Nhìn từ bên ngoài, ngôi nhà gạch một tầng giản dị ở khu Loyal Heights của Seattle trông rất giống những ngôi nhà khác ở xung quanh. Thảm cỏ dốc ủ rũ trông như đang ngủ đông, chẳng tỏ dấu hiệu gì là mùa xuân sắp đến. Các luống hoa cũng vậy. Đối với Del, nó thật ảm đạm, như thể ngôi nhà cũng đang để tang cho cái chết của Allie.
Một chiếc xe hơi nhấn còi lịch sự. Del nhìn vào gương chiếu hậu và vẫy tay xin lỗi. Vì nhiều ngôi nhà không có đường dẫn hoặc ga ra nên các phương tiện phải đỗ dọc hai bên lề đường, khiến con đường chỉ vừa đủ rộng cho một chiếc xe đi qua. Anh len chiếc Impala 1965 màu xanh đen vào một vị trí bên vệ đường. Anh đã cố gắng giữ lại chiếc xe này sau khi ly hôn, mặc dù vợ cũ của anh là Norma đã bắt anh phải trả một cái giá cắt cổ. Nó vốn là xe của cha anh. Ông đã trao nó cho Del khi DMV từ chối cấp bằng lái cho ông sau lần thứ ba ông bị đột quỵ. Kể từ đó, Del lái chiếc Impala đi làm hằng ngày, đến nay nó đã đi được bốn trăm sáu mươi lăm nghìn kilomet. Động cơ nguyên bản của nó vẫn nổ đều đều, và nước sơn vẫn ánh lên bóng loáng dưới những ngọn đèn đường. Anh thay dầu và bộ lọc thường xuyên, thay bugi và phanh khi cần, và súc xả cặn két nước mỗi năm một lần. Anh nói với mọi người rằng anh chăm chút chiếc xe còn hơn cả chăm chút cơ thể mình. Đó không phải lời nói đùa. Khi các cháu trai của anh tham gia giải bóng chày Little League, nghe lời nài nỉ của chúng, anh đã lái chiếc xe trong buổi diễu hành. Bọn trẻ rất yêu nó.
Anh lại nhìn ngôi nhà của em gái, nó như bị đóng khung giữa những nhành cây của hai cây mận trưởng thành mọc lên từ những vuông đất trên vỉa hè. Ngọn đèn phía trên cửa chính hắt ra một quầng sáng nhợt nhạt, như thể đánh dấu rằng đây là một ngôi nhà bị bệnh dịch. Vào mùa đông ở Seattle, màn đêm buông sớm và tan muộn, nhưng bóng tối âm u bao phủ ngôi nhà này chẳng liên quan gì đến thời điểm trong năm hay giờ giấc trong đêm.
Anh đã giúp em gái anh là Maggie mua ngôi nhà này với khoản tiền tiết kiệm vốn chẳng nhiều nhặn gì của mình. Ngôi nhà cũng không bề thế lắm, chỉ rộng gần một trăm năm mươi mét vuông với hai phòng ngủ ở mặt sàn chính. Del đã cải tạo lại tầng hầm để làm phòng ngủ cho hai cậu nhóc song sinh cùng trứng. Anh không nghĩ hai đứa sẽ chuyển lên phòng của Allie; Maggie đã không lại gần căn phòng ấy kể từ buổi sáng cô phát hiện Allie đã chết.
Anh chộp lấy cái túi giấy màu nâu ở ghế ngồi và lê bước trên lối đi bê tông. Sương giá phủ trùm lên thảm cỏ và những chiếc lá của luống hoa đỗ quyên. Cửa sổ ở mặt trước của ngôi nhà được che mành nhưng ánh sáng màu xám xanh vẫn lọt ra qua các kẽ hở. Nếu Del gõ cửa, ti vi sẽ tắt phụt, nhưng anh chẳng bao giờ phải gõ. Em gái anh chỉ khóa cửa chính khi nào cô đi ngủ, và dạo gần đây, cô còn chẳng buồn khóa cửa, mặc kệ những lời quở trách của Del.
