Vesta bị đánh thức bởi Roxy, Virgie và mẹ mình, cả ba cùng đứng vây quanh giường cô và lẩm bẩm những điều không rõ nghĩa. Lúc đó trời đã muộn, cả nhà đều ngủ li bì sau những biến cố của suốt hai ngày qua, và ánh nắng chiếu xuyên qua những tán cây lớn trước trang viên Teackle Hall, làm bừng sáng những ô cửa kính đến mức Vesta khó lòng mở mắt nổi.
"Bọn đầy tớ trong bếp đã trốn mất rồi," bà Custis hét lên, đáp lại lời yêu cầu chỉ một mình mẹ được nói của Vesta. "Mụ Hominy già đã đi rồi, mang theo tất cả đám thảo dược và bùa chú của mụ; cả mấy đứa trẻ nhỏ được nuôi trong bếp là Ned, Vince, cùng con bé Phillis còn đang ẵm ngửa, chúng nó cũng đi luôn."
"Con có nghe thấy tiếng thét hoặc tiếng hú kỳ lạ nào vào đêm qua, lúc con thiu thiu ngủ," Vesta thốt lên, vừa dụi mắt.
"Ôi cô chủ thương ơi," Virgie kêu lên, ngã gục đầu xuống chiếc gối, "đó là con chó Turk tội nghiệp của cô; cổ nó đã bị cứa đứt ngoài bãi cỏ rồi."
"Dạ đúng đấy ạ, thưa cô chủ," Roxy sụt sùi, "con Turk tội nghiệp nằm chết trong vũng máu. Chẳng còn ai nấu bữa sáng ngoài em và Virgie. Thật tình là chúng em không hề hay biết gì cả."
"Điều đó khó mà tin được đấy," bà Custis với bản tính đa nghi lên tiếng.
"Con biết các em không đời nào làm thế, Roxy và Virgie ạ," Vesta nói, "ta chắc chắn hai em là những người có học thức và đạo đức; mà mụ Hominy cũng chẳng đến mức nhẫn tâm với con chó tội nghiệp của em như vậy."
Vesta liền đứng dậy và choàng vác chiếc áo ngủ.
"Việc đầu tiên cần làm là phải lo bữa sáng đã. Roxy, em hãy đến nhà ông Milburn ngay lập tức, gọi người nhà của ông ấy là Samson đến đây, đồng thời đánh thức cô Holland dậy để thay thế vị trí của Samson chăm sóc bác cô. Dãy Samson nhóm lửa, rồi em và anh ta cùng lo bữa sáng. Tuyệt đối không ai được bàn tán về chuyện bọn đầy tớ trong bếp bỏ trốn với bất kỳ lý do gì."
"Bộ con không định báo động ngay lập tức hay sao?" bà Custis kêu lên, tỏ vẻ không mấy bằng lòng khi thấy Vesta vẫn giữ được bình tĩnh. "Bọn chúng có thể bị bắt kịp trước khi đi quá xa đấy, con gái ạ. Bốn đứa nô lệ đó đáng giá tới một nghìn hai trăm đô-la cơ mà!"
"Chúng chẳng đáng giá lấy một đô-la nào đâu, thưa má, nếu chúng đã bỏ trốn khỏi chúng ta; vì con sẽ chẳng bao giờ thèm bán hay giữ lại những kẻ đã cư xử bội bạc như thế."
"Ý ta là hãy bán chúng đi mà lấy tiền," bà Custis kêu lên; "chúng chẳng phải là tài sản của chúng ta sao?"
"Không đâu thưa má, chúng là của con. Cần phải hỏi ý kiến của ông Milburn và tía trước khi thực hiện bất kỳ bước nào. Tía đã sang tên chúng cho con vào tận thứ Bảy tuần trước rồi; tại sao chúng lại phải đào tẩu ngay vào lúc con vừa chuộc lại chúng chứ? Virgie, em có đoán được không?"
Virgie ngập ngừng, chỉ trong một chốc.
"Thưa cô Vesty, em nghĩ em có thể đoán ra lý do khiến mụ Hominy bỏ đi. Mụ ta sợ ông Meshach Milburn và chiếc mũ kỳ quặc của ông ấy. Mụ tin rằng ác quỷ đã ban chiếc mũ đó cho ông ấy. Mụ nghĩ rằng ông ấy đã mua đắt mụ bằng cuộc hôn nhân với cô, và chuẩn bị làm lễ rửa tội cho mụ theo giáo phái của Quỷ Đất Đen, hoặc làm điều gì đó khủng khiếp với mụ và lũ trẻ."
"Chính thế đấy ạ, cô Vessy," con bé mũm mĩm Roxy nói thêm. "Mụ Hominy thương lũ trẻ lắm; mụ cứ nghĩ chúng sắp biến thành người của Meshach, nên mụ phải tìm cách cứu chúng đi."
"Đúng là một con mụ mê tín dị đoan tội nghiệp!" Vesta thốt lên.
"Lại thêm một nỗi khốn khổ do cái mũ ngốc nghếch kia gây ra!" bà Custis kêu lên. "Nếu tao mà bắt được nó, tao sẽ vứt vào lò sưởi cho cháy rụi mới thôi."
"Chẳng có gì lạ," Vesta nói, "khi một người đàn bà dốt nát, tội nghiệp như thế lại tự gây tổn hại cho bản thân chỉ vì một món trang phục vốn khiến cho những bộ óc tự do và tiến bộ phải phiền lòng! Giờ thì con nhớ ra mụ Hominy từng ú ớ điều gì đó về việc 'đã theo phái Quaker'. Ý mụ ấy là sao nhỉ?"
Hai cô nô lệ nhìn nhau đầy ẩn ý, rồi Virgie đáp lời,
"Chẳng phải phái Quaker hay giúp bọn nô lệ trốn sang các tiểu bang tự do hay sao ạ? Biết đâu ý mụ là thế."
"Em có nghĩ rằng những kẻ chủ trương bãi nô lại đi móc nối với một mụ già tội nghiệp như thế, kẻ mà sự tự do chẳng mang lại chút uy tín nào cho họ cũng chẳng đem lại niềm an ủi nào cho mụ ta? Chị không thể nghĩ xấu về họ như vậy được," Vesta trầm ngâm. "Hơn nữa, liệu mụ ta có thể ra tay sát hại con chó của chị không?"
"Một con mụ nô lệ thô lỗ, dốt nát, chuyên thờ cúng tà thần thì sẵn sàng giết chó, giết trẻ con, hay bất cứ thứ gì khi bị quỷ ám," bà Custis cả quyết.
"Em không tin là mụ Hominy đã giết con Turk đâu," Roxy vừa nói vừa bước ra khỏi phòng. "Hôm thứ Bảy tuần trước có một gã đàn ông da trắng trong bếp: em nghĩ gã đã ngủ lại đó; ông chủ đã cho phép gã."
"Dạ đúng rồi thưa cô," Virgie tiếp lời sau khi Roxy đã đi làm nhiệm vụ; "gã là một kẻ tồi tệ, nhìn em bằng ánh mắt sỗ sàng và thô bỉ đến mức em cứ mơ thấy gã mãi từ dạo ấy. Đó chính là gã đàn ông bị ông Milburn đánh ngã vì dám làm móp chiếc mũ của ông ấy; gã sợ bị ông Milburn tống giam nên đã xin ông chủ cho trốn trong bếp. Nhưng mà mụ Hominy thì đã sợ chết khiếp ông Milburn từ trước cả chuyện đó rồi cơ."
Vesta giơ đôi tay đẹp đẽ của mình lên với vẻ mặt tuyệt vọng.
"Cái mũ của gã thợ may và thợ làm mũ nghèo khổ ấy đã giáng bao nhiêu tai hoạ lên đầu tất cả mọi người thế này?" cô kêu lên. "Ôi, kẻ nào dám tranh giành ánh mặt trời với bọn thợ may và thợ làm mũ cơ chứ? Bọn chúng chính là những kẻ độc tài chẳng bao giờ chịu thoái vị hay chết đi."
