Tracy Crosswhite đọc được trong cuốn tạp chí nào đó rằng Smith Tower ở khu Pioneer Square giàu truyền thống lịch sử của Seattle từng là tòa nhà cao nhất vùng phía tây sông Missisippi. Giờ thì nó còn chẳng lọt nổi vào tốp ba mươi tòa nhà cao nhất của Seattle và chủ yếu chỉ còn có giá trị về mặt lịch sử. Thành phố đang thay đổi nhanh đến chóng mặt, nhưng không hẳn theo chiều hướng tốt hơn.
Seattle đang sắp sửa có một năm kỷ lục về các vụ án mạng.
Trung bình, Tracy và mười lăm điều tra viên khác trong Ban Tội phạm Bạo lực của Sở Cảnh sát Seattle xử lý ba mươi vụ án mạng một năm, nhưng cũng giống như chiều cao của các tòa nhà ở khu trung tâm, con số đó đã tăng lên một cách đều đặn - một mặt trái nữa khi là một trong những thành phố phát triển nhanh nhất ở Mỹ. Điều này có nghĩa tất cả bọn họ sẽ có nhiều việc để làm hơn, những việc mà họ chẳng ham hố gì.
Tracy cởi áo khoác bằng nhung kẻ rồi treo nó lên cái móc cùng chỗ với cái áo khoác da của anh chàng cộng sự, Kinsington Rowe, khi họ vào quán Shawn O’Donnell’s American Grill & Irish Pub. Kins đang ngồi xuống thì bỗng nhăn nhó và dừng khựng lại.
“Hông anh lại đau à?” Tracy hỏi.
“Dạo này nó lại giở chứng rồi.” Kins đáp. “Trời lạnh thì càng đau tệ.” Anh xoay hông và nó khẽ kêu khục một tiếng. Tracy co rúm người lại. Kins từng bị thương ở hông vì chơi bóng bầu dục, khớp hông của anh đã bị thoái hóa.
“Khi nào thì anh phẫu thuật vậy?”
“Đừng nhắc tôi chuyện đó.” Anh ngồi xuống đối diện với cô.
“Anh đang lo lắng à?”
“Giời ơi, tôi đang lo sốt vó đây. Tôi đã kể cô nghe chuyện một người phụ nữ bị đột quỵ khi đang trải qua ca phẫu thuật tương tự như của tôi rồi, đúng không nhỉ?”
“Theo lời anh kể thì bà ấy tám mươi tuổi.”
“Tám mươi ba, nhưng tuổi tác thì có quan trọng gì. Nghe nói diễn viên Bill Paxton cũng chết như vậy đấy. Bị đột quỵ sau một ca phẫu thuật.”
“Ông ấy bị bệnh tim mà. Cái gì thế? Anh đang đọc cáo phó về những người chết vì đột quỵ đấy à?”
Kins mới bốn mươi tuổi, anh đã trì hoãn việc phẫu thuật hàng năm trời bằng cách uống ibuprofen. Anh nói anh chỉ muốn phẫu thuật một lần thôi, mà thay khớp hông cũng chỉ có tác dụng trong khoảng ba mươi năm. Nhưng gần đây những cơn đau bắt đầu xuất hiện thường xuyên và trầm trọng hơn. “Bác sĩ dặn tôi báo cho ông ta biết… khi cơn đau trở nặng.”
“Có vẻ anh đang bị như vậy.”
“Hai tuần rồi.” Anh đáp. “Tôi sẽ mừng phát điên nếu dứt được sự đau đớn này. Có cảm giác như một con dao nóng rực đang đâm vào khớp rồi xuyên lên đầu gối ấy.” Anh cầm tờ thực đơn lên, xem xét nó một lúc rồi quẳng nó sang một bên. “Cô rút được số bao nhiêu thế?”