Del đẩy cửa mở ra. Hai cậu cháu trai của anh đang ngồi ngả ngón trên xô pha liền cuống quýt chạy như những con sóc hoảng hốt. Một đứa quờ quạng tìm điều khiển từ xa. Quá muộn rồi. Anh đã bắt quả tang chúng đang xem một tập phim Seinfeld phát lại. Là lỗi của Del. Anh đã khiến chúng mê mẩn Jerry, George, Elaine và Kramer từ cái tuần lễ anh đến ở cùng để trông bọn trẻ giúp em gái khi cô đi dự đám cưới một người bạn.
“Các cháu đã làm xong hết bài tập về nhà chưa?” Del hỏi khi bước vào nhà.
“Chúng cháu vừa mới nghỉ giải lao ạ.” Stevie đáp, dáng vẻ và giọng nói đều có vẻ bối rối.
Thư từ nằm vương vãi trên sàn nhà ở chỗ người đưa thư nhét chúng vào qua khe cửa, những tờ báo chưa mở vứt bừa bộn trên bàn giữa những cái bát và cốc, còn tất và giày thì nằm ngổn ngang, lộn xộn. Del vẫn thường ghé qua đây trước khi đi làm ca đêm, nhưng với số lượng án mạng mà họ đã có trong năm nay, việc này đang ngày càng trở nên khó khăn hơn.
“À há.” Del nhìn chằm chằm một gói khoai tây chiên rỗng và một lọ nước xốt salsa giữa những tờ báo và tạp chí trên bàn. “Các cháu đã ăn tối chưa?”
“Chưa ạ.” Mark nói. “Mẹ cháu đang ngủ. Cháu nghĩ vậy.”
Del nhìn về phía hành lang tối đen. “Hôm nay các cháu có nói chuyện với bố không?”
“Không ạ.” Cả hai đứa lần lượt đáp.
Chuyện này cũng không có gì lạ. Cha của chúng làm việc cho một hãng bảo hiểm ở Los Angeles và đã gặp người vợ mới trẻ trung ở đó. Anh ta đã tới đám tang của Allie, trách móc Maggie về cái chết của cô bé, rồi rời đi vào ngày hôm sau. Nếu mà anh ta không đi ngay như thế, chắc Del đã tống tiễn anh ta về Los Angeles với một dấu giày da cỡ mười bốn in lên một chỗ rất nhạy cảm trên cơ thể.
Del cúi xuống nhặt đống thư và tạp chí. “Các cháu không nhặt thư lên được à?”
“Bọn cháu không nhìn thấy.” Mark nói. Chúng thường xuyên nói thay cho nhau.
“Có lẽ các cháu cần đeo kính.” Del nói. Anh soi xét hai cái ba lô thả ở gần cửa chính bên cạnh những đôi giày tennis vứt lăn lóc và đống áo khoác. “Có vẻ như các cháu cũng không nhìn thấy ba lô hoặc quần áo của mình.”
Chúng không đáp lời. Đối với những cậu nhóc chín tuổi, thái độ đó chính là sự thừa nhận tội lỗi. Thường thì chúng biện bạch nhanh như chảo chớp vậy. Del xem qua đống thư và nhìn thấy cái tên Allie Marcello qua phần trổ trong suốt trên một chiếc phong bì. Nó giống như một tấm séc, có thể là khoản tiền lương cuối cùng của Allie cho công việc ở tiệm cà phê. Vào lúc này, anh không cần nhìn thấy nó, em gái anh cũng vậy.
Cảm thấy nước mắt đang dâng trào, anh nói: “Được rồi. Vào bếp đi. Bác có burrito này.”
Bọn trẻ trèo xuống khỏi xô pha, đi theo anh như hai chú chó sắp sửa được cho ăn. Del bật đèn bếp lên. Xoong nồi, bát đĩa, cốc chén và dao nĩa bày la liệt trên kệ bếp và bồn rửa. Cửa tủ bếp mở toang hoác. Một cái khăn lau bát đĩa nằm chỏng chơ trên sàn. Anh đặt đống thư vào chồng thư mà anh để trên kệ bếp ốp gạch từ ngày hôm trước. Chúng vẫn chưa được bóc ra. Danh sách các đồ cần mua do anh viết cũng chưa được động đến.
“Lấy mấy cái đĩa sạch ra đây, Stevie.”