"Nghĩ đến chuyện tía con lại cho một kẻ lang thang như thế ngủ lại trong bếp giữa đám nô lệ kìa!" bà Custis kêu lên. "Tôi cũng rất muốn biết ông ấy mang ơn nghĩa gì ở cái gã đó chứ? Teackle Hall nay đã trở thành cái hang của cú vọ và chồn cáo rồi; đã đến lúc tôi phải rời khỏi nơi này. Chồng tôi thì đã đi rồi, cưỡi ngựa suốt năm mươi dặm để tìm kẻ thù lớn nhất của mình, bỏ mặc chúng ta không có lấy một đầu bếp lẫn sự trợ giúp của đàn ông để xem lũ người kia trốn đi đâu. Tôi biết mình sẽ phải làm gì rồi: tôi sẽ khởi hành đi Cambridge ngay ngày hôm nay, để gặp người anh trai, và ghé thăm gia đình Goldsborough ở trỏng cho đến khi vãn hồi được trật tự sau cái mưu toan đem lúa mì và cỏ lùng trồng lẫn lộn này."
Vesta dừng lại một lát rồi hôn má mẹ: "Đó quả là ý kiến hay nhất đấy, thưa má," cô nói. "Xin hãy để con giải quyết những rắc rối ở đây; má cứ đi đi, rồi hãy quay lại khi mọi việc đã được định đoạt đâu vào đấy, và má lại có thể là chính mình."
Mẹ sẽ làm thế, Vesta ạ. Ngày mai anh Allan sẽ đến Cambridge; chiều nay mẹ sẽ đi tới Salisbury, rồi hoặc là gặp anh ấy dọc đường vào ngày mai hoặc tìm gặp ở Cambridge. Ơi là cái nhà Teackle Hall—đầy rẫy những kẻ lâm tặc nam nữ, đám bãi nô, bọn trốn chạy và lũ cực đoan! Tất cả đều hóa điên vì mấy mỏ quặng đầm lầy và cái mũ ngốc nghếch kia!
Khi bước xuống sân, Vesta nhìn thấy con Turk nằm trong vũng máu, bộ hàm chó ngao cùng hai bên mình rậm rạp bị bết đỏ, và dường như tiếng hú lúc nó trúng mệnh vẫn còn vương vấn trong không khí. Ngíh khí của người Virginia bừng lên trong đôi mắt Vesta:
"Kẻ nào giết con chó này chẳng qua chỉ thiếu can đảm để giết người mà thôi!" cô thốt lên. "James Phœbus, hãy lại đây!"
Viên thuyền trưởng tàu pungy đã có mặt ở ngoài từ mấy tiếng trước, và những ngọn cột buồm trên chiếc tàu của ông vừa lấp ló phía bên kia dải đất ngập mặn ở phía sau Teackle Hall. Ông chạm tay lên vành mũ rồi bước vào.
"Chào buổi sáng, cô Vesty! Ơ kìa! Con Turk chết rồi ư? Trông có khác gì cái ổ quỷ không cơ chứ!"
"Nó bị đâm đấy, Jimmy ạ," Samson Hat vừa từ trong bếp bước ra vừa nói; "nhìn vết dao găm đâm thẳng vào tim nó kìa! Chính thứ đó đã khiến nó hú lên rồi ngã lăn ra chết. Cổ họng nó không phải bị cắt bất ngờ đâu; nó bị rạch như thể bằng một vật gì cùn."
"Cậu nói chuẩn không cần chỉnh, anh bạn da đen! Vụ cắt cổ chỉ là để ngụy trang thôi; vết đâm mới là thứ nói lên sự thật. Nhưng mà đứa nào đang lảng vảng ngoài cửa bếp thế kia, nếu không phải là Jack Wonnell thì tao xin ngỏm tươi! Bắt lấy nó!"
Vừa dứt lời, nhanh nhẹn chẳng kém gì con chó ngày hôm qua, Jimmy lao bổ vào Jack Wonnell, đuổi theo gã đến tận hàng rào rồi túm cổ lôi xệch lại. Wonnell đội một chiếc mũ chóp chuông, và tay gã cầm đầy những bông hoa dại mùa thu. Khi Wonnell nhìn thấy con chó chết, cô Roxy xinh xắn bước từ trong bếp ra, đứng ngượng ngùng nhưng cũng đầy sợ hãi khi trông thấy gã.
"Mày làm gì với đống hoa hòe hoa sói đấy hả?" Jimmy hách dịch hỏi. "Chúng dành cho ai thế? Mày lảng vảng quanh Teackle Hall vào cái giờ sáng trưng này để làm cái quái gì thế, Jack Wonnell, tao thừa biết mày lười nhác thế nào rồi đấy?"
"Đây là hoa anh ấy mang đến cho em mỗi sáng ạ," Roxy lên tiếng, bước lên trước với một nụ cười e thẹn đáng yêu.
"Cho em á?" Vesta thốt lên. "Roxy, em lại đi nhận sự quan tâm từ những tên đàn ông da trắng từ bao giờ thế?"
"Anh ấy tự nguyện hái hoa mang đến cho em, để em có thể tặng cô những bông hoa đẹp chẳng kém gì Virgie ạ. Em cho phép anh ấy mang tới đấy chứ. Anh ấy là một người tốt bụng và đáng thương mà."
Jack Wonnell với cái nháy mắt và nụ cười ranh ma đặc trưng bèn chêm vào, "Em mới vừa hái chúng cho cô ấy thôi mà Jimmy, vì Roxy là hoa khôi của Princess Anne, còn anh đây là vua đội mũ chóp chuông. Cô ấy là nữ hoàng nhỏ của anh, và anh chẳng có gì phải hổ thẹn vì điều đó cả."
"Tán tỉnh gái đen cơ à!" Jimmy quát lên, lại tóm cổ áo Jack. "Thế cả ngày Chủ nhật vừa rồi mày đã đi đâu với Levin Dennis và gã buôn nô lệ? Mày đang giở cái trò mờ ám gì đấy hả?"
"Ông Wonnell này," Roxy chợt nhớ ra điều gì nên lên tiếng, "hãy cẩn thận mà nói sự thật vì lợi ích của tôi! Mụ dì Hominy đã bỏ đi cùng toàn bộ đám trẻ trong bếp rồi, và ông Phœbus đang nghi ngờ anh đấy!"
"Lạy Chúa tôi!" Jimmy Phœbus kêu lên. "Lũ nô lệ bị trộm đi, mà con chó cũng chết nữa ư?"
"Em đoán là Quan tòa Custis đã bán chúng rồi đấy, Jimmy ạ," Jack Wonnell phân trần, vặn vẹo thân hình để thoát khỏi tay vị thuyền trưởng vịnh. "Ông ấy sắp bị Meshach Milburn siết nợ đến nơi rồi. Biết đâu ông ấy vừa bán quách chúng đi rồi tẩu thoát thì sao."
"Quan tòa Custis đâu rồi, thưa cô Vesty?" Phœbus hỏi.
"Ông ấy đã sang Delaware, và sẽ vắng nhà mấy ngày."
"Những lời tên ngốc đội mũ chóp chuông này nói có thật không, thưa cô Vesty?"
"Không. Mấy người đầy tớ trong bếp chỉ có chút lo sợ bị bán đi thôi; chứ khi họ trốn đi thì chẳng có sự bức bách nào cả, mọi chuyện đã được sắp xếp ổn thỏa rồi mà."
"Thật là bất hạnh khi tía cô lại vắng nhà vào lúc này. Người ta đã nhìn thấy ông ấy đi cùng một kẻ buôn nô lệ. Tên buôn người đó và ông ấy biến mất cùng một buổi tối. Hắn ta cũng sống ở vùng quanh Delaware đấy, thưa cô Vesty."
Nét mặt Vesta chùng xuống khi nghĩ đến những nghi ngờ có thể đổ dồn lên người cha mình. Những bóng cây cổ thụ to lớn quanh Teackle Hall dường như đang rên rỉ cùng nhau trong gió, như muốn nói rằng: "Hỡi tổ tiên, nghe những điều này thật lạ lẫm làm sao!"
"Ai đã nói với mày, Jack Wonnell," viên thủy thủ vùng vịnh gặng hỏi, "rằng Quan tòa Custis sắp bị siết nợ?"
"Tôi không nói cho ông đâu, Jimmy."
