Chúng tôi ra tới đường 56, chạy về hướng nam sẽ trở lại hồ Saranac và trụ sở cảnh sát bang ở Ray Brook còn về phía bắc sẽ đến Potsdam và nhà xác mà có lẽ giờ này Harry đã được chuyển tới.
Kate bắt đầu ngoặt về hướng Ray Brook, tôi bảo: Rẽ phải. Bọn mình hãy đi xem Harry thế nào.
Nàng nhắc tôi: Tom bảo đi đến...
— Em không thể sai lầm hơn nữa một khi đã làm trái lời Tom Walsh bảo.
Nàng do dự, rồi rẽ về hướng Potsdam.
Sau 10 phút chúng tôi đã chạy qua tấm biển màu nâu cho biết chúng tôi đang ra khỏi Công viên quốc gia Adirondack.
Thêm vài dặm, chúng tôi đã có mặt ở South Colton – nơi tôi thấy Rudy đang nói chuyện với người nào đó tự đổ xăng. Tôi bảo Kate: Rẽ vào đây.
Nàng đánh xe vào trạm xăng. Tôi nhoài người ra cửa sổ gọi: Ê, Rudy!
Ông ta đến bên xe rồi hỏi tôi:
— Làm thế nào các cậu ra được khỏi đó?
— Máy làm đá sửa xong rồi. Tôi đã nói với ông Madox điều ông bảo chúng tôi về việc lấy tiền trước, thế là ông ta trả tôi tiền mặt.
— Ừ… cậu không phải...
— Ông ta rất cáu với ông đấy, Rudy.
— À, cậu không phải...
— Ông ấy muốn gặp ông, đêm nay!
— Ồ… à…
— Tôi cần tới bệnh viện hạt ở Potsdam.
— Ừ… à… này, cậu chỉ cần chạy theo đường 56 về phía bắc. Ông ta chỉ đường cho bọn tôi, tôi bảo ông ta: Khi gặp Madox, ông hãy bảo hắn rằng John Corey cũng giỏi bắn súng nhé.
— Ok…
Kate lùi xe ra đường rồi chúng tôi tiếp tục chạy về Potsdam, nàng nói:
— Điều đó nghe như lời đe doạ.
— Đối với một tay đầy tội lỗi, đó là lời đe doạ. Đối với một người vô tội, đó là tuyên bố kỳ quặc.
Nàng chẳng nói gì.
Địa hình rộng ra, bây giờ tôi có thể nhìn thấy những ngôi nhà, những nông trang nhỏ. Mặt trời cuối chiều trải những vệt tối trên những rặng đồi liền nhau.
Cả tôi và Kate đều không nói nhiều, có điều gì đó liên quan đến việc chờ thấy một tử thi khiến ta khó có thể nói chuyện.
Tôi vẫn nghĩ về Harry Muller, và thật khó khăn cho tôi tin rằng anh ấy đã chết. Tôi nhớ lại cuộc nói chuyện cuối cùng với Harry và tự hỏi liệu tôi đã có cảm giác bất ổn về nhiệm vụ của anh, hoặc liệu điều gì xảy ra từ lúc ấy khiến tôi nghĩ thế. Anh chẳng bao giờ biết. Nhưng tôi biết rằng dù hôm thứ sáu tôi có linh tính gì hay không, rõ ràng bây giờ tôi đã có.
Sau 20 phút chúng tôi rẽ vào thành phố Potsdam rất dễ chịu, rồi tìm thấy bệnh viện Canton-Potsdam ở đầu phía bắc thành phố.
Chúng tôi đậu xe ở bãi và qua cửa trước vào dãy nhà nhỏ xây bằng gạch đỏ.
Tại sảnh có một chiếc bàn cung cấp thông tin, tôi tự giới thiệu danh tính rồi hỏi bà trực xem nhà xác ở đâu. Bà ta chỉ cho chúng tôi khu phẫu thuật và cho biết nó kiêm luôn chức năng của nhà xác. Nói thế chẳng hay ho chút nào với các bác sĩ phẫu thuật, nếu tôi vui vẻ hơn, tôi đã đùa về chuyện ấy.
Chúng tôi đi xuống vài hành lang và tìm thấy buồng y tá ở khu phẫu thuật.
Có hai lính cảnh sát mặc đồng phục đang tán gẫu với các y tá, tôi và Kate chìa thẻ ra. Tôi nói: Chúng tôi tới đây để nhận dạng Harry. Các anh canh giữ thi thể phải không?
Một người trả lời: Vâng, thưa ông. Chúng tôi đi cùng xe cứu thương.
— Còn ai khác đến đây không?
— Không, thưa ông. Ông là người đầu tiên.
— Còn ai khác các anh sắp đón?
— Dạ, một số người của FBI từ Albany, một số từ Cơ quan điều tra của bang.
Chúng tôi sẽ không có nhiều thời gian xem xét tử thi trước khi những người khác tới. Tôi hỏi: Chuyên gia khám nghiệm có ở đây?
— Có, thưa ông. Bà ấy đã khám nghiệm sơ bộ tử thi và lên danh mục tư trang. Bà ấy đang chờ cảnh sát bang và FBI.
— Ok. Chúng tôi muốn xem tử thi.
— Tôi cần cả ông và bà ký tên vào đây.