Del mở tủ lạnh và thấy các ngăn tủ trống không, ngoài mấy thứ gia vị và chỗ spaghetti mà anh đã làm từ hai đêm trước còn thừa lại. Anh sẽ cần đi chợ lần nữa nếu anh không thể thuyết phục được em gái ra khỏi phòng.
“Chẳng còn cái đĩa sạch nào đâu bác ạ.” Stevie nói, nhìn vào cái tủ bát đĩa trống trơn.
Del mở máy rửa bát đĩa ra. “Chẳng phải tối qua bác đã dặn các cháu cất bát đĩa đi rồi ư?”
“Chúng cháu quên mất ạ.” Mark nói.
“Có lẽ đống bài tập về nhà mà các cháu đang làm đã đè nặng lên đầu óc của các cháu.”
“Chúng có thể đè nặng lên đầu óc của ta ạ?” Mark nói, mở to mắt.
“Chúng đè nặng lên tất cả mọi thứ khác.” Del nói. Anh lấy những cái đĩa sạch ra khỏi máy rửa bát đĩa và đưa chúng cho bọn trẻ. “Các cháu có cần dao nĩa không?”
“Để làm gì ạ?” Stevie hỏi.
“Thôi khỏi.”
Bọn trẻ mang đĩa tới bàn bếp. Chân ghế của chúng rung lên khi chúng kéo lê những cái ghế trên sàn nhà lót vải sơn. Mark định vặn nắp chai Coca-cola cho người ăn kiêng còn đầy một nửa.
“Không được uống Coca trong bữa tối.” Del nói.
Dáng vẻ và giọng nói của Mark cứ như vừa bị tước đoạt quyền hiến định. “Bọn cháu được uống gì ạ?”
“Sữa.” Del nói.
“Hết sữa rồi ạ.”
Del đặt cái túi lên kệ bếp và lấy ra một hộp sữa. Đáng lẽ anh nên mua hai hộp, mà có lẽ phải mua cả một con bò mới đúng, vì bọn trẻ vốn uống nhanh như gió vậy.
“Bác của cháu!” Stevie giơ một tay lên. “Đừng để cháu giơ tay mãi như vậy, bác Del.”
Del liền đập tay với cậu. Không chịu thua kém, Mark giơ nắm tay lên để cụng tay với bác mình. “Tuyệt lắm, bác D.”
Del cụng tay với Mark và rót sữa vào hai cái cốc. Bọn trẻ gần như uống cạn ngay. Mark ợ một tiếng và Stevie cố gắng ợ to hơn.
“Các cháu không nói Xin thứ lỗi sao?” Del nhắc nhở.
“Tại sao ạ? Có ai xì hơi à?” Mark thắc mắc. Câu nói đó khiến cả hai đứa cùng cười phá lên.
“Các cháu đúng là một cặp hề chèo.” Del đưa cho chúng suất burrito nhân thịt gà. Chúng lột lớp giấy thiếc bọc bên ngoài ra và ngầu nghiến những chiếc bánh như thể đã bị bỏ đói suốt cả ngày. “Hôm nay các cháu có dùng số tiền bác cho để mua đồ ăn trưa không đấy?”
“Có ạ.” Stevie nói qua cái miệng nhổm nhoàm đầy cơm và đậu.
“Các cháu đã ăn gì?”
“Pizza ạ.”
“Lần gần đây nhất các cháu ăn rau là khi nào?”
“Cháu không biết.” Mark nói.
“Cháu đã ăn một miếng táo lúc ở trường.” Stevie nói.
“Thôi được rồi. Sau khi các cháu ăn xong, bác muốn xem thời khóa biểu của các cháu. Bác muốn xem bài tập về nhà của các cháu có gì.”
“Bọn cháu không có bài tập về nhà.” Stevie nói.
“Bác tưởng các cháu nói các cháu đang nghỉ giải lao?” Del nhướng mày.
Stevie nhìn Mark qua miếng burrito, đôi mắt Mark trợn trừng như muốn mắng: Im đi đồ ngốc!