"Em đã nói cho anh ấy," Roxy cất tiếng sau một thoáng chần chừ, trong lúc Jimmy Phœbus đang ấn mạnh cái mũ chóp chuông cứng ngắc xuống mõm Wonnell đến mức ngạt thở. "Em cứ nghĩ tất cả chúng em đều sắp bị bán đi, và chẳng có ai thương xót em ngoài gã đàn ông da trắng tội nghiệp đó, nên em đã kể cho anh ấy nghe như với một người bạn."
"Và tôi chẳng hề kể với bất cứ ai trên đời này ngoài Levin Dennis vào hôm qua cả," Jack kêu lên ngay khi vừa lấy lại được hơi thở.
"Mày đã đi đâu, hả Jack, với gã cao kều và thằng Levin suốt ngày hôm qua?" Samson hỏi.
"Đúng thế, mày đã đi đâu?" Jimmy Phœbus quát lên, cơn thịnh nộ nổi lên phừng phừng kiểu Hy Lạp khiến làn da ngăm đen cùng đôi mắt đen thẳm như anh đào chín của ông bốc cháy rực lửa như núi lửa. "Mày đã để con trai của Ellenora và cái tên buôn người chết tiệt đó ở đâu? Khai mau, nếu không tao sẽ bóp cổ mày giống như con chó này!"
"Xin ông hãy buông anh ấy ra!" con bé Roxy hốt hoảng hét lên, "anh ấy sẽ chẳng lừa dối ai đâu; anh ấy sẽ khai hết mọi chuyện mình biết mà."
"Thả nó ra đi, Jimmy," Samson lên tiếng; "ông không thấy cô Vesty đang ở đây sao?"
"Đừng có dọa gã đàn ông đó, anh Phœbus," Vesta nói thêm; "nhưng tôi buộc hắn phải khai hết những gì hắn biết, bằng không tía tôi sẽ tống giam hắn."
Jack Wonnell lùi ra xa Phœbus vài bước, lấy tay áo lau nước mắt và sụt sùi vài phút trước sự nôn nóng tột cùng của Roxy, cuối cùng cũng chịu kể đầu đuôi câu chuyện.
"Em xin lỗi, Jimmy, vì anh đã buộc tội em trước mặt người đẹp này và con bé Roxy xinh đẹp của em—cầu Chúa phù hộ cho cô ấy!—về tội ăn cắp đám nô lệ của Quan tòa Custis. Chỉ có một người duy nhất khiến em liếc mắt đưa tình thôi, và cô ấy đang đứng ngay đây, lắng nghe từng lời thật lòng từ miệng em. Em chỉ là kẻ mạt hạng, và em nghĩ nhà tù chắc cũng chẳng khác gì nhà tế thần đối với em nếu họ muốn tống em vào đó, vì nó nằm ngay trong thị trấn, và Roxy có thể đến nhìn em qua những thanh sắt song cửa mỗi ngày."
Roxy cảm động đến mức lấy tạp dề che mặt lại, còn Vesta và Phœbus thì không khỏi mỉm cười, trong khi Samson Hat với ánh mắt khoan dung nhìn theo, cất lời:
"Tình yêu có mặt ở khắp mọi nơi trong chốn rừng sâu này. Chim bồ câu hay quạ đen thì cũng thế thôi. Nó sâu thẳm hơn cả lông vũ và móng vuốt nhiều."
Jack Wonnell vừa cầm chiếc mũ chóp chuông trên tay vừa tiếp tục: "Tên buôn nô lệ đó đã thuê em và Levin chở hắn đi bắt rùa cạn. Hắn có một túi vàng to thế này"—vừa nói gã vừa dùng tay đo trong vành mũ—"và hắn đã đưa cho Levin một ít, còn em thì mang phần của mình đến nhà mẹ Levin tối qua, rồi bảo rằng Levin có thể sẽ vắng nhà khoảng một tuần. Em cứ tưởng ông Johnson cũng sẽ cho em một ít vàng để em có thể chuộc Roxy, nhưng đây là tất cả những gì hắn cho em đấy. Ai cũng làm em thất vọng cả thôi, Jimmy ạ!"
Jack Wonnell chìa ra một đồng xu bạc năm xu cũ rích, và nét mặt gã thảm hại đến nỗi viên thủy thủ phải thốt lên:
"Jack này, hắn trả công cho mày còn quá hậu hĩnh so với cái sự khôn ngoan mà mày đang có đấy. Thế bây giờ Levin đã cùng con trai của Ellenora đi đâu rồi?"
"Em không biết, Jimmy ạ. Hắn bắt Levin lái thuyền ngược lên bến tàu nằm phía dưới thị trấn, nơi cha của Levin là Thuyền trưởng Dennis đã hạ thủy chiếc Idy mười lăm năm trước. Em đã bỏ lại Levin ở đó, và cậu ấy bảo rằng: 'Jack ạ, tôi sẽ đi cùng gã buôn nô lệ để kiếm chút tiền cho mẹ!'"
"Thằng bé thật là khốn khổ đáng thương!" Phœbus thốt lên; "nó bị dụ dỗ dễ dãi hệt như người cha khốn khổ của nó vậy. Gã mà nó đi cùng ấy, thưa cô Vesty, đen tối như địa ngục vậy. Joe Johnson là kẻ nhẵn mặt với mọi tên trộm trên vùng vịnh này, mọi mụ du mục trên bờ biển. Hắn chuyên đi bắt cóc những kẻ da đen tự do khi không mua được nô lệ, ngay tại tiểu bang Delaware. Thỉnh thoảng hắn còn lén lút đưa bọn nô lệ Maryland bỏ trốn để làm ơn cho những tên chủ nhân đạo đức giả không dám bán chúng một cách công khai, rồi Johnson và người chủ tang gia bối rối sẽ chia đôi tiền bán. Vào nhà đi, cô nàng da vàng!" Jimmy Phœbus quay sang bảo Roxy, và cô bé tuân lệnh ngay lập tức. "Còn Jack Wonnell, mày cũng cút đi; tao hết chuyện để nói với mày rồi!" (Jack lẩn ra sau nhà để làm hòa với Roxy trước khi chuồn mất.) "Cậu không phải đi đâu, Samson; tôi thừa biết cậu trung thành như sắt đá rồi!"
"Tôi phải đi lo bữa sáng đây, Jimmy," anh chàng da đen nói rồi bước vào nhà.
"Bây giờ, thưa cô Vesty"—Phœbus quay sang người chủ nhân của Teackle Hall—"Joe Johnson đã bắt đi mụ Hominy già và lũ trẻ rồi, xin thề có khói thuốc là vậy! Chuyện mờ ám này thì chắc chắn tới chín mươi phần trăm! Hắn đã bắt cóc và lừa phỉnh họ, hay họ đã bị bán cho hắn bởi Quan tòa Custis hoặc Meshach Milburn?"
"Tôi xin lấy mạng mình ra để đảm bảo là không có chuyện đó đâu. Ông Milburn đã phải nằm liệt giường từ tối thứ Bảy, còn Chủ nhật thì tía tôi sang Delaware vì công chuyện pháp lý của chồng tôi."
"Tôi nghe nói đó là Meshach Milburn," viên thủy thủ vùng vịnh nhận xét với một cái nhìn sắc bén. "Tôi có nên đến gặp hắn về vụ nô lệ này không?"
"Không," Vesta đáp; "ông ấy đang ốm nặng, và đó là một chủ đề tế nhị để nhắc đến trước mặt ông ấy. Hai đứa con gái của tôi là Virgie và Roxy thì nghĩ rằng mụ Hominy bỏ trốn vì quá sợ hãi ông Milburn, người đã trở thành chủ nhân của Teackle Hall thông qua cuộc hôn nhân."
"Vâng, thưa khói thuốc! Đứa da đen nào trong thị trấn, lớn hay nhỏ, mà chẳng sợ cái mũ của ông Milburn cơ chứ."
"Ông ấy chẳng có quyền sở hữu nào đối với những người đầy tớ đó cả, và tía tôi bây giờ cũng vậy. Tôi xin nói cho anh biết—với sự tin tưởng vào sự thận trọng của anh—rằng mụ Hominy thuộc về tôi, ba đứa trẻ kia cũng vậy, chúng đã chuyển từ tía tôi sang chồng tôi, rồi từ chồng tôi sang tôi, rồi lại quay về tay tía tôi, và từ ông ấy lại quay về với tôi ngay trong giờ phút cử hành hôn lễ. Tôi chỉ sợ rằng họ đã bị phỉnh phược bỏ đi nơi khác để rồi bị hành hạ và bán ra khỏi tiểu bang Maryland."