Tôi không muốn ký, thế nên tôi nói: Chúng tôi đến đây không phải bằng tư cách chính thức. Người quá cố là bạn và đồng nghiệp của chúng tôi. Chúng tôi đến để bày tỏ sự thương tiếc.
— Ồ… xin lỗi… chắc chắn ạ!
Anh ta đưa chúng tôi đến trước tấm cửa thép lớn có ghi chữ OR (phòng phẫu thuật).
Tử thi của người bị giết được coi như hiện trường cần bảo vệ, các bằng chứng cần giữ nguyên; vì thế sự có mặt của hai lính cảnh sát và bảng khai yêu cầu ký tên khiến tôi kết luận rằng có ai đó ngoài tôi và Kate cũng nghĩ rằng đây không phải một vụ tai nạn do săn bắn.
Một lính cảnh sát mở cửa rồi nói: Mời ông và bà vào trước.
Tôi trả lời: Chúng tôi cần ở lại riêng để bày tỏ tấm lòng với người đã mất.
Cậu lính do dự: Xin lỗi. Tôi không thể làm thế. Tôi cần...
— Tôi hiểu. Anh có thể giúp tôi gọi chuyên gia khám nghiệm tới gặp chúng tôi ở đây? Chúng tôi sẽ đợi.
— Chắc chắn rồi.
Anh ta biến mất ở chỗ rẽ, tôi mở cửa. Chúng tôi bước vào nhà xác tạm thời.
Phòng phẫu thuật rộng được thắp điện sáng, giữa phòng là một chiếc bàn sắt đặt tử thi được che bằng tấm vải xanh.
Hai bên bàn là cáng có bánh xe, một chiếc đặt quần áo của Harry như thể chúng sắp được mặc vào: bốt, tất, đồ lót giữ ấm, quần, sơ mi, áo khoác, mũ len có trùm tai.
Trên chiếc cáng còn lại là tư trang của Harry, tôi có thể nhìn thấy máy ảnh và máy quay, ống nhòm, bản đồ, điện thoại di động, ví, đồng hồ, dụng cụ cắt dây… Trên dây chìa khoá của anh là chìa khoá của chiếc xe Pontiac Grand Am của chính phủ và chiếc Toyota của riêng anh. Nhưng chẳng có chiếc nào lại dùng, để mở chiếc xe dùng cho dàn cắm trại mà anh mới lái. Tôi nghĩ có thể chiếc chìa khoá đang trong tay cảnh sát bang hoặc CSI[1] để họ có thể đưa xe đi. Súng và thẻ của anh chắc ở chỗ hai cậu lính bên ngoài.
Phòng sặc mùi thuốc tẩy trùng, formaldehyde và các thứ khó chịu khác, thế nên tôi đến tủ và tìm lấy một ống kem Vicks dành cho nơi mổ tử thi. Tôi bóp một ít kem có mùi bạc hà ra ngón tay Kate rồi bảo: Bôi thứ này dưới mũi em.
Nàng bôi vào môi trên rồi hít một hơi sâu. Thông thường tôi không dùng loại này song đã lâu tôi không ngửi mùi xác chết, nên tôi cũng bôi một chút vào phía dưới mũi.
Tôi tìm thấy một hộp găng tay chuyên dụng, mỗi người chúng tôi đeo vào một đôi rồi tôi bảo Kate: Chúng ta hãy xem. Ok?
Nàng gật đầu.
Chúng tôi tới bên bàn và kéo tấm vải xanh từ mặt xuống.
Harry Muller.
Tôi tự nói với mình. Xin lỗi cậu.
Mặt anh bẩn vì ngã đập mặt xuống đường, đôi môi hơi tách nhưng tôi không thấy biểu hiện nhăn nhó nào hay bất kỳ dấu hiệu gì chứng tỏ anh cực kỳ đau đớn, như vậy cái chết đến rất nhanh. Khi tất cả chúng ta không gặp may, cần được may mắn như vậy.
Hai mắt của anh mở to, tôi vuốt mắt cho anh.
Tôi kéo tấm vải xuống dưới eo và nhìn thấy một miếng gạc lớn đặt phía trên tim. Có rất ít máu trên người, thế là viên đạn đã khiến tim ngừng đập tức khắc.
Tôi nhận thấy da anh xám xịt – máu tụ ở phía trước cơ thể, khẳng định anh ngã đập mặt xuống và chết ở tư thế đó.
Tôi nâng tay trái của anh lên. Thông thường người sẽ cứng lại trong vòng 8 đến 12 giờ, cơ của Harry hầu như không còn mềm, nhưng chẳng tay nào của anh cứng hoàn toàn. Hơn nữa nếu căn cứ vào màu da và tình trạng tử thi, tôi sẽ nói rằng anh đã chết từ 12 đến 24 giờ trước. Nói xa hơn, nếu đây là một vụ giết người được tính toán trước, có thể việc đó được thực hiện vào ban đêm để giảm thiểu khả năng bị bắt quả tang. Do đó có thể chuyện này xảy ra vào đêm qua.
Giả sử Madox làm việc ấy, có lẽ hắn chờ đợi ai đó tìm thấy xác chết và báo với cảnh sát. Nếu điều đó không xảy ra vào chiều nay, hắn hoặc một tòng phạm sẽ gọi điện từ bốt điện thoại trong công viên, nhờ đó hắn sẽ thoát nạn trước khi cuộc tìm kiếm bắt đầu trên đất của mình.