“Đừng bao giờ nói dối một điều tra viên.” Del nói. Anh xoa đầu các cháu và đi vào bếp, bật đèn ở hành lang. Anh đi ngang qua cánh cửa phòng vẫn đóng im ỉm của Allie và gõ hai tiếng lên cánh cửa ở cuối hành lang. Ánh sáng đầy màu sắc từ ti vi lập lòe qua khe hở giữa cánh cửa và sàn gỗ cứng. Del đẩy mở cánh cửa.
Maggie ngồi trên giường, mặc chiếc quần pyjama và cái áo choàng tắm. Trong phòng không bật đèn. Ánh sáng màu xám xanh từ ti vi tỏa ra khắp phòng. “Em không nghe thấy tiếng anh đến.” Cô ngồi khoanh chân và cố vuốt thẳng tóc nhưng vô ích. Trông cô như một người bị cúm cả tuần, chưa tắm gội gì.
“Hôm nay em đã ra khỏi giường chưa đấy, Maggie?”
“Rồi.” Cô nói, hơi quá nhanh. “Em đã… em đã ra ngoài. Em vừa mới lên giường một tiếng trước thôi.”
“Em đã đi đâu vậy?”
“Em đi làm mấy việc vặt.”
“Em có đi chợ như anh bảo không?”
“Có, em có mua mấy thứ.”
Del bước tới cửa sổ và mở nó he hé. Căn phòng bốc mùi chua lòm như mùi tủ quần áo của một người già. Anh bật một ngọn đèn treo tường ở phía bên kia giường.
“Danh sách đồ cần mua vẫn nằm trên kệ bếp.”
“Em quên mang nó theo.”
“Xe của em vẫn đỗ ở chỗ hôm qua.”
“Em đỗ nó ở đó khi em về mà. Chỗ đó vẫn còn trống.”
Tối qua Del đã dùng phấn để đánh dấu vị trí lốp bánh xe đằng trước của cô. Cô chưa hề lái xe đi đâu. Đừng bao giờ nói dối một điều tra viên.
“Em đã gọi điện cho vị bác sĩ tâm lý mà anh cho em số chưa?” Anh chỉ vào mảnh giấy nằm giữa đống lộn xộn trên cái bàn kê ở đầu giường của cô.
Cô quay sang như thể mới nhìn thấy nó lần đầu tiên. “Ồ, ờ, chưa. Em bận quá nên quên mất.”
“Nếu ngày mai em không gọi điện cho ông ta, anh sẽ đặt lịch khám cho em.”
“Em không cần anh đặt lịch khám cho em đâu.”
“Ngày mai nhớ gọi nhé! Nếu không anh sẽ gọi điện cho ông ta đấy.”
Maggie thở dài và nhìn đi chỗ khác.
Anh nhặt quần áo trên sàn và ném chúng lên một cái ghế ở góc phòng. “Em vẫn còn hai đứa con trai ở ngoài kia. Chúng cần mẹ, Maggie. Trong nhà chẳng có gì để ăn. Chúng vẫn đang mặc bộ quần áo của ngày hôm qua, và chúng không làm bài tập về nhà.”
Cô đưa mảnh ga trải giường lên lau nước mắt rồi siết chặt nó trước ngực. “Chuyện này khiến em đau lòng quá, Del ạ. Lúc nào em cũng thấy đau lòng.”
Anh kìm nén những giọt nước mắt. “Anh biết.” Anh nói. “Nhưng bọn trẻ cần mẹ chúng, Maggie ạ, hơn lúc nào hết.”
“Allie cũng đã cần em, anh Del. Nhưng lúc ấy em lại không ở bên nó.” Cô khóc to hơn.
“Em đã làm tất cả những gì có thể cho Allie. Em không có lỗi.”
“Em là mẹ nó.” Cô thì thào, nước mắt chảy tràn, thoát ra theo những tiếng nức nở đau đớn.
Del dịch tới bên cô, choàng tay quanh vai cô. “Heroin mới là thủ phạm đã giết Allie - heroin và những kẻ cung cấp nó. Không phải em.” Anh ngồi lên mép giường, im lặng trong một phút dài. Cảm thấy cơn giận dữ dâng lên, anh đứng dậy. “Anh đã mua cho em một cái burrito. Ra ngoài ăn với bọn trẻ đi.”