Jimmy Phœbus ngước nhìn những hàng cây đang xào xạc thở dài và mặt tiền rộng lớn của Teackle Hall, thốt lên mấy câu "thưa khói thuốc" liền trước khi đưa ra kết luận.
"Thưa cô Vesty," cuối cùng ông nói, "hãy cho người gọi tía cô về nhà ngay lập tức. Người ta sẽ chẳng thể hiểu nổi tại sao một kẻ ngoài vòng pháp luật như Joe Johnson lại dám cả gan cướp đi những kẻ hầu người hạ trong nhà của một vị thẩm phán Maryland, trong khi bản thân Johnson cũng là người Maryland, trừ khi giữa họ có sự thông đồng ngầm nào đó. Cuộc hôn nhân bất ngờ của cô cùng hoàn cảnh túng quẫn của tía cô sẽ bị người ta xâu chuỗi lại với nhau cho mà xem, thưa khói thuốc! và sẽ có những kẻ thẳng thừng đến mức nói rằng khi Quan tòa Custis đã túng quấn thì kiểu gì ông ấy cũng sẽ bất chấp tất cả để kiếm tiền!"
Lời buộc tội được thốt lên với sự vụng về của một người trung thực ấy đã đập tan mọi sự thanh minh.
"Tôi xin nhận điều đó," Vesta nói. "Việc tía đi vắng vào ngày Chủ nhật, và đám người đó biến mất vào tối Chủ nhật, có thể sẽ khơi gợi những lời đàm tiếu vô căn cứ. Người ta có thể cho rằng ông ấy đang cố gắng tẩu tán bớt tài sản trước khi các chủ nợ kịp siết lấy chúng."
"Tôi đã chứng kiến cô lớn lên ở đây từ khi còn là một đứa bé, Vesty ạ, và Ellenora bảo rằng cô có khí phách và tấm lòng cao cả hơn hẳn đám quý tộc kiêu kỳ kia, bọn mà tôi chẳng thèm bận tâm! Đó là lý do tại sao tôi mạo muội gọi cô là Vesty. Giờ thì, hãy để tôi nói cho cô nghe về đám nô lệ của cô. Nếu họ đang trên đường tìm đến tự do dưới sự bảo bọc của một người da trắng, thì có cho tôi làm hạm trưởng một chiến tôi cũng chẳng thèm ngăn cản họ. Nhưng Joe Johnson, giả sử như hắn đã túm được họ, thì hắn là một con quỷ dữ. Cô có nhìn thấy vết đâm trên con chó kia không? Vâng, nó được gây ra bởi một trong những loại súng ngắn gắn lưỡi lê mà bọn bắt cóc hay mang theo—loại súng ngắn có lò xo bật lưỡi lê ở đầu nòng; và khi giáp lá cà, chúng sẽ dùng thứ đó để đâm. Johnson chính là kẻ đã giết con chó của cô; tôi nhận ra dấu vết của hắn. Hắn tung hoành khắp cái vùng vịnh này, và biết đâu hắn đã đưa đám nô lệ đó tới Washington, hoặc Norfolk, rồi bán thẳng xuống miền Nam rồi không chừng. Chẳng có ích gì khi đuổi theo hắn đến những nơi đó đâu, nếu hắn thực sự đã đi, với lợi thế về gió và khoảng cách thời gian hắn đang có, lại thêm việc tía cô không có nhà để hỗ trợ chúng ta. Dù vậy, vẫn còn một cơ hội để tóm cổ tên trộm này."
"Đó là cơ hội gì vậy, hỡi anh James?" Vesta thiết tha hỏi. "Tôi thực sự muốn cứu những con người tội nghiệp đó khỏi sự đày đọa của một kẻ sẵn sàng ra tay sát hại cả con chó cưng trung thành của tôi."
"Joe Johnson dựng lên một cái bẫy địa ngục—một cái ổ quỷ thực sự, nằm gần thượng nguồn sông Nanticoke. Đó là đại bản của băng nhóm hắn, và chúng toàn là một lũ ác ôn máu lạnh. Hắn đang gặp chiều gió thuận lợi"—viên thuyền trưởng tàu pungy ngước nhìn trời để đánh giá sức gió—"để rời khỏi Manokin từ đêm qua và tiến vào eo biển Sound; nhưng hắn sẽ phải chèo chống ngược dòng Nanticoke suốt cả ngày trời, và chúng ta có thể đón lùng hắn bằng đường bộ trước khi hắn kịp đến Vienna, nếu đó thực sự là điểm đến của hắn, rồi bắt hắn phải xuất trình hàng hóa. Sau đó, chỉ cần một người đưa thư đi tìm Quan tòa Custis và gọi ông ấy quay lại, chúng ta có thể khép tội Johnson vì tội bắt cóc những kẻ da đen này—cô thấy đấy, chúng ta không thể buộc tội hắn cho đến khi có trong tay bằng chứng—và rồi, thưa khói thuốc! chúng ta sẽ đưa mụ Hominy già cùng lũ trẻ tội nghiệp trở về Teackle Hall."
"Có một người mà anh rất thích phục vụ đang đến kìa, anh James," Vesta nói khi Góa phụ Dennis bước qua cổng.
"Em đến để đón anh ở bến tàu đây, James," người góa phụ có đôi mắt xanh biếc, giọng nói ngọt ngào với bước đi rụt rè và đôi má ửng hồng lên tiếng. "Levin đã đi theo một tên buôn nô lệ suốt một tuần nay; nó gửi cho em rất nhiều tiền, khiến em lo rằng nó đang vướng vào một sự cám dỗ bất thường nào đó, và Wonnell bảo rằng tên buôn người đang cho nó uống rượu. Em phải làm sao đây?"
"Hãy nhận anh làm chồng đi, Norah, điều đó sẽ cho anh quyền quản lý nó, và em sẽ sai khiến được anh. Em đang cần một người bạn đời đồng hành trong cuộc đời mà. Levin có thể biến anh thành kẻ ngốc nếu anh đuổi theo nó lúc này, và anh thì chẳng tài nào đọ tiền bạc với một tên buôn nô lệ được đâu, thưa khói thuốc!"
"Ôi! Anh James," người góa phụ đáp, "anh biết trái tim em vốn thuộc về anh nếu em có thể tự quyết định nó mà. Khi nào mọi chuyện của em xong xuôi, anh chỉ cần ngỏ lời là được. Xin hãy đi tìm Levin đi!"
"Norah em à, chúng ta đang nghi ngờ chính tên buôn người đó đã mang đi mụ Hominy, đầu bếp của chúng ta, cùng lũ trẻ trong bếp trên chiếc thuyền của Levin."
Người góa phụ lắng nghe Vesta, rồi bật khóc nức nở. "Nó sẽ trở thành kẻ đồng lõa trong tội ác mất," cô nấc lên. "Ôi, đây chính là điều mà em vẫn luôn lo sợ từ trước đến nay. James Phœbus, anh luôn là người có ảnh hưởng lớn nhất đối với Levin. Nếu anh yêu em, hãy bắt giữ nó trước khi pháp luật kịp nhúng tay vào hành động điên rồ này. Nó đã đi đâu rồi?"
Virgie xuất hiện trên bãi cỏ để thông báo rằng bà Custis muốn biết ai sẽ là người đánh xe đưa bà đi tới Salisbury, nơi bà có thể mượn một người nô lệ của con rể để tiếp tục hành trình đến Cambridge.
"Tôi vẫn đang nghĩ ngợi suốt buổi sáng nay xem có thể tìm được một người đáng tin cậy nào để đi đón tía tôi về đây," Vesta đáp; "ở khu lò nung thì có vài nô lệ đấy, nhưng thời gian lúc này rất quý báu."
"Kia có Samson kìa," Virgie nói, "và anh ta có một con la để đi lại khắp quận. Cứ để anh ấy đi."
"Đi đâu thế hả người đẹp của tôi?" Samson hỏi.
"Đến Dover, thuộc Delaware," Vesta đáp. "Samson, anh có thể cưỡi la đến Laurel trước khi trời tối, và ngày mai sẽ tới Dover vào buổi chiều."