Thực ra trong lúc tôi và Kate ngồi cùng Madox, có lẽ hắn tự hỏi tại sao cú điện của mình vẫn chưa làm cảnh sát tìm thấy xác chết, và hắn ta thấy lo lắng.
Tôi kiểm tra cổ tay và ngón tay cái, không có dấu vết gì của việc bị trói (dù thông thường cũng không để lại vết tích gì).
Tôi nắm bàn tay trái của Harry và kiểm tra lòng bàn tay, móng tay, các đốt. Đôi lúc những bàn tay có thể cho ta biết điều gì đó mà nhân viên khám nghiệm, do mải chú ý tới các cơ quan khác hay sự đau đớn của nạn nhân, lại bỏ qua; nhưng tôi chẳng thấy gì bất thường, chỉ có bụi đất.
Tôi liếc nhìn Kate – lúc này trông vẫn ổn, thế nên tôi đi vòng sang bên kia bàn và cầm lấy tay phải Harry xem xét.
Một giọng phụ nữ vang lên: Tôi đưa cho các vị mượn con dao mổ nhé?
Tôi và Kate quay lại và thấy một phụ nữ mặc đồ phẫu thuật đứng ở cửa. Cô ta chừng 30 tuổi, nhỏ nhắn, mái tóc ngắn màu đỏ. Khi cô ta lại gần tôi thấy cô ta có vài vết tàn nhang và cặp mắt xanh. Thực ra nếu bỏ bộ quần áo phẫu thuật màu xanh kia, trông cô ta sẽ rất hấp dẫn! Cô ta nói: Tôi là Patty Gleason, chuyên gia khám nghiệm y tế của hạt. Tôi nghĩ các vị là người của FBI.
Tôi bỏ một chiếc găng và chìa tay: Thám tử John Corey, ATTF.
Chúng tôi bắt tay, tôi giới thiệu đặc vụ FBI Kate Mayfield, nhớ nói thêm: – Kate còn là bà Corey.
Kate lại còn tiếp: Tôi còn là cấp trên của thám tử Corey.
Bác sĩ Gleason gợi ý: Có lẽ bà nên bảo ông ấy không làm gì với tử thi khi không có mặt chuyên gia khám nghiệm. Hoặc không động chạm gì hết.
Tôi xin lỗi và bảo cô ta:
— Tôi đã làm việc này ở thành phố New York 20 năm.
— Bây giờ ông không ở thành phố New York.
Dở cho chúng tôi rồi, nhưng Kate nói: Người mất là bạn của chúng tôi.
Giọng Gleason mềm hơn: Tôi xin lỗi, rồi quay sang Kate: Điều này có liên quan gì tới khủng bố?
— Chẳng có gì. Harry còn là đồng nghiệp ở ATTF, anh ấy đã đến đây để đi bộ trong rừng, chúng tôi vừa đến để nhận dạng.
— Tôi hiểu. Vậy các vị đã nhận dạng chính xác chưa?
— Rồi, Kate trả lời. Phát hiện sơ bộ của cô thế nào?
— Rồi, căn cứ vào những gì tôi quan sát từ các vết thương bên ngoài, một viên đạn đã xuyên qua cột sống rồi xuyên qua tim ông ấy, ông ấy chết ngay. Có lẽ ông ấy chẳng cảm thấy gì hoặc nếu có, chỉ trong một hoặc hai giây. Cơ bản ông ấy chết trước khi ngã xuống đường.
Tôi gật đầu và nhận xét: Trong cả đời cảnh sát của tôi, chưa bao giờ tôi thấy một phát đạn hoàn hảo nào xuyên qua cả cột sống và tim mà lại là tai nạn.
Gleason không bình luận gì trong vài giây, rồi nói: Với tư cách một bác sĩ phẫu thuật và cũng là chuyên gia khám nghiệm, tôi đã chứng kiến những vết thương của khoảng 100 vụ tai nạn do săn bắn nhưng chưa bao giờ thấy trường hợp nào như thế này. Song cũng có thể xảy ra. Đoạn cô ta hỏi tôi: Ông nghĩ đây là vụ giết người?
— Chúng tôi không loại trừ khả năng ấy.
Cô ta gật đầu: Đó là điều tôi được nghe.
Một số chuyên gia khám nghiệm y tế thích tỏ vẻ thám tử, kiểu trên ti vi, song hầu hết đều bám sát thực tế. Nhưng chẳng biết Patty Gleason thế nào, tôi hỏi: Cô tìm thấy gì có dấu hiệu của một vụ giết người không?
— Tôi sẽ cho ông xem thứ tôi tìm thấy, ông có thể lấy nó khỏi đây.
Cô ta đến bên tủ đựng dụng cụ, xỏ một đôi găng tay, đưa cho tôi một chiếc găng mới và nói: Tôi biết ông đã tìm thấy ống kem Vicks.
Cô ta trỏ về phía hai chiếc cáng có bánh xe: Tôi đã lấy ra và lập danh mục mọi thứ để cho vào túi đựng bằng chứng của FBI. Ông muốn kiểm tra và ký tên nhận các thứ đó?
Kate trả lời: Hai nhân viên khác đang trên đường tới đây cần lập danh mục mọi thứ vào bảng chúng tôi gọi là bảng xanh.
Tôi nói với bác sĩ Gleason: Chúng ta hãy xem tử thi.