Năm nào các điều tra viên và cảnh sát viên của Sở Cảnh sát Seattle cũng bỏ hai mươi đô la mỗi người để tham gia trò chơi rút thăm dự đoán số án mạng trong năm. Con số án mạng của năm nay đã trở thành một đề tài nóng hổi. Cái đầu lâu giả đang được treo ở vách ngăn bàn làm việc của Tracy, đó là vật được dùng để nhắc nhở - một lời nhắc nhở rùng rợn - rằng cô và Kins là nhóm điều tra viên tiếp theo xử lý một trong những vụ án mạng ấy, mặc dù họ vẫn còn hai vụ đang điều tra dở. Cô đang hy vọng tuần này sẽ không còn vụ án mạng nào nữa, nhưng dựa vào tình hình mấy tháng đầu năm nay, khả năng đó là rất thấp. Ban Tội phạm Bạo lực vẫn đang xử lý vụ án của tuần trước: một gã thanh niên vì ghen tuông đã sát hại ba học sinh trung học ở một bữa tiệc bằng một khẩu súng AK-47 mà hắn mua qua mạng. Những cái chết ấy nâng tổng số án mạng ở Seattle - chỉ trong hai tháng rưỡi đầu năm - lên con số hai mươi hai. “Ba mươi tám.” Tracy nói, đọc lướt tờ thực đơn. “Lúc đầu tôi cứ nghĩ con số đó là quá cao. Giờ thì tôi lại nghĩ nó quá thấp.”
Nhiều người cho rằng sự gia tăng về tội phạm, bao gồm cả những vụ án mạng, là hậu quả của sự bùng nổ dân số và nạn sử dụng những loại ma túy nặng như ma túy đá và heroin. Vấn nạn này đã lan tràn như bệnh dịch ở Seattle và đang hoành hành ở hầu hết các thành phố khác của nước Mỹ.
“Chà, nếu con số của cô là quá thấp thì tôi hỏng ăn rồi.” Kins ném một mảnh giấy lên bàn. Anh đã rút phải con số ba mươi sáu. “Tôi nghĩ đến tháng Sáu là chúng ta có thể vượt qua con số ấy.”
Quán rượu họ đang ngồi đã trở thành một trong những quán quen của họ những khi làm việc ca đêm. Bên trong quán rượu thật ấm áp, hoặc có lẽ Tracy chỉ đang cảm nhận được sự thay đổi nhiệt độ so với cái lạnh giá ở bên ngoài. Tháng Ba thường có gió và mưa. Nhưng năm nay thì không. Năm nay nhiệt độ thường quanh quẩn ở mức âm sáu độ và có thể có tuyết. Cô đã cảm thấy lạnh tê tái lúc đi bộ xuống con dốc từ trụ sở cảnh sát tọa lạc ở đại lộ Năm và đường Cherry. Tracy thích bầu không khí của quán rượu này. Bên kia phòng, một chiếc đồng hồ kỹ thuật số màu xanh lá cây đang đếm ngược ngày, giờ, và phút cho đến ngày Lễ Thánh Patrick. Chỉ còn chưa đầy hai tuần, chính xác là mười ba ngày, hai giờ và ba mươi sáu phút. Đó là lý do quán mở nhiều nhạc của ban nhạc Ireland U2 và trang trí với tông màu chủ đạo là màu xanh lá cây - hơn hẳn thường ngày. Những chiếc cờ đuôi nheo treo trên đầu viết những dòng chữ như: Hôn tôi đi. Tôi là người Ireland. Và trên tường có hình cỏ bốn lá quảng cáo cho bia Guinness. Bên trên đầu Kins có một tấm biển đóng khung gỗ đề rằng: Nếu có lúc nào tôi mất tích, tôi muốn ảnh của tôi được dán lên một chai bia thay vì một hộp sữa. Như thế thì bạn bè tôi mới biết tôi đang mất tích.
Tracy kiểm tra điện thoại dù nó chẳng hề đổ chuông; cô đã cung cấp số điện thoại của mình cho trung tâm điều phối lúc cô và Kins rời khỏi văn phòng.
“Mọi chuyện của cô ổn cả chứ?” Kins hỏi. “Trông cô cứ như người sắp phải lên bàn mổ vậy.”