"Và tôi có thể đi cùng anh ấy đến Salisbury," Jimmy Phœbus nói, "rồi tìm cách ra sông Nanticoke; vì tôi thấy Ellenora cứ khóc lóc mãi cho đến khi tôi đi thì thôi."
"Anh có thể làm tốt hơn thế, James," Vesta suy nghĩ nhanh chóng và nói. "Samson có thể chở anh đến Nhà thờ Spring Hill hoặc Suối Barren Creek nếu đi vòng một chút, và từ các con suối đó, anh sẽ chỉ cách sông Nanticoke có ba dặm. Thậm chí má cũng có thể ngồi xe ngựa đi thẳng đến các con suối đó ngay tối nay, hoặc tới tận Vienna."
Virgie kêu lên: "Nếu hai người cùng đi, thì một người có thể đánh xe chở cô Custis còn người kia cưỡi la."
Samson lắc đầu.
"Người ta đồn là dân da đen tự do mà bén mảng đến cái bang Delaware đó thể nào cũng bị bắt cóc. Ở Maryland là quá đủ với tôi rồi. Tôi thích mấy cô gái sáng sủa của Maryland hơn," anh vừa nói vừa nhìn về phía Virgie.
"Đi đi Samson, hãy nể tình cô Vesta đi," Virgie giục, "rồi em sẽ cố yêu anh một chút, dù anh có đen đúa và tệ hại đến đâu đi nữa."
"Tôi sợ cái bang Delaware lắm," Samson lặp lại, vừa cười chậm rãi. "Joe Johnson, kẻ mà tôi vừa nện cho một trận hôm trước, thể nào cũng tóm cổ tôi ở cái xứ hắn sống cho mà xem, nếu tôi bén mảng đến đó."
"Không đâu," Phœbus chen vào, "tôi sẽ rình mò hắn dọc theo bờ sông Nanticoke, Samson ạ, trong khi cậu cứ đi thẳng trên con đường lớn từ Laurel đến Georgetown rồi tới Dover. Joe Johnson từng bị đánh đòn cột và bị trục xuất khỏi Delaware vĩnh viễn, nên hắn không đời nào dám bén mảng về đó nữa đâu."
"Nếu anh đi, Samson," con bé Roxy xuất hiện trở lại và xen vào, "Virgie sẽ thấy vô cùng hãnh diện đấy. Bất cứ điều gì làm cô Vesta vừa lòng đều có trọng lượng với Virgie cả."
"Anh là một người tự do cơ mà," bản thân Virgie thốt lên, dáng người mảnh mai, thanh thoát và mềm mại như cây liễu của cô bỗng cao ngạo hẳn lên, "vậy mà lại sợ bước vào một tiểu bang còn tự do hơn cả Maryland sao? Nếu tôi được tự do, tôi sẽ muốn tìm đến tiểu bang tự do nhất trên đời này. Hãy cư xử như một người tự do đi chứ, hỡi Samson Hat, bằng không sự tự do của anh đáng giá bao nhiêu chứ?"
"Nó đáng giá lắm chứ, cô nàng xinh đẹp ạ, đến mức tôi chẳng muốn đánh mất nó đâu, xin nói cho cô hay, trừ khi có người vợ nào chịu lấy tôi."
Samson ngắm nhìn những đường nét thanh tú, quý phái trên khuôn mặt của cô gái dòng máu lai, làn da thậm chí còn trắng hơn cả cô chủ trẻ của mình, vóc dáng tựa như đóa cẩm chướng sau mùa đông khắc nghiệt—càng năng động bao nhiêu dù có phần mảnh khảnh—cái đầu nhỏ với mái tóc mềm mại như lông của loài chim két đen, và lòng trung thành ánh lên trong đôi mắt to tròn của cô dành cho cô chủ tựa như một thứ đam mê mãnh liệt, giờ đây đã chuyển thành sự kiêu hãnh và gần như là khinh miệt khi họ nghe anh ta nói.
"Một kẻ nô lệ, như lời cô Vesta nói"—Virgie nói với giọng gần như phẫn nộ—"không phải là kẻ bị người ta sở hữu, mà đáng gọi là nô lệ gấp đôi khi tự bán mình cho men rượu, cho sự ích kỷ, hoặc cho nỗi sợ hãi. Anh không phải là một người tự do đâu, Samson ạ, nếu anh cứ mãi sợ hãi và giống như đám nô lệ thấp kém chẳng dám làm gì ngoài việc tìm kiếm chút lạc thú tầm thường. Tất cả những gì có thể biến một kẻ da đen thành người da trắng trong mắt tôi, chính là sự dấn thân và tinh thần tự lập của một người da trắng."
Vesta cảm nhận được, như cô vẫn từng cảm nhận, tâm hồn mạnh mẽ đầy năng lực của người đầy tớ, và cô không hề trách móc sự bộc trực ấy là bất kính đối với một kẻ nô lệ, trái lại cô còn thấy những âm hưởng đồng điệu trong chính bản tính của mình, cứ như thể Virgie mới là người có quyền uy hơn trong hai người vậy. Đang bước vào độ tuổi trưởng thành rực rỡ, với các yếu tố chủng tộc đang dần hòa quyện hoàn chỉnh trong huyết quản, tính cách không bị kìm kẹp bởi bất cứ ai tại Teackle Hall, Virgie đóng vai trò như người cầm khiên cho cô chủ trẻ của mình, hệt như David đối với vị hoàng tử Jonathan vậy.
"Thôi nào Virgie," Samson khiêm nhường đáp, "tôi có bao giờ có ý định không đi đâu, thưa tiểu thư, ngay sau khi vợ của đại úy cất lời yêu cầu; tôi chỉ muốn cô năn nỉ tôi nhiều chút, biết đâu tôi lại được nụ hôn trước lúc lên đường thì sao."
"Hãy đợi đến lúc anh quay về xem anh có hoàn thành tốt nhiệm vụ hay không đã," Virgie đáp trả. "Bây giờ tôi không hôn anh đâu."
"Em sẽ hôn!" con bé Roxy kêu lên, khiến tất cả mọi người được một phen buồn cười, khi nó trao cho Samson một cái chụt thật kêu từ cái miệng chúm chím của mình; "và giờ anh nhận được nó rồi đấy, cứ tưởng tượng đó là nụ hôn của Virgie đi, rồi đi ăn sáng và lên đường thôi!"
Trong khi họ đi về phía phòng mình để chuẩn bị, Jimmy Phœbus bắt gặp Jack Wonnell đang chơi bi cùng lũ trẻ ở góc tòa án.
"Jack," ông nói, "tao chuẩn bị đi tìm Levin và tên buôn nô lệ đó đây. Tao có thể sẽ gặp rắc rối to ở ngoài trỏng trên sông Nanticoke đấy. Mày hãy nói cho tất cả bọn thuyền trưởng pungy biết tao đi đâu và để làm gì nhé."
"Tớ có thể làm gì giúp cậu được không, Jimmy? Tớ có thể tặng cậu một trong những chiếc mũ chóp chuông của tớ chứ; ở nhà vẫn còn khối ra đấy."
"Nghe lời khuyên của tao đi Jack, hãy buộc một hòn đá vào tất cả mấy cái mũ đó rồi dìm chúng xuống sông Manokin đi. Cái mũ của mụ già Meshach đã gây ra lắm chuyện mờ ám hơn cả Ngân hàng Somerset rồi đấy. Ngu ngốc và khốn khổ như mày, khéo mấy cái mũ chóp chuông cũ kỹ đó lại hại đời mày đấy."