Cô bước sang bên một chiếc cáng rồi lôi miếng gạc khỏi ngực Harry, gỡ vài sợi lông ngực và để lộ một lỗ hở lớn: Ông có thể thấy đây là lỗ đạn ra. Tôi đã dùng kính lúp có đèn quan sát những mảnh xương, mô mềm, máu từng chút một; chúng chứng tỏ một viên đạn đường kính cỡ lớn hoặc trung bình có tốc độ cao đã xuyên qua cột sống, tim và xương ức.
Cô ta tiếp tục một lát, dùng kiến thức chuyên môn giải thích sự kết thúc cuộc sống trong một cơ thể rồi kết luận: Ông biết tôi sẽ không mổ tử thi, nhưng tôi ngờ là sẽ phải làm nhiều việc ngoài chuyện mổ để tìm ra nguyên nhân gây ra cái chết.
— Chúng tôi quan tâm nhiều hơn đến những sự kiện dẫn đến cái chết. Rồi tôi hỏi: Cô có nhận thấy điều gì không bình thường?
— Thực ra thì có, – cô ta đặt một ngón tay lên ngực Harry cách rìa vết thương khoảng một inch rồi bảo: Tôi thấy chỗ này… ông nhìn thấy không?
— Không.
— Này, đây là một vết nhỏ do đâm. Rõ ràng nó có trước khi chết. Tôi đã kiểm tra, nó sâu vào mô của cơ. Tôi cũng kiểm tra sơ mi và áo giữ ấm, dường như cũng có lỗ tương ứng, lại có vết máu nhỏ, vì thế vật gây ra vết này có thể là một kim tiêm dưới da, được đẩy mạnh xuyên qua lớp áo vào cơ ngực. Tôi không thể nói đã có thứ gì tiêm vào, nhưng kiểm tra nhiễm độc có thể kết luận được.
Rồi cô ta lại tiếp:
— Còn đây là hai vết tiêm nữa trên cánh tay phải. Không có máu hay vết tương ứng trên áo. Tôi cũng không tìm thấy kim tiêm dưới da ở tư trang của ông ấy, vì vậy tôi cho là ông ấy đã không tự tiêm thuốc cho mình xuyên qua chiếc sơ mi.
— Cô hiểu những vết đó thế nào?
— Ông là thám tử mà!
— Đúng. Tôi nghĩ vết tiêm đầu tiên nằm ở ngực, xuyên qua áo, có nghĩa là nó có thể là thuốc ngủ được tiêm khi Harry đang vật lộn, hoặc có thể xuất phát từ súng gây mê cho động vật. Nếu không đúng mùa săn, chúng tôi chỉ bắn thuốc ngủ và đưa chúng đi nơi khác. Hai vết còn lại xuyên qua da trần, dùng kim tiêm dưới da, nhằm mục đích duy trì thuốc ngủ trong người anh. Tôi tự hỏi liệu đó là thuốc sodium pentathol hay truth serum nhưng rồi tôi chỉ giữ tên chúng trong đầu và nói: Tôi sẽ nghĩ về chuyện này.
Cô ta lại tiếp: Tôi muốn chỉ cho ông thêm hai thứ khiến tôi tin rằng có thể đã có những sự việc không bình thường trước thời điểm ông ấy chết.
Chúng tôi quan sát cô ta vòng qua bàn về phía đầu của Harry. Patty Gleason luồn hai tay xuống dưới vai Harry và đẩy mạnh phần thân của anh cho ngồi dậy, khiến một ít nước trong người rỉ ra. Kate đột nhiên thở mạnh. Tôi nhận thấy các nhân viên khám nghiệm chẳng nhẹ nhàng với người đã khuất, và chẳng có lý do nào khiến họ phải thế, dù tôi luôn thấy ngạc nhiên với cách họ chạm tới tử thi.
Lúc này tôi có thể thấy nơi đạn đi vào, xuyên qua cột sống thẳng vào tim. Tôi cố hình dung nó đã diễn ra thế nào: có lẽ Harry vẫn đang ngấm thuốc ngủ, được một hoặc vài người tạo cho tư thế đứng hoặc quỳ trên đường, kẻ bắn đứng ở cự ly đủ gần để có phát bắn hoàn hảo song cũng không quá gần khiến đạn nổ ở nòng súng để lại vết cháy hay dấu vết thuốc súng. Hoặc Harry đã được đặt nằm đâu đó và bị bắn rồi mới được đưa tới đường mòn. Nhưng như thế thì nghiệp dư quá, CSI sẽ thấy ngay.
Dù thế nào, anh đã bị bắn từ phía sau, tất cả những gì tôi có thể hy vọng là anh đã không biết điều sắp xảy ra với mình.
Bác sĩ Gleason thu hút sự chú ý của chúng tôi tới thứ khác: Đây, nhìn này! – Cô đặt một ngón tay lên xương vai phải của Harry: Đây là vết bạc màu trên da mà thực sự rất khó nhận thấy. Nó không phải vết dập do va chạm hay vết cháy do hoá chất, cũng không phải vết bỏng do nhiệt. Có thể là do điện.
Tôi và Kate tiến lại gần vết bạc màu hơi mờ trên da có hình và kích thước như nửa tờ giấy tiền. Đó không phải vết súng bắn đạn gây choáng, nhưng tôi đã nhìn thấy vết dạng này do roi điện chăn gia súc gây ra.
Gleason nhìn tôi khi tôi nhìn chằm chằm vết trên vai Harry. Tôi bảo: Tôi biết nó là gì.