“Em không đói.”
“Lần gần nhất em ăn là khi nào?”
“Sáng nay. Em đã uống cà phê.”
“Cà phê đâu phải là thức ăn. Em cần ăn gì đó.”
“Em không nuốt nổi. Em cảm thấy buồn nôn mỗi khi ăn.”
“Vậy thì chỉ cần ra ngồi với chúng thôi.”
“Em sẽ làm vậy. Ngày mai em sẽ làm vậy.”
Del không ép cô. “Còn công việc thì sao?”
“Em đang nghỉ phép tang ma. Em còn được nghỉ hai tuần nữa.”
“Được rồi, còn sau đó thì sao?”
“Sau đó em sẽ đi làm trở lại.”
“Em nghĩ em có thể đi làm lại trong tình trạng này ư?”
Cô thở dài. “Em không biết.”
“Chẳng ai trong chúng ta thiết làm gì nữa cả, Maggie ạ, nhưng chúng ta không có sự lựa chọn. Anh phải đi làm. Faz không thể làm thay cho anh mãi được.”
Maggie lại nức nở. Cô nghẹn ngào nói: “Đáng lẽ em có thể làm gì nữa hả Del? Đáng lẽ em nên làm những gì nữa?”
Cô đã hỏi anh câu hỏi đó hơn một tuần nay, và lần nào anh cũng trả lời như nhau. “Em đã làm tất cả những gì có thể rồi, Maggie.”
“Vậy tại sao con bé không còn sống?”
Del nghĩ về cuộc trò chuyện với Celia McDaniel. Maggie sẽ hy sinh cái gì để giữ được mạng sống của con gái? Tất cả, và còn hơn thế nữa.
Cả gia đình đã cố khuyên bảo khi họ phát hiện ra Allie nghiện ma túy, nhưng Allie đã tự ý rời khỏi trại cai nghiện. Họ cố đưa cô bé vào điều trị ở một bệnh viện tâm thần, nhưng cô bé đã bỏ trốn. Khi họ tiếp tục bắt ép cô bé, họ nhận ra rằng họ không thể đưa Allie vào viện nếu không có sự đồng ý của cô bé, bởi vì ở bang Washington, các thanh thiếu niên có thể từ chối trị liệu - trừ khi một chuyên gia về sức khỏe tâm thần kết luận rằng cô bé có thể gây nguy hiểm cho chính bản thân mình hoặc cho những người khác. Có vẻ như việc dùng heroin quá liều chưa đủ để coi là một hành động gây nguy hiểm. Allie bị sốc ma túy lần thứ hai, rồi lần thứ ba. Các nhân viên cứu thương cứu sống cô bé, giúp cô bé ổn định sức khỏe rồi ra về, để cô bé ở lại trong phòng mình. Họ chẳng có chỗ nào để đưa cô bé đến cả. Các trại cai nghiện đã quá tải với danh sách chờ dài dằng dặc. Maggie gọi điện cho Del và van vỉ anh cho người bắt Allie, nhưng luật pháp bang Washington ngăn cấm điều đó. Hơn nữa, cho dù bị bắt, Allie cũng sẽ được thả trong vòng vài tiếng đồng hồ.
Chúng ta không thể dùng cách của cảnh sát để giải quyết vấn đề này, Celia McDaniel đã nói.
Thế rồi, đột nhiên, vào một buổi sáng sau khi biến mất ba ngày, Allie về nhà. Maggie miêu tả rằng trông cô bé như vừa ở dưới địa ngục lên vậy. Cô nói trông cô bé cứ như xác chết - thân thể gầy đến nỗi chẳng khác gì một cái mắc áo di động. Hai mắt cô bé thâm quầng. Hai cánh tay đầy vết thâm tím cứ như cái gối cắm kim của thợ may. Allie nói với Maggie rằng cô bé đã ngưng sử dụng ma túy. Cô bé nói cô bé không muốn chết. Cô bé cầu xin sự giúp đỡ. Del và Maggie đã cùng nhau vét từng đồng xu mà mình có để đưa cô bé vào một trại cai nghiện ở Đông Washington. Chi phí không hề rẻ. Del đã thế chấp khoản lương hưu của mình để vay một khoản tiền, và nếu được lựa chọn lại thì anh vẫn sẽ làm thế hết lần này đến lần khác. Ý nghĩ ấy khiến anh nhớ đến những gì Celia McDaniel đã nói.