Con đường dẫn tới Salisbury—được vạch tuyến từ năm 1667, khi "Cecil, Lãnh chúa xứ Maryland và Avalon" thành lập một hạt "để vinh danh người chị kính yêu của chúng ta, Quý bà Mary Somerset"—chạy dọc theo những con đập của loài hải ly bắc qua các nhánh sông nhỏ, đâm xuyên qua những khu rừng thông phẳng lặng cùng những cánh trại rộng mở, và đi qua hai ngôi làng nhỏ trước khi những vị lữ khách của chúng ta nhìn thấy những hồ chứa nước rộng lớn của cối xay gió cùng những con phố được rợp bóng bởi cây dương và cây dâu của thị trấn sầm uất nhất—dù không có tòa án—ở vùng bán đảo phía hạ nguồn. Jimmy Phœbus, người đánh cỗ xe ngựa gia đình, và Samson theo sau trên con la của mình, tiến vào vùng trũng của Salisbury vào đúng giờ ăn trưa và dừng lại ở khách sạn. Tiếng ngáy của các cối xay bột, tiếng rít của lưỡi cưa, dòng nước suối màu thông chảy vào hẻm núi của ngôi làng, những cây bách mọc chen chúc một cách trơ trẽn vào những con đường giao nhau xiên xẹo, sự ẩm ướt của cây thường xuân và dây leo bám trên những ngôi nhà cổ lợp mái có ống khói hình chóp đầu hồi, những bãi gỗ dài phản chiếu xuống vũng nước lầy lội của bến cảng nơi có những chiếc xuồng, tàu pungy và tàu đánh cá neo đậu, những ngôi nhà nhỏ nằm san sát quay ngang ra những con đường cát, những ngôi nhà lớn hơn vươn mình lên các ngọn đồi cát, những bụi hoàng dương già cỗi trong những khu vườn ngập tràn ánh bạc, những cây cầu nằm sát nhau, cùng mùi nhựa thông và mùn cưa thoang thoảng hít vào lồng ngực, tất cả tạo nên một khung cảnh tựa như đoàn lữ hành tụ tập bên một vũng nước giữa Sa mạc Nile.
"Nếu còn chút hy vọng nào để bắt lại đám nô lệ của tôi," bà Custis nói, "tôi sẽ tiếp tục lên đường ngay sau bữa trưa. Samson, hãy bảo Dave, đứa con trai của con gái tôi, đến gặp tôi ngay lập tức; nó đang làm việc ở khách sạn này."
Samson phát hiện ra Dave không ai khác chính là tên trưởng hội thánh da đen mà anh đã không tài nào hạ gục nổi vào đầu câu chuyện của chúng ta, nhưng những thay đổi trên con người đó là điều mà Samson không hề lường trước được. Thay vì một vẻ mặt thanh sạch, đạo đức và khiêm nhường phù hợp với nghề nghiệp của hắn, Dave giờ đây mang một vẻ mặt hầm hầm, tà khí; đôi mắt hắn đỏ ngầu vì máu, còn tấm lưng rộng cùng bộ ngực vạm vỡ từng khiến Samson phải trầm trồ ngưỡng mộ lẫn ghen tị giờ đây đã còng xuống theo từng cơn ho sâu phát ra từ lồng ngực hắn.
"Dave," Samson nói, "mẹ của mụ chủ cậu muốn gặp kìa cậu trai, để bảo cậu lái xe đưa bà ấy đến Vienna. Dạo này cậu bị làm sao thế Dave, kể từ dạo tôi dạy cậu đấm bốc à?"
"Mày chính là cái thằng đó phải không?" Dave khàn giọng hét lên; "vậy thì xin Chúa hãy tha thứ cho mày, vì tao thì đời nào tao tha. Trận đòn nhừ tử mà mày suýt nện cho tao hôm đó đã biến tao thành một kẻ khốn nạn, tội lỗi và trượt ngã."
Thôi nào Dave, lúc đó tôi chỉ thấy cậu là một người tốt; tôi có ý hại cậu đâu cơ chứ, anh bạn trẻ.
"Mày đã hủy hoại đời tao rồi, thằng da đen tự do," gã nô lệ vạm vỡ lầm bầm, với ánh mắt vừa căm hận vừa hối hận. "Mày đã làm thổi phồng sự tự phụ của tao rằng tao biết đấm bốc. Tao chưa từng đánh một đứa trẻ nào cho đến ngày hôm đó; và kể từ sau hôm đó, tao bắt đầu đi gây sự khắp nơi với những gã da đen to con hơn, và bọn da trắng mạt hạng thì đứng sau lưng chống lưng cho tao đánh nhau. Tao bị đuổi khỏi nhà thờ; tao quay lưng lại với Chúa; rượu chè đã tóm lấy tao rồi, hỡi Samson. Ác quỷ đã thực sự nhập vào Trưởng hội thánh Dave rồi."
"Ôi người anh em, hãy tỉnh lại và làm lại cuộc đời đi. Này, tôi cho cậu một đô-la, tôi thực sự muốn làm bạn với cậu đấy Davy ạ."
"Tao sẽ dùng nó để mua rượu," Dave lầm bầm rồi bỏ đi; và khi bước qua cánh cửa chuồng ngựa, hắn ngoái lại nhìn Samson đầy hung ác và thốt lên: "Cầu mong Satan thiêu rụi thể xác mày hệt như cách hắn thiêu rụi linh hồn tao vậy. Tao căm ghét mày, chừng nào mày còn sống trên đời này!"
Vài khoảnh khắc sau, Jimmy Phœbus nhận thấy Dave đang chia đôi một pint rượu mạnh với một thằng bé lai gầy gò, rồi nhét một đồng tiền vào tay đứa trẻ, ngay lập tức cậu nhóc phóng như bay ra khỏi sân quán trọ trên lưng một con ngựa pony Chincoteague phi nước đại.
Đúng hai giờ chiều, họ lại tiếp tục lên đường, gã Dave làm nhiệm vụ đánh xe còn Jimmy Phœbus ngồi bên cạnh, trong khi Samson thong thả cưỡi con la già đi song song bên cạnh. Con đường ngày càng trở nên cát bụi hơn khi họ leo lên cao nguyên nằm giữa các dòng sông Wicomico và Nanticoke, khiến cỗ xe kéo đi khá nặng nhọc.
"Nếu tối nay trời quá muộn để tiếp tục đi vượt qua Vienna," bà Custis nói, "tôi sẽ dừng chân ở đó với gia đình Turpins, bạn tôi, rồi sáng hôm sau, sau khi dùng xong ly cà phê, tôi sẽ lại khởi hành để kịp đến Cambridge ăn sáng."
"Tôi sẽ rẽ ở Spring Hill," Samson lên tiếng, "và tôi có thể cho con la ăn lúc hoàng hôn ở Laurel rồi đi ngủ."
Chỉ một giờ sau, họ đã nhìn thấy nhà thờ cổ Spring Hill, một di tích đáng kính của Giáo hội Anh giáo thời thuộc địa, nằm ở thượng nguồn của một con lạch mang tên Rewastico; và trước khi họ băng qua con lạch, người đánh xe Dave đã cất giọng hô "Hò, hò!" to đến mức không cần thiết khiến bà Custis phải lên tiếng quở trách anh ta một cách nghiêm khắc. Dave liền nhảy phắt xuống ghế ngồi và tỏ vẻ như đang kiểm tra bộ phận dây cương, mặc dù Samson đã đảm bảo rằng mọi thứ vẫn hoàn toàn bình thường. Khi Dave hoàn tất việc kiểm tra, hắn giơ cả hai tay lên đầu hai lần, rồi rướn người hết cỡ khi đứng trên đỉnh của một ngọn đồi nhỏ.
"Thưa cô Custis," hắn ngụy biện khi quay người lại, "chiều nay con mệt quá cơ. Cái chuồng ngựa cứ bắt con thức trắng nửa đêm."
"Chính rượu chè mới làm anh mệt mỏi đấy, David," bà Custis sắc sảo lên tiếng; "và cái quán trọ đó không phải là nơi thích hợp để thuê một kẻ nghiện ngập như anh, tôi sẽ mách chuyện này với chủ của anh."
Ngay lúc đó, Jimmy Phœbus nhìn thấy cậu bé lai gầy gò từng rời khỏi khách sạn lúc nãy đang đi lên từ vũng lầy bên đường và trao đổi một cái nhìn mờ ám với Dave khi cậu ta phóng ngựa lướt qua.
"Này nhóc," Samson gọi với theo, "đó có phải là đường đi Laurel không?"
Thằng bé không trả lời, nhưng sau khi ngoái lại nhìn một cách rụt rè, nó thúc mạnh gót chân vào sườn con ngựa pony và phi thẳng vào bụi rậm hướng về phía Salisbury.