Cô ta bước tới bên bàn rồi không ngần ngại, kéo tấm vải xanh xuống tận bên dưới, để lộ toàn bộ cơ thể không chút vải của Harry.
Cô ta bắt đầu nói gì đó nhưng tôi chẹn ngang: Cô có thể hạ tử thi xuống?
— Ồ, xin lỗi.
Cô ta đẩy phần thân đã cứng của Harry xuống phía dưới bàn còn tôi giữ hai chân. Tôi đã nói mình quen với các xác chết song chúng chỉ ở tư thế nằm, không ở thế ngồi. Kate, như tôi thấy, mới chỉ bắt đầu quen.
Bác sĩ Gleason tiến dần xuống phía dưới chiếc cáng: Một người đàn ông Capca trung tuổi, ăn uống đủ dinh dưỡng, đầy cơ bắp, da dẻ bình thường trừ nơi tôi đã lưu ý, thêm điểm nữa là ông ấy đã không tắm rửa và cạo râu trong vài ngày – điều phù hợp với chuyện ở ngoài trời vài ngày, cũng phù hợp với bộ quần áo lấm đất. Tôi chẳng thấy gì đáng chú ý cho tới khi chúng ta xem bàn chân và mắt cá.
Cả ba chúng tôi đứng cạnh đôi chân trần của Harry, bác sĩ Clcason nói: Gan bàn chân ông ấy lấm đất như thế đã đi bộ bằng chân trần, nhưng đây không phải đất hay cây cối ngoài trời mà tôi thấy.
Tôi gật đầu.
Cô ta tiếp: Tôi còn tìm thấy vài sợi giống như sợi ở thảm trải nhà hoặc thảm chùi chân, ngoài ra các vị có thể thấy thứ gì đó giống như bụi mịn thường thấy trên sàn nhà. Tôi biết ông ấy có một chiếc xe dùng để đi cắm trại, vậy nên ông cần kiểm tra xem trên xe có thảm không, nếu có thì lấy mẫu sợi và bụi.
Tôi biết một nơi khác nên lấy mẫu sợi và bụi, nhưng cơ hội xin lệnh khám xét toà nhà Câu lạc bộ đồi Custer vào thời điểm này không được tốt.
Tôi tiến gần hơn về phía Harry rồi nói: Có vết giập ở cả hai mắt cá.
— Đúng, có đấy. Còn có cả chỗ trầy nữa. Chúng đều rõ, ông có thể thấy, và điều duy nhất tôi có thể nghĩ tới là ông ấy đã bị bó mắt cá – bằng kim loại, dây, băng keo hay bất kỳ thứ gì đó – và rằng ông ấy đã giãy để bỏ nó hay cố gắng chạy khi vẫn bị còng. Đó là lý do vết giập rất đậm và rộng. Rồi cô ta thêm: Da bị rách ở hai nơi. Tôi tin sau khi tháo còng hay dây trói ông ấy mới đi bốt và tất vào… Tôi tin khi bị còng ông ấy vẫn để chân trần. Hãy nhìn vị trí của những vết giập và trầy trên da.
Dù điều gì xảy ra với Harry trước lúc chết, hẳn chúng chẳng dễ chịu. Đã biết Harry, tôi hiểu anh không cam chịu làm tù nhân bình thường nên mới phải chịu vết roi điện, những vết tiêm, những vết tích trên hai mắt cá. Cậu làm tốt đấy.
Bác sĩ Gleason bảo: Sau khi tôi nhận ra những sợi này trên chân ông ấy, tôi đã kiểm tra toàn bộ phần cơ thể còn lại và tìm thấy các sợi trên tóc và mặt. Chúng có thể là sợi từ mũ, nhưng mũ màu xanh thẫm còn những sợi này lại nhiều màu.
Tôi không nói gì, nhưng rõ ràng anh đã nằm trên một tấm thảm hoặc chăn.
Gleason tiếp: Hơn nữa có những sợi trên quần và áo sơ mi của ông ấy, trên cả đồ lót giữ ấm và chúng cũng có vẻ không khớp với bất kỳ thứ gì ông ấy mang trên người khi được đưa tới đây. Tôi tìm thấy 4 sợi tóc đen, tất cả dài khoảng hai inch, một sợi trên sơ mi, một sợi ở quần, hai sợi ở đồ lót giữ ấm. Tôi đã dán chúng vào chỗ vải mà mình tìm thấy.
Tôi gật đầu vẻ lửng lơ. Tôi càng nói ít, bác sĩ Gleason càng nghĩ mình cần giải thích nhiều. Cô nói với chúng tôi: Đó không phải tóc hay lông của người chết. Thực ra những sợi lông này, khi phóng đại lên, trông không giống lông hay tóc người.
Kate hỏi: Lông chó?
— Có thể.
Kaiser Wilhelm?
Cleason kết luận: Đó là tất cả những gì bất thường tôi tìm thấy trên tử thi.
Kate hỏi: Cô có thể ước tính thời điểm anh ấy chết?
— Dựa trên những gì tôi nhìn thấy, cảm thấy và ngửi thấy, tôi tin ông ấy qua đời cách đây khoảng 24 giờ. Có thế gần đây hơn một chút. Đội CSI sẽ tìm được thứ gì đó giúp xác định chính xác hơn, chuyên gia pháp y cũng vậy.