Họ tách Allie khỏi những người bạn nghiện ngập, những mối quan hệ nghiện ngập và những nơi mua ma túy quen thuộc. Theo những gì họ biết, Allie đã phải chịu đựng sự giày vò khổ sở cả về thể xác lẫn tinh thần mặc dù đã có những loại thuốc giúp làm giảm nỗi đau đớn mỗi lần lên cơn vật. Vào ngày Allie được về nhà, các bác sĩ tư vấn của cô bé đã nói với Del và Maggie rằng: Sự tuyệt vọng nguy hiểm gần hằng ma túy vậy. Những người nghiện thường có tư tưởng tự thù ghét bản thân. Họ tin rằng họ là kẻ vô giá trị. Allie rất sợ mình sẽ tái nghiện. Điều đó có thể khiến cô bé suy nhược.
Khi họ đưa Allie về nhà, trông cô bé có vẻ khá hơn, dù tính cách trở nên nhút nhát. Cô bé đã tăng cân. Những quầng thâm dưới mắt cũng nhạt đi. Trông cô bé đã giống Allie của ngày xưa - một cô bé vui vẻ, ngộ nghĩnh, lanh trí. Đôi mắt cô bé sáng lấp lánh khi nói đến việc tốt nghiệp trung học và vào Đại học Gonzaga vào mùa thu tới. Del đã kiếm cho cô bé công việc ở một tiệm cà phê. Cô bé đã tham gia các buổi gặp mặt của hội AA. Maggie đi kèm cô bé trong những dịp ấy còn Del trông chừng hai cậu nhóc sinh đôi. Có lần anh đi với Allie và học được điều anh đã biết. Cô bé là một đứa trẻ ngoan xuất thân từ một gia đình tử tế, nhưng cô bé đang phải chiến đấu cho cuộc sống của mình, một trận chiến sinh tử để được tồn tại ở đây mỗi ngày. Một trận chiến sinh tử mà cuối cùng cô bé đã thua cuộc. Chúa ơi, sao kết cục có thể tồi tệ như vậy đối với một người trẻ trung đến thế?
Cô bé không thể đánh bại ma túy. Cơn nghiện luôn luẩn quẩn ở rìa bóng tối, giống như một con quỷ đang tìm kiếm bất cứ khe hở nhỏ nào để len vào cám dỗ cô bé. Nó xuất hiện trong mọi hình thức, từ những người bạn nghiện ngập của cô bé đến những kẻ buôn bán ma túy muốn kiếm chút tiền và chẳng quan tâm mình gieo rắc cái chết cho ai.
Nhưng Del thì bận lòng.
Chúng đã hại chết nhầm người.
“Nếu anh muốn tìm hiểu chuyện gì xảy ra với Allie, anh cần vào trong phòng của con bé.” Del nói.
Những giọt lệ lăn dài trên hai gò má Maggie. Cô lấy ga trải giường lau nước mắt. Cô vẫn giữ nguyên tình trạng của phòng con gái, với cây kim tiêm nằm trên sàn giữa đống quần áo, một lon Coca-cola còn đầy một nửa trên tủ com mốt, những tấm áp phích trên tường và bài tập về nhà chưa được hoàn thành đang để mở trên bàn học của Allie.
“Anh cần kiểm tra điện thoại di động và máy vi tính của con bé. Anh cần tìm hiểu xem con bé đã nói chuyện với ai để biết được chuyện gì đã xảy ra. Có như vậy anh mới có thể bắt được những kẻ phải chịu trách nhiệm cho cái chết của Allie. Đã đến lúc rồi, Maggie.”
“Em không thể trở lại căn phòng đó, Del à.”
“Em không phải vào căn phòng đó. Anh sẽ làm giúp em. Tiến về phía trước không có nghĩa là lãng quên quá khứ. Tiến về phía trước nghĩa là làm một việc gì đó liên quan đến quá khứ. Hãy để anh tiến về phía trước, Maggie. Hãy để anh làm công việc của mình.”