Sau nhiều năm là cộng sự, họ hiểu rõ tâm trạng của nhau, biết được khi nào đối phương cãi nhau với vợ hoặc chồng, khi nào con cái Kins gây ra chuyện gì, khi nào đối phương vừa ân ái. “Tôi ổn.” Cô đáp. Nhưng cô chẳng ổn chút nào. Cô đang nghĩ đến cuộc hẹn với một bác sĩ chuyên khoa hiếm muộn vào chiều mai. Kể từ khi kết hôn, cô chưa bao giờ quan hệ nhiều và cũng nản chí nhiều như trong sáu tháng vừa qua. Ở tuổi bốn mươi ba, Tracy đang học được một điều rằng quyết định có con và việc mang thai không còn là hai chuyện luôn đi đôi với nhau nữa.
Thực tế vô cùng trái ngược.
Kins lại cầm tờ thực đơn lên. “Tôi nên giảm cân trước cuộc phẫu thuật. Như thế sẽ giảm thiểu nguy cơ bị đột quỵ.”
“Anh đừng lo lắng về việc bị đột quỵ nữa; đó chỉ là chuyện hy hữu thôi. Bà ta gấp đôi tuổi anh mà.”
“Tôi nên gọi xa lát. Lần nào tôi cũng nói vậy, đúng không nhỉ?” Đúng là lần nào anh cũng nói như vậy. “Thế rồi tôi lại gọi một cái burger. Ý chí của tôi cứ như xúc xích ấy.”
Tracy lờ anh đi. Kins dùng từ “xúc xích” để miêu tả hầu như tất cả mọi thứ và tất cả mọi người làm anh bực mình. Gã tài xế khốn kiếp đi ẩu trên đường cao tốc - xúc xích. Một thu ngân lề mề ở cửa hàng tạp hóa - xúc xích. Một nhân chứng dối trá - xúc xích. Anh đã kể với Tracy rằng anh nhiễm thói quen này từ hồi còn nhỏ, khi anh bị trượt chân và thốt ra câu chửi tục trước mặt mẹ anh. Sau khi cho anh một trận đòn nên thân, bà đã bắt anh nghĩ ra một từ khác để thay thế cho câu chửi tục ấy. Anh đã nghĩ ra từ “xúc xích”.
Cô lại xem qua tờ thực đơn một lượt. Nghe Kins nhắc đến bánh burger, cô cũng thấy thòm thèm, nhưng cô sẽ gọi xa lát. Với chiều cao một mét bảy tám, cô không phải là người bé nhỏ. Tập thể dục thì tốt cho tim mạch, nhưng cứ mỗi năm qua đi, việc giữ gìn vóc dáng càng ngày càng khó khăn hơn. Những gì được nhét vào trong miệng sẽ di trú sang hông và đùi.
Kins đập tờ thực đơn của anh xuống mặt bàn. “Xa lát. Tôi sẽ gọi xa lát.” Điện thoại của anh rung lên. Anh kiểm tra rồi đặt nó sang một bên. “Faz với Del đang đến.”
Vic Fazzio và Delmo Castigliano cấu thành nên nửa còn lại của đội A thuộc Ban Tội phạm Bạo lực. Chữ A ấy chỉ là một cái tên được đặt ngẫu nhiên, nhưng bốn người bọn họ vẫn ngạo nghễ tuyên bố với ba đội còn lại rằng nó chính là sự xếp hạng về năng lực.
“Del đi làm lại rồi à?” Tracy hỏi.
“Bắt đầu đi làm lại vào tối nay. Anh ấy và Faz đang đi gặp nhân chứng ở White Center. Faz muốn nhờ tôi hỏi xem ở đây còn món bánh mì lúa mạch đen kẹp thịt bò muối không.” Kins lắc đầu. “Đây là quán rượu Ireland mà. Faz đúng là Faz.”
“Anh ấy có nói tình hình của Del thế nào không?”
Kins nghịch một gói đường, gập các góc của nó lại. “Hôm qua tôi đã nói chuyện với Del. Anh ấy nói anh ấy vẫn khá suy sụp. Không thể trách anh ấy được.”