Tôi hỏi: Cô có bỏ quần áo và tư trang của anh ấy ra?
— Có, cùng với một người giúp việc nữa.
— Ngoài sợi lông thú và những sợi lạ, cô có nhận thấy điều gì khác bất thường?
— Chẳng hạn?
— Đấy, không bình thường.
— Không… nhưng nếu ông ngửi quần áo của ông ấy – đặc biệt là sơ mi, ông vẫn có thể thấy mùi thơm hay khói gì đó hơi nhạt.
— Loại khói gì?
— Giống mùi khói thuốc, rồi cô ta lưu ý: Tôi không thấy mùi khói gì ở tư trang của ông ta.
Đó là nghệ thuật đã mất.
Nhờ niềm tin giữa các thám tử điều tra án mạng, các chuyên gia pháp y và chuyên gia kiểm tra y tế khiến những tử thi phải tiết lộ các bí mật. Những sợi lông, tóc, sợi, vết cắn, vết dây trói, mẩu thuốc lá, khói thuốc, tàn, DNA, vân tay… Dường như luôn có sự trao đổi qua lại giữa kẻ giết người và nạn nhân. Tất cả những việc ta phải làm là tìm ra nó, phân tích và xem nó có khớp với nghi phạm. Vấn đề là tìm ra nghi phạm.
Tôi hỏi: Còn gì nữa không?
— Không. Tôi mới chỉ kiểm tra sơ qua quần áo và tư trang. Lúc nào tôi cũng có một người trợ giúp bên cạnh, tôi đã ghi âm kết quả kiểm tra tử thi của mình đối với tử thi và tư trang. Ông có thế sử dụng bảng đó khi nó được sao ra.
— Cảm ơn cô. Rõ ràng cô ta biết đây là một vụ “nóng”.
— Chuyện này rốt cuộc là gì?
— Cô thực sự muốn biết?
Cô ta nghĩ ngợi một lát rồi trả lời: Không.
Câu trả lời tốt, tôi nói: Này, những gì cô giúp chúng tôi rất có ích, cảm ơn cô đã dành thời gian, bác sĩ Gleason.
— Các vị vẫn ở lại bên tử thi?
— Vâng.
— Xin dừng chạm vào nó. Cô ta liếc Harry Muller rồi nói: Nếu ông ấy bị giết, hy vọng các vị sẽ tìm được kẻ giết ông ấy.
— Chúng tôi sẽ tìm được.
Gleason chào chúng tôi và đi.
Kate nói với tôi:
— Tại sao một phụ nữ trẻ như vậy lại muốn làm việc trong nhà xác?
— Có lẽ cô ta đang đi tìm lẽ phải. Thôi, ta làm việc đi!
Tôi và Kate đến bên chiếc cáng đặt tư trang của Harry, vẫn đeo găng, chúng tôi bắt đầu xem xét mọi thứ – ví, đồng hồ, máy nhắn tin, ống nhòm, máy quay phim, máy quay kỹ thuật số, la bàn, dụng cụ cắt dây, sách hướng dẫn cho người quan sát chim, bản đồ địa hình có khu đất của Câu lạc bộ đồi Custer được khoanh bằng mực đỏ, vị trí của toà nhà và một vài căn khác được đưa thêm vào bản đồ. Dù đã đeo găng, chúng tôi vẫn cẩn thận khi chạm vào những thứ này để khỏi làm mất dấu vân tay.
Tôi kiểm tra những thứ trong ví Harry và nhận thấy có một chìa khoá nhà dự phòng để ở ngăn đựng tiền lẻ, thêm chìa dự phòng của chiếc Toyota và Grand Am của chính phủ song chẳng thấy chìa dự phòng của chiếc xe dùng cho dân cắm trại. Nếu có chìa dự phòng, ai đó đã lấy mất và không phải cảnh sát bang – vốn đã lấy chiếc chìa khoá này từ dây đeo chìa khoá của anh. Do vậy một kẻ nào đó đã lấy chìa khoá từ ví của anh để đưa chiếc xe ra xa đất của Câu lạc bộ đồi Custer. Có thể là ai đây?
Kate nói: Chẳng có gì trông bất thường, bị lấy mất hay lục lọi, nhưng em cá là có thứ gì đó ở máy ảnh và máy quay đã bị xoá.
— Có nhiều khả năng đĩa, băng và thẻ nhớ đã được tháo ra và thay bằng những đồ dự phòng mà Harry mang theo.
Nàng gật đầu: Thế thì phòng nghiên cứu sẽ không thể phục hồi bất kỳ hình ảnh nào đã bị xoá.
— Anh nghĩ thế.
Tôi nhặt điện thoại di động của Harry và bật lên, xem danh sách các cuộc gọi đã nhận gần đây.
Có cuộc gọi của cô bạn gái Lori Bahnik lúc 9 giờ 16 sáng thứ bảy bởi trước đó, lúc 7 giờ 48 anh đã gọi cho cô; tiếp theo là 10 cú nữa từ Lori bắt đầu từ chiều thứ bảy, sau khi cô nhận được tin nhắn lúc 4 giờ 02, rồi cả ngày chủ nhật, thậm chí là ngày hôm nay – thứ hai.
Rồi đến cuộc gọi của sĩ quan trực Ken Reilly lúc 10 giờ 17 đêm chủ nhật, sau khi Lori gọi tới văn phòng ATTF.