"Samson này," Dave lên tiếng, "anh có thấy mụ già đang đẩy xe cưa đằng kia không?"—hắn chỉ tay về phía một bóng người đang leo lên đoạn đường dốc phía bên kia con lạch—"tôi biết mụ ta, và mụ đang đi thẳng đến Laurel đấy. Mụ sống ở trỏng. Từ chỗ rẽ này đến đó chỉ mười dặm thôi, và mụ ta thuộc làu từng con đường mòn trong khu rừng này đấy."
"Thế thì tạm biệt nhé, và chúc Jimmy tìm được mụ Hominy cùng lũ trẻ, rồi đưa tất cả bọn họ trở về Princess Anne từ tay cái gã Joe Johnson đó nha!" Samson hô lên, rồi thúc con la lội qua vùng đầm lầy đi khuất. Jimmy Phœbus nhìn thấy anh bắt kịp mụ già đẩy xe và bắt đầu trò chuyện với mụ khi đám rừng lúp xúp nuốt chửng lấy họ.
"Vừa nãy hắn nói cái gì về Joe Johnson thế nhỉ?" Dave cất tiếng hỏi sau một cơn ho sù sụ, khi họ đã rời khỏi khu nhà thờ cổ và tiến vào khu rừng thông mọc trên đất cát.
Bà Custis nhanh nhảu lên tiếng hơn mức Jimmy Phœbus mong đợi, kể cho người đánh xe nghe về vụ trốn chạy của mụ Hominy cùng lũ trẻ, cũng như hy vọng của ông Phœbus về việc đón lõng bọn chúng trên đường ngược dòng sông Nanticoke hướng về biên giới bang Delaware.
"Bà không muốn lọt vào đám người của Joe Johnson đâu, thưa bà chủ?" gã nô lệ mắt đỏ ngầu nói; "bọn chúng là trùm sỏ cả cái vùng này đấy, ở cả hai bên biên giới bang. Bọn nào không chung chi với chúng thì đều sợ chết khiếp."
"Từ con đường này sang Delaware thì cách bao xa hả Dave?" Phœbus hỏi.
"Chúng ta đang đứng ngay sát viên đá móng biên giới bang Delaware vào đúng phút này đây. Từ chỗ chúng ta đứng đến đó chưa đầy một dặm đâu. Cột mốc vuông vức hệt như phiến đá đặt trên nó, và được chạm khắc hình vương miện của nhà vua."
"Người ta gọi đó là đường ranh giới Mason và Dixon," bà Custis giải thích.
"Dave, anh có biết Joe Johnson không?"
"Dạ có, Đại úy Phœbus, tôi dám cá là tôi biết chứ. Hắn có mặt ở Salisbury, có mặt ở Vienna, hắn lên tận Crotcher's Ferry, hắn có mặt ở khắp mọi nơi trên đất này, chỉ là hắn không dám bén mảng đến Delaware vào ban ngày nữa thôi. Hắn từng bị trừng phạt bằng roi ở đó, và bị trục xuất khỏi bang vĩnh viễn dưới hình phạt treo cổ. Nhưng hắn sống ngay sát biên giới Delaware bên phía này, nên họ không tài nào bắt được hắn ở đất Delaware. Hắn gọi nơi ở của mình là Ngã tư Johnson: mụ già Patty Cannon cũng sống ở đó nữa. Mụ ta bây giờ cũng chẳng dám ở lại Delaware nữa rồi."
"Nào, nghề nghiệp hiện tại của đám người kinh khủng đó là gì thế?" bà Custis hỏi.
Không có câu trả lời nào được đáp lại trong giây lát, rồi Dave cất giọng trầm đục, đầy sợ hãi khi liếc lén cả hai người bạn đồng hành qua đôi mắt đỏ ngầu chằng chịt vết sẹo của mình:
"Bắt cóc con tin, tôi đoán thế."
"Đó là tất cả những gì tạo nên cái ổ quỷ Pangymonum," Jimmy Phœbus giải thích; "mụ già Patty Cannon đó đã dành cả một cuộc đời tội ác của mình, thưa khói thuốc!—hoặc kể từ khi mụ ta đến Delaware từ Canada, với tư cách là cô dâu của gã Alonzo Cannon tội nghiệp—để nhào nặn những tên cướp và lũ chó săn từ đám thanh niên mà mụ ta có thể tóm được. Một vài đứa thì mụ sai đi cướp bưu điện, đứa thì làm và tung tiền giả, nhưng phần lớn thì mụ sai đi bắt cóc những kẻ da đen tự do ra khỏi Tiểu bang Delaware; và khi thấy an toàn, chúng còn ăn cắp cả nô lệ nữa. Ban đầu mụ biến Ebenezer Johnson, tên hải tặc ở Broad Creek, thành công cụ cho mình, và hắn đã chết ngay tại trận khi đang chiến đấu vì mụ ta. Sau đó mụ tóm lấy các con trai của hắn là Joe Johnson và Ebenezer trẻ, biến cả hai thành những tên tội phạm truy nã và bọn bắt cóc, rồi mụ gả Joe cho con gái mình, sau khi Bruington, con rể đầu của mụ, đã bị treo cổ. Khi Samson Hat, kẻ da đen có tinh thần da trắng nhất mà tôi từng gặp, đấm gục Joe Johnson ở Princess Anne vào đêm hôm trước, anh ta đã đánh ngã tên tồi tệ nhất trên cái bán đảo của chúng ta rồi đấy."
Dave lắng nghe câu chuyện kể này với một sự quan tâm sâu sắc đến mức hơi thở của hắn, nồng nặc mùi rượu táo, trở nên gấp gáp và nóng hổi, còn đôi tay thì run rẩy khi điều khiển dây cương ngựa. Đến những lời cuối cùng, hắn thốt lên:
"Samson đã đấm gục Joe Johnson ư? Thế thì ác quỷ đã tóm lấy hắn rồi, và chuẩn bị tính sổ với hắn đấy!"
"Cái gì thế hả?" Jimmy Phœbus hét lên.
Mồ hôi vã ra như tắm trên trán gã nô lệ vạm vỡ, cứ như thể trí tưởng tượng của hắn đang bị hành hạ tột cùng, nhưng trước khi hắn kịp giải thích thì bà Custis đã chen vào:
"Tôi nghĩ người ta từng kể rằng mụ già Patty Cannon đã nhúng tay làm hư hỏng Jake Purnell, kẻ đã tự cắt cổ mình ở Snow Hill cách đây năm năm. Hắn là một tên da đen tự do chuyên thuê những kẻ nô lệ khác đi bắt cóc nô lệ mang đến cho hắn, rồi hắn giao nộp họ cho bọn bắt cóc da trắng để lấy tiền; và chẳng ai có thể hiểu nổi sự giàu lên bất thường của hắn cho đến khi người ta tìm thấy xác một tên da đen bị đánh đập đến chết dưới sông Pocomoke, và ba gã nô lệ từng bị bắt gặp đi cùng hắn đã bị bắt giữ vì tội giết người. Chúng thú nhận rằng chúng đã bắt cóc gã da đen xấu số kia nhưng hắn đã trốn thoát, và bị đánh đập dã man bằng gậy gộc cho đến khi chịu tuân lệnh, thế nên lúc chúng giao hắn cho Purnell thì hắn đã thoi thóp gần chết. Sau đó hắn bị ném xuống sông, nhưng cái xác lại nổi lên sau khi chìm xuống, và lời khai của những kẻ sai vặt khốn khổ đó đã chỉ cho các chủ nô biết tất cả những tên nô lệ mất tích của họ đã đi về đâu. Họ kéo nhau đến bao vây túp lều của Purnell, và phát hiện ra hắn đang đào hố trốn dưới đó. Họ mang theo chó săn và lửa để lùa hắn ra, và khi vừa ló mặt ra ngoài, hắn đã tự cứa cổ mình bằng những đường dao sắc lẹm từ mang tai bên này sang mang tai bên kia."
Trong suốt câu chuyện kể này, gã Dave đã lắng nghe với sự kích động thần kinh dâng cao tột độ, đảo mắt liên hồi như thể đang chịu đựng sự dằn vặt nội tâm dữ dội, cho đến khi những câu nói kết thúc khơi gợi lên nỗi sợ hãi tột cùng trong hắn khiến hắn buông thỏng dây cương, ngả ngửa đầu ra sau và hét lên với những giọt mồ hôi to như hạt đậu túa ra khắp trán:
"Xin thương xót! Xin thương xót! Xin hãy rủ lòng thương! Cứu con với, lạy Chúa tôi!"