Thứ Bảy tuần trước, Tracy và Kins đã cùng Faz tới dự lễ tang cháu gái của Del. Cô bé mới mười bảy tuổi, chết vì sốc heroin. Cô bé bắt đầu hút cần sa từ năm mười lăm tuổi, sau đó chuyển sang dùng các loại thuốc kê đơn và cuối cùng thì nghiện heroin. Del đã đưa cô bé đi cai nghiện ở Yakima, và khi cô bé về nhà, anh nói cuộc đời cô bé đã rẽ sang một bước ngoặt mới. Thế rồi cô bé bị sốc ma túy và chết.
“Faz nói cô bé đã bị sốc ma túy bốn lần rồi. Cô biết điều đó không?”
“Del có kể với tôi.” Tracy đáp.
Kins lắc đầu. Anh có ba cậu con trai đang ở độ tuổi thiếu niên. “Bốn lần ư? Tôi sẽ chết mất nếu một trong mấy đứa con của tôi nghiện thứ chết tiệt đó.”
Ông chủ quán Liam tiến đến bàn họ. Ông ta kiêm luôn việc phục vụ bàn và đứng sau quầy bar mỗi khi đông khách. “Hẳn là các anh chị lại đang làm việc ca đêm.”
“Chỉ có chúng tôi và gái mại dâm mới làm việc vào cái giờ này thôi, Liam ạ.” Kins nói. “Có điều họ kiếm được bộn tiền hơn hẳn chúng tôi, và cũng không phải báo cáo số tiền kiếm được để đóng thuế thu nhập.”
“Anh đúng là bày cho thầy tu đọc kinh.” Liam nói. “Chính quyền thành phố đang bảo tôi phải trả lương cho nhân viên mười lăm đô la một giờ. Một thằng bé dọn bàn đã xin tôi cắt giảm giờ làm của nó để nó không bị mất trợ cấp của chính phủ. Thi thoảng tôi lại tự hỏi liệu hội đồng thành phố có thực sự suy nghĩ kĩ càng về cái chuyện tào lao này không.” Ông ta càu nhàu. “Các anh chị muốn uống gì đó chứ?”
“Tôi sẽ uống món đồ uống đặc biệt của ngày hôm nay nếu tôi không trong ca trực.” Kins nói. Một tấm biển quảng cáo ở lối vào thông báo rằng đồ uống đặc biệt của quán trong ngày hôm nay là whisky kèm đá.
“Tôi hiểu mà.” Liam nhìn ra cửa sổ. “Tối nay trăng tròn vành vạnh ấy. Những kẻ điên khùng sẽ đổ ra đường. Thường thì tối thứ Hai chúng tôi mệt muốn chết.”
Ban Tội phạm Bạo lực thì phải đối mặt với những kẻ điên khùng hằng đêm, chẳng hạn như người phụ nữ gọi điện đến tuyên bố là bà ta biết ai đã sát hại ca sĩ Kurt Cobain, hoặc người đàn ông nói rằng bà vợ đã chết của ông ta đang đe dọa xẻ ông ta thành từng mảnh và nhét thi thể ông ta vào những cái va li rồi đem đi vứt khắp thành phố. Hồi Tracy còn độc thân, cô thích làm việc ca đêm, từ ba giờ chiều tới mười hai giờ khuya. Chí ít những kẻ điên khùng cũng thú vị, và sự yên tĩnh giúp cô tập trung xử lý nốt những công việc giấy tờ còn dang dở. Tuy nhiên, kể từ khi kết hôn với Dan, Tracy chỉ muốn được ở nhà vào ban đêm.
“Cho tôi trà đá.” Kins nói.
“Bỏ thêm ít chanh vào cốc của tôi nhé!” Tracy dặn.
“Tôi cho rằng anh chị đang đợi hai ông gumba kia?”
“Họ đang đến.” Kins nói. “Faz nhờ tôi hỏi xem liệu ông có thịt bò muối không.”