Cuộc gọi tiếp theo lúc 10 giờ 28 đêm chủ nhật xuất phát từ một số điện thoại bang New Jersey. Tôi bảo Kate: Đây có phải số máy nhà của Walsh?
— Đúng đấy.
— Nhưng ông ta nói ông ta không gọi cho Harry tận tới lúc đến văn phòng vào sáng nay.
— Rõ ràng ông ta nói dối.
— Đúng… và đây là cuộc gọi của Walsh cho Harry vào sáng nay… và trước đó Ken Reilly gọi cho anh ấy suốt cả đêm từ toà nhà liên bang số 26.
Nàng im lặng một lát rồi nói: Dường như Tom Walsh còn lo ngại hơn mức chúng ta tin đấy.
— Nói thế vẫn còn nhẹ. Việc Walsh nói không thật với chúng ta vừa qua khiến anh kết luận rằng đây không phải vụ do thám bình thường.
— Em nghĩ bọn mình đã biết điều đó.
Tôi nhìn máy di động của Harry lần nữa và thấy cuộc gọi của tôi chiều chủ nhật mà tôi bảo anh ấy sẽ làm món hươu, rồi cuộc gọi cuối cùng của tôi lúc 9 giờ 45 sáng nay. Sau đó còn có vài cú nữa từ Lori.
Kate nhìn chiếc điện thoại chằm chằm: Chuyện này thật buồn…
Tôi gật đầu. Tôi không có mật khẩu của Harry để nghe bất kỳ lời nhắn nào, song tôi biết Phòng Công nghệ có thể làm điều ấy.
Tôi lướt qua danh sách những cuộc gọi gần đây từ máy của Harry và thấy anh đã gọi Lori Bahnik lúc 7 giờ 48 sáng thứ bảy, sau đó là tin nhắn lúc 4 giờ 02 chiều hôm đó, rồi chẳng có gì nữa.
Tôi định tắt máy thì điện thoại đổ chuông, làm cả hai chúng tôi giật nảy người.
Tôi nhìn tên người gọi và thấy đó là Lori Bahnik. Tôi liếc Kate, có thể chắc chắn rằng nàng đang rất buồn.
Tôi tính chuyện trả lời song không sẵn sàng báo tin xấu khi thi thể của Harry chỉ cách mình 5 foot. Tôi tắt nguồn và đặt điện thoại trở lại cáng.
Tôi liếc đồng hồ. Chẳng mấy chốc nữa cảnh sát bang và các đặc vụ FBI từ Albany sẽ tới. Ngoài ra lúc này chắc chắn hai người từ ATTF đã hạ cánh xuống sân bay ở hồ Saranac. Tôi tự hỏi Walsh đã điều ai tới thay thế bọn tôi. Có lẽ là những người biết chấp hành mệnh lệnh.
Tôi nói với Kate: Bọn mình hãy xem quần áo Harry trước khi cánh kia tới.
Nàng bước tới bồn và rửa hết chỗ kem ở môi còn tôi tranh thủ móc túi lấy tấm bản đồ địa hình. Lấy bằng chứng từ hiện trường là tội nghiêm trọng nhưng tôi nghĩ có thể tôi cần bản đồ, hơn nữa cảm thấy việc mình làm có lý khi nhớ tới chuyện Walsh đã nói dối, bên cạnh đó là sự thật rằng có thể tôi chứ không phải Harry nằm trên chiếc bàn kia.
Kate đã đứng bên chiếc cáng còn lại và hít chiếc sơ mi của Harry. Nàng nói: Em không chắc lắm… đây có thể là khói thuốc lá…
Tôi chẳng ngửi thấy gì ngoài mùi bạc hà dưới mũi, nhưng tôi nói: Bọn mình biết người nào hút thuốc?
Nàng gật đầu.
Chúng tôi lần lượt xem kỹ quần áo của Harry, nhận thấy những miếng băng dính mà bác sĩ Gleason đã dùng để dán 4 sợi lông động vật. Nói đúng ra, không phải chúng tôi đang làm việc không được phép làm, song mặt khác lẽ ra chúng tôi không có mặt ở đây mà phải tới trụ sở cảnh sát bang ở Ray Brook. Lại còn tập hợp bằng chứng, bất kỳ ai động tới các bằng chứng đều phải đăng ký trong khi chúng tôi lại không thực hiện. Rồi đến người của FBI và các điều tra viên của cảnh sát bang có thể chẳng thân thiện gì khi nhìn thấy bọn tôi lúc họ tới. Nói cách khác, bọn tôi đang trong tình trạng không rõ ràng nhưng nhiều manh mối, mà tôi đã bỏ rất nhiều thời gian. Quan trọng hơn, tôi đã tiến được một bước lớn trong chuyện này nhưng bây giờ đã đến lúc rời khỏi đây.
Tôi bảo Kate: Bọn mình đi thôi.
Nhưng nàng bảo: Xem này!
Tôi tiến lại gần nàng. Kate đang cầm chiếc quần ngụy trang của Harry, lúc này nàng đã lộn túi bên phải của nó ra. Anh thấy không?
Tôi xem lớp lót túi màu trắng và thấy những dấu màu xanh dường như được đánh dấu bằng bút.
Kate nói: Đây có thể là các chữ cái.
Có thể đúng thế thật. Như thế Harry viết trên sợi vải trắng dù bàn tay vẫn đặt trong túi. Hoặc nếu như Harry ẩu như tôi, có lẽ anh đã nhét bút vào và bật nắp của nó ngay trong túi.