"Chắc hắn bị lên cơn động kinh rồi," Jimmy Phœbus hét lên, nhanh chóng chộp lấy dây cương khi mấy con ngựa hoảng sợ chồm lên vì tiếng thét, đồng thời dùng chân kìm chặt Dave vào ghế xe. Đúng lúc đó chiếc xe trôi xuống vùng trũng Barren Creek, và khi nhảy phắt xuống Khách sạn Suối khoáng cũ, một khu nghỉ dưỡng sức khỏe nổi tiếng thời bấy giờ, Phœbus đã nhanh trí lấy nước tỉnh táo lại khuôn mặt đang thở hồng hộc của gã nô lệ.
"Tôi tuyên bố là tôi gần như chẳng dám tin tưởng vào gã này nữa rồi," bà Custis nhận xét với vẻ chán ghét nhiều hơn là sợ hãi.
"Mọi tên da đen ở vùng này," Jimmy Phœbus thốt lên, "đều nghĩ rằng cái ổ quỷ Pangymonum sắp sụp xuống khi nghe thấy cái tên đáng sợ của Patty Cannon; và dẫu sao thì tên nô lệ này cũng đã tơi tả lắm rồi."
"Ôi thưa đại úy," gã nô lệ vừa hồi tỉnh lại giọng nói vừa đảo mắt nhìn quanh một cách hoảng loạn, "tôi không phải lúc nào cũng là một kẻ tội đồ khốn nạn do rượu chè và bạo lực tạo nên đâu. Tôi từng phục vụ Chúa suốt tuổi trẻ của mình; tôi từng ca ngợi danh Ngài và giữ vững con đường lên thiên đường; và khi nghĩ về sự đắm thuyền mà tôi đã gây ra đối với lương tâm trong sạch của mình, rồi nghe bà chủ kể về kết cục của Jake Purnell, nó khiến tôi phải gào thét van xin Chúa nhân từ rủ lòng thương xót, xin thương xót cho linh hồn tôi!"
Sự hoảng loạn tột độ của hắn ngày càng gia tăng, và Jimmy Phœbus xoa dịu hắn bằng giọng điệu dễ dãi:
"Bà Custis, tôi nghĩ tốt hơn hết là cứ để hắn vào quán trọ làm một ngụm rượu mạnh đi; nó sẽ giúp thần kinh hắn vững vàng hơn và đánh xe tốt hơn đấy."
Trong lúc họ uống rượu tại quầy bar của khu nghỉ dưỡng mùa hè vốn đang ở thời kỳ đỉnh cao danh tiếng và là suối khoáng duy nhất trên bán đảo nằm về phía nam Suối Brandywins, Phœbus thì thầm với gã da đen:
"Dave này, có điều gì đó không mờ ám thì cũng chẳng đàng hoàng đang diễn ra ở đây đâu, thưa khói thuốc! Tao đã gí mắt theo dõi mày rồi đấy thằng da đen ạ, và chắc chắn như đinh đóng cột là tao sẽ tiếp tục theo dõi. Mày thừa biết mục đích của tao ở đây rồi đấy Dave ạ: để cứu một mụ đàn bà da đen dốt nát, nhẹ dạ khỏi băng nhóm của Joe Johnson. Giờ thì, mày vừa mới gào lên cầu xin 'Sự thương xót!', tao muốn mày hãy chứng tỏ lòng thương xót bằng cách khai ra cho tao biết tao phải đón lõng và lục soát chiếc thuyền buồm của Levin Dennis ở đâu nếu nó ngược dòng Nanticoke tối nay cùng với đám người đó và cả Joe Johnson trên tàu!"
Sau khi ngấu nghiến nuốt trọn ly rượu, gã da đen đáp lại với vẻ mặt lầm lì và đôi mắt láo liên quen thuộc:
"Các người không thể làm gì ở tận đoạn hạ lưu gần Vienna đâu, vì sông Nanticoke ở đó quá rộng, và nếu các người sang phà ở Vienna thì các người sẽ vướng phải nhánh Tây Bắc nằm giữa các người và Ngã tư Johnson, với một chuyến phà duy nhất bắc qua đó ở Crotcher's, mà Joe Johnson lại là chủ của cả vùng đó. Nhưng các người có thể đi dọc lên phía bờ này của sông Nanticoke, một khoảng cách tương đương từ đây đến Vienna, cho đến điểm mà nhánh Tây Bắc đổ vào. Thỉnh thoảng Joe Johnson vẫn lái thuyền ngược lên nhánh sông lớn đó để về ngã tư của hắn. Còn nói chung thì hắn cứ đi thẳng lên nhánh bên kia cho đến bến tàu của Betty Twiford, nằm ngay trên đường ranh giới."
"Từ đây đến đó bao xa?"
"Từ đây đến Vienna là năm dặm, và từ đây đến bến tàu đối diện nhánh Tây Bắc cũng năm dặm nữa. Đi thêm bốn dặm nữa là tới Sharptown, và ở đó các người có thể nhìn thấy nhà của Betty Twiford nằm trên bờ sông, cách sông Nanticoke chừng hai dặm chim bay."
"Vậy là chín dặm nữa mới tới Sharptown! Hắn đã phải chống lại thủy triều từ lúc bước vào Nanticoke, và nước vẫn chưa rút. Thưa khói thuốc! Tôi phải đi tìm một cỗ xe thôi!"
"Anh có thể đi nhờ xe tôi đến bến tàu đầu tiên," một người đàn ông có vẻ ngoài quý phái tay cầm roi ngựa lên tiếng; "và sau khi nán lại đó một lát, tôi sẽ đi tiếp đến phà Sharptown để qua sông."
Phœbus nhận lời mời ngay lập tức, và sau khi dặn dò bà Custis nên cẩn trọng lời ăn tiếng nói hơn khi ở vùng này, ông chào tạm biệt bà và bước lên chiếc ghế trống trên cỗ xe buggy của người lạ mặt.
Khi bà Custis đến phà Vienna, và ngựa cùng xe được đưa lên chiếc phà chèo để sang khu định cư hàng hải cổ kính mang tên đó, gã nô lệ Dave đang đứng ở đầu ngựa liền trao đổi vài câu với người giữ phà.
"Dave," bà Custis gọi lên lát sau, "xem ra anh chẳng có chút thiện cảm nào với lão Samson cả."
"Chính hắn đã biến con thành một tay đấm bốc và một kẻ tồi tệ đấy, thưa bà chủ."
"Cơ mà anh có biết người chủ mà hắn đang làm việc cùng không—ông Meshach Milburn ấy?"
"Dạ không, thưa bà chủ. Con chưa từng gặp ông ta bao giờ."
"Ông ta đội một chiếc mũ rất kỳ quặc—chẳng giống bất kỳ chiếc mũ nào của các quý ông thời nay cả: đó là chiếc mũ độc nhất vô nhị trên đời."
"Con chưa từng thấy nó bao giờ cả, thưa bà chủ."
"Anh không thể nhầm lẫn nó với bất kỳ chiếc mũ nào khác trên thế giới này đâu. Giờ thì, Samson là người đầy tớ và canh gác duy nhất tại cửa hàng của ông Milburn, và hắn ta là người chăm sóc chiếc mũ tai hại đó. Nếu anh có thể lấy được nó từ tay hắn, Dave, và tiêu hủy nó đi, anh sẽ làm được một việc cực kỳ hữu ích, và tôi sẽ thưởng lớn cho anh."
Gã nô lệ lầm lì ngước đôi mắt đầy hối hận và thú tính lên, rồi đáp:
"Cướp lấy nó ạ?"
"Ồ không, tôi không xúi giục việc ăn cắp đâu David—mặc dù một chiếc mũ khốn nạn như thế chẳng có giá trị pháp lý nào cả. Nó là nỗi thống khổ đối với con gái tôi, Quan tòa Custis và tất cả chúng tôi, và anh có thể tìm cách nào đó để tiêu hủy nó đi—chỉ vậy thôi."
"Con sẽ lấy được nó vào một ngày nào đó," gã nô lệ lầm bầm; rồi quất roi đánh xe tiến vào cảng buôn thuốc lá cổ kính Vienna.