“Có quán rượu Ireland giàu lòng tự trọng nào lại không có thịt bò muối vào cái thời điểm gần đến ngày Lễ Thánh Patrick như thế này chứ?” Liam làm dấu thánh giá, hôn lên ngón tay cái rồi rời khỏi bàn của họ.
Kins liếc qua vai Tracy về phía cửa chính. “Họ đến rồi kìa.”
Tracy ngoảnh lại. Del và Faz lừng lững bước vào nhà hàng như hai vầng trăng che khuất mặt trời. Mỗi người cao ít nhất một mét chín mươi ba và nặng hơn tạ mốt. Họ đều mặc com lê, nhưng không đeo cà vạt. Seattle có thể đang thay đổi, nhưng Faz và Del thì không. Đối với họ, không đeo cà vạt chính là thường phục rồi.
Del cởi áo khoác đi mưa và treo nó lên móc. Tracy nghĩ trông anh thật mệt mỏi. Quầng thâm dưới mắt chỉ ra rằng anh bị thiếu ngủ, và anh bước đi như thể nhấc chân lên cũng là một việc nặng nề. Faz nói Del đã ngủ trên xô pha nhà em gái suốt nhiều đêm liền trong thời gian anh trông nom hai đứa cháu trai song sinh chín tuổi.
Del ngồi vào chỗ bên cạnh Kins. Faz ngồi xuống cạnh Tracy. Ông nhìn Kins chằm chằm như một chú chó Labrador nhìn một con vịt bị bắn. “Cậu đã hỏi về món thịt bò muối chưa?”
Kins nhăn nhó. “Chết tiệt, tôi quên béng mất, Faz ạ.”
“Sao cậu có thể quên được chứ? Tôi vừa mới nhắn tin cho cậu xong mà.” Faz mở tin nhắn ấy và giơ điện thoại lên.
Kins nhún vai. “Tôi nhãng đi mất.”
Khi Faz xoay người trên ghế, tìm kiếm Liam, Tracy quay sang Del. “Anh thế nào rồi, Del?”
“Vẫn ổn.” Anh đáp, giọng nhỏ nhẹ.
“Liam ở chỗ quái nào nhỉ?” Faz nói, ngó nghiêng xung quanh.
Del ra hiệu cho Liam, ông ta vốn đứng ở sau quầy bar và với bước tới chỗ họ. “Cho tôi cà phê.” Del nói. “Đen nhé!”
“Anh có thịt bò muối không?” Faz hỏi.
Liam nhăn nhó. “Kins đã gọi suất cuối cùng mất rồi, Faz ạ, nhưng chúng tôi có món xúc xích Ba Lan với dưa bắp cải của Đức.”
Faz tỏ vẻ bị tổn thương. “Ba Lan… Anh đùa tôi chắc?” Rồi ông quay sang Kins. “Anh ta đang đùa tôi đấy à?”
Kins và Liam cười phá lên. “Anh coi tôi là gì? Người Ý ư?” Liam nói. “Một quán rượu Ireland mà không có thịt bò muối vào thời điểm gần ngày Lễ Thánh Patrick như thế này thì khác gì phạm trọng tội chứ.”
“Cái gì thế, cậu đang cố làm cho tôi lên cơn đau tim đấy à?” Faz nói với Kins. “Đừng có làm thế với tôi.”
“Anh uống gì?” Liam hỏi.
“Cà phê.” Faz nói. “Tôi đang cố làm cho người mình ấm lên đây - trời lạnh cứ như nhuệ khí đội Nets của tôi trong mười trận đấu gần đây nhất vậy.” Faz sinh trưởng ở New Jersey và vẫn luôn ủng hộ cho các đội bóng quê nhà.
Tracy gọi món xa lát Caesar cá hồi.
“Cho tôi món mì macaroni xốt whisky Ireland và pho mát.” Kins nói. Anh nhìn Tracy khi anh đưa trả tờ thực đơn. “Tôi đã nói với cô là ý chí của tôi giống như một cái xúc xích rồi mà.”