Kate đặt chiếc quần lên cáng, chúng tôi cúi thấp hơn, cố gắng giải mã những vết màu xanh rõ ràng được viết bằng mực và không hề có vẻ những nét ngẫu nhiên.
Tôi bảo nàng: Em xem trước đi!
— Ok… có 3 cụm dấu… cụm thứ nhất rất có thế viết M – A – P…, cụm tiếp theo trông giống… chữ N… rồi có thế chữ U hay V… rồi dấu hoa thị… không, chữ K… rồi cụm cuối cùng trông giống như… E – L – F… Nàng nhìn tôi rồi hỏi: ELF?
Tôi nhìn chăm chăm những vết mực: M – A – P có thế là M – A – D. Ý anh là anh ấy đã viết những thứ này mà không được nhìn, tay đặt trong túi. Đúng chứ?
— Có thể…
— Rồi N – U – K…, và đây là dấu khác gần như bị lẫn vào vết khâu… nên… có thể là NUKE.
Chúng tôi nhìn nhau, rồi Kate nói: Nuke? Hay vũ khí hạt nhân?
— Anh hy vọng là không, rồi tôi thêm: Cụm cuối cùng rõ hơn. ELF.
— Đúng… anh ấy gắng nói gì với chúng ta? Madox? Hạt nhân? ELF? ELF là gì? Có thể anh ấy đang cố gắng viết HELP.
— Không. Cái này rất rõ. E – L – F.
Tôi liếc đồng hồ lần nữa rồi nhìn ra cửa: Bọn mình cần đi thôi. Tôi lộn túi lại rồi bảo: Hãy để họ làm việc này.
Chúng tôi tháo găng tay và bỏ vào thùng rác kín. Sau đó tôi lại gần thi thể Harry và nhìn anh. Kate đến bên cầm lấy tay tôi. Tôi sẽ sớm gặp lại Harry ở nhà tang lễ, trong bộ sắc phục cũ của anh. Tôi nói với anh: Cảm ơn về những manh mối, bạn ạ. Chúng mình nắm được chuyện này rồi. Rồi tôi kéo tấm vải xanh che toàn bộ cơ thể Harry và quay ra cửa.
Chúng tôi rời phòng phẫu thuật và bước nhanh khỏi hành lang về buồng y tá. Tôi nói với hai lính cảnh sát: Các anh có giữ súng và thẻ của người đã mất?
— Có, thưa ông.
— Tôi cần lấy phù hiệu để trao cho gia đình ông ấy.
Cậu lính phụ trách ngập ngừng rồi nói: Tôi e rằng chúng tôi không thể làm thế. Ông biết… thế là...
— Cái đó chưa được kiếm kê. Mà sẽ có ai biết chứ?
Cậu lính còn lại nói với anh ta: Tôi đồng ý với việc ấy.
Cậu phụ trách mở một túi đựng bằng chứng đặt trên quầy, tháo tấm phù hiệu khỏi thẻ rồi đưa cho tôi.
Tôi nói “Cảm ơn” rồi đút nó vào túi.
Cậu lính kia hỏi: Ông nghĩ đây là vụ giết người?
— Cậu thì nghĩ sao?
— Thưa, tôi nhìn thấy thi thể trên đường mòn trước lúc người ta đưa lên xe cứu thương và cách duy nhất khiến người này – bạn của ông – có thể bị bắn vuông góc với lưng trong khu rừng rậm rạp phải thế này: kẻ bắn đứng thẳng sau lưng ông ấy trên đường mòn. Ông hiểu ý chứ?
— Hiểu.
— Thế nên đây không phải tai nạn – trừ phi nó xảy ra vào ban đêm, và người bắn phải nghĩ rằng hắn nhìn thấy một con hươu trên đường… Tôi phải nói với ông rằng lẽ ra bạn ông phải mặc thứ gì đó phản quang hoặc có màu cam. Ông biết chứ?
— Có. Nhưng bây giờ không phải mùa săn.
— Vâng, nhưng… một số người địa phương không đợi tới mùa săn.
— Tôi hiểu.
— Vâng. Tôi rất lấy làm tiếc.
— Cảm ơn các anh.
Anh lính còn lại an ủi chúng tôi, hai y tá ngồi sau quầy cùng vậy. Tôi nghĩ họ thấy rất buồn về tai nạn xảy ra ngoài mùa đi săn, và buồn hơn nữa về khả năng một khách du lịch bị giết ở một nơi đẹp đẽ trên thế gian này.
Tôi và Kate vừa ra sảnh thì hai người đàn ông mặc complê đi vào cửa. Tôi biết họ là những nhân viên thực thi pháp luật – FBI hoặc Cơ quan điều tra của bang – họ đến thẳng bàn cung cấp thông tin và chìa thẻ ra.
Trong lúc nói chuyện với hai người này, bà trực nhận thấy tôi và Kate đi khỏi. Hình như bà ta có ý muốn bảo hai người đó về hai đồng nghiệp đang rời khỏi đây nhưng chúng tôi đã đến cửa trước khi bà kịp giới thiệu gì.
Bọn tôi nhanh chóng ra xe, tôi nhảy vào tay lái và nhanh chóng chuồn khỏi đó.
❀ ❀ ❀
[1] Lực lượng điều tra hiện trường.