Anh mỉm cười, nhưng cô không thể. “Này, thôi nào. Sinh lý của mỗi người là khác nhau mà, Tracy. Chà, Mick Jagger vừa mới có đứa con thứ tám ở tuổi bảy mươi ba đấy.”
“Anh nói thế để làm em vui lên đấy à?”
“Chính xác thì bác sĩ đã nói gì?”
“Em cần uống Clomid trong mười bốn ngày. Nếu nó không hiệu quả, chúng ta sẽ xem xét phương pháp sử dụng trứng hiến tặng. Hoặc nhận con nuôi.”
“Được rồi, thế thì…”
Cô rụt người lại khỏi anh. “Em không muốn con của người khác đâu Dan. Em muốn con của chúng mình. Em muốn có đứa trẻ của chúng mình.” Cô đang rên rỉ và cô biết điều đó.
Dan gật đầu. “Được rồi.” Anh khẽ nói. “Vậy thì chúng ta sẽ tiếp tục cố gắng và nếu biện pháp này không hiệu quả thì chúng ta sẽ bàn về quyết định đó.” Anh mỉm cười và bước về phía cô. Cô bật khóc. “Này. Không có vấn đề gì đâu mà.”
“Có đấy, có vấn đề đấy.” Cô nói, lau nước mắt, cảm thấy ngập tràn xúc động. “Đây không phải là cuộc sống mà em nghĩ là mình sẽ có, Dan ạ. Em đã không nghĩ là mọi chuyện sẽ diễn ra thế này. Em đã nghĩ mình sẽ có ba đứa con. Em sẽ là một bà mẹ, tới các buổi họp phụ huynh và những trận thi đấu bóng đá, giúp bọn trẻ làm bài tập về nhà, và ngồi ăn tối cùng gia đình.” Cô thở ra một hơi, lắc đầu. “Chuyện gì đã xảy ra với cuộc đời em vậy? Chuyện quái gì đã xảy ra với cuộc đời em vậy?”
Họ đứng im lặng trong một lúc lâu, và Tracy nhận ra cô đã làm anh tổn thương. “Dan, em đã không…”
Dan nhún vai. “Anh cứ hy vọng em sẽ nói cuộc đời em đã trở nên tốt đẹp hơn cơ.”
Cô cảm thấy nôn nao, và tình trạng này chẳng liên quan gì đến các tác dụng phụ của Clomid. “Em xin lỗi. Em không có ý như vậy.”
Anh bước lùi lại khỏi cô. “Em không nghĩ anh cũng cảm thấy như vậy sau cuộc ly hôn của anh ư? Em nghĩ anh không tự hỏi chuyện gì đã xảy ra với cuộc đời của anh ư? Anh đã có một người vợ, một công việc tốt ở một công ty tốt, một công việc mà anh yêu thích. Anh lái một chiếc xe BMW và mua vé cả mùa để xem đội Red Sox thi đấu… và có một chiếc thuyền riêng. Thế rồi, chỉ trong tích tắc, tất cả đều biến mất. Đồng nghiệp cũ của anh đã lấy đi hết mọi thứ: người vợ, những tấm vé và con thuyền, và anh trở lại Cedar Grove. Em nghĩ anh không tự hỏi vì đâu mà mọi chuyện trở nên tồi tệ như thế à?”
Cô bước tới chỗ anh. “Anh đã chẳng làm gì để gây ra điều đó cả, Dan à.”
“Có lẽ anh đã làm gì đó.”
“Cô ta đã lừa dối anh.”
“Đúng thế, nhưng có lẽ vì anh đã không ở bên cô ấy đủ nhiều.”
“Thi thoảng em cũng băn khoăn về điều đó.” Cô nói.
“Gì cơ?”
“Giá mà lúc ấy em lái xe đưa Sarah về nhà.”
Anh lắc đầu. “Sarah đã bị một kẻ tâm thần sát hại, Tracy. Hắn đã theo dõi con bé và hắn theo dõi cả em nữa. Và mặc dù chuyện đó thật tồi tệ, nhưng anh muốn nghĩ rằng có lẽ Chúa đã giữ em lại… để dành cho anh.”
Cô lại òa khóc. Dan luôn cố gắng nói được điều đúng đắn. Ngay từ hồi họ còn nhỏ, là bạn bè lớn lên bên nhau ở Cedar Grove, Dan đã luôn tìm được cách nói điều mà Tracy cần nghe. Đó là một phẩm chất mà Tracy không có - một khả năng suy xét mọi thứ để tìm ra điều gì đó dẫu không tích cực thì ít nhất cũng lạc quan. Sau một lúc lâu, cô nói: “Đối đầu với anh thực sự rất khó, anh biết điều đó chứ?”