Ông chủ quán nhìn Del. “Chỉ cà phê thôi.” Del đáp, chẳng giống với anh mọi khi chút nào. Del vốn mê ăn uống như Faz vậy.
Sau khi Liam rời đi, Tracy nói với Del: “Em gái anh thế nào rồi?”
“Không ổn lắm. Sẽ mất chút thời gian.”
“Mọi người biết đấy.” Faz nói với Tracy. “Chúng tôi đang truy tìm kẻ bán ma túy cho cô bé.”
“Chúng tôi là những ai?” Tracy hỏi.
“Là hai chúng tôi.” Faz nói khi nhìn thấy vẻ lo lắng của Tracy. “Nhưng Del không tham gia chính thức.”
Del không nên tham gia một vụ trọng án liên quan đến cháu gái anh. “Nolasco để cho các anh điều tra vụ này à?” Cô hỏi, nhắc đến trưởng ban của Ban Tội phạm Bạo lực.
Faz nhìn cô với ánh mắt như muốn nói ông sẽ kể rõ hơn về chuyện này sau. “Chỉ cần tôi là người điều tra chính thì ông ta đồng ý thôi.”
Cô tự hỏi sự nhượng bộ này của Nolasco, thay vì chỉ định một đội khác, có liên quan gì đến tình trạng các vụ án mạng xảy ra đặc biệt ồ ạt trong thời gian gần đây không. Mỗi điều tra viên án mạng của mỗi đội đều đang nỗ lực hết sức chỉ để cố gắng theo kịp tốc độ xuất hiện của những vụ án mạng.
“Em gái anh có manh mối nào không?” Kins hỏi Del.
“Cô ấy chưa sẵn sàng để nói về chuyện đó.” Del đáp. “Chúng tôi sẽ cho cô ấy thêm vài ngày nữa. Tôi phỏng đoán cháu gái tôi dùng điện thoại di động để mua ma túy và bạn trai của nó có liên quan. Nếu đúng là như vậy… thằng đó sẽ tiết lộ cho chúng ta biết kẻ bán ma túy cho nó là ai.”
Tracy lại nhìn Faz, ông khẽ gật đầu với cô, ám chỉ rằng mọi chuyện đang trong tầm kiểm soát. “Cô ấy chỉ cần ít thời gian để bình tâm lại.” Ông nói.
Del nhìn Tracy. “Cô biết không, tôi cứ nghĩ mãi về câu nói đó. Tôi cứ nghĩ mãi về cô.”
“Về tôi ư?” Tracy nói.
“Cô biết câu nói này không? Chẳng có bậc cha mẹ nào đáng phải chịu cảnh chôn cất con mình. Trước kia tôi không hoàn toàn hiểu rõ ý nghĩa của nó. Tôi rất tiếc về chuyện của em gái cô. Tôi thực sự rất thông cảm với cha mẹ cô. Giờ thì tôi đã thấy được chuyện đó có tác động đến họ thế nào, tôi đã thấy được chuyện đó có tác động đến cha cô ra sao.”
Hai năm sau khi Sarah mất tích, cha Tracy đã tự sát vì quá đau buồn, suy sụp, và có thể vì tác dụng của những loại thuốc chỉ bán khi được kê đơn nữa.
Ý nghĩ về một đứa trẻ khiến cô lại nhớ đến những nỗ lực mang thai của mình. Mặc dù rất khao khát muốn có một đứa con nhưng cô không thể hình dung ra nỗi đau đớn thống khổ khi mất đi đứa con do chính mình rứt ruột đẻ ra. Việc em gái cô bị bắt cóc và mất tích đã khiến cô suy sụp, nhưng nỗi đau của cô vẫn chẳng là gì so với nỗi đau tột cùng mà cha mẹ cô đã phải gánh chịu.
Có tiếng điện thoại rung trên bàn. Cả Tracy và Kins đều nhìn vào điện thoại của mình. Màn hình điện thoại của Tracy đang sáng lên. “Trung tâm điều phối.” Cô nói, lắc đầu.
Kins rên rỉ. “Con số án mạng vẫn không ngừng tăng lên, đúng không?”