Chỉ cần chạy xe gần hai mươi dặm là đến The Point nhưng điểm đến quá hẻo lánh đến nỗi dù đã có chỉ dẫn của Schaeffer và bản đồ của Max, Kate vẫn phải gọi điện cho điểm nghỉ dưỡng này để nhờ hướng dẫn ở những đoạn đường không được đánh dấu trên bản đồ.
Tôi bật đèn cốt, chầm chậm lần dọc theo con đường nhỏ, cây bụi che phủ trông như thể đường mòn của thổ dân da dỏ. Kate nói:
— Thật đẹp.
Tôi nhìn thấy là hàng cây hai bên đường như thể một đường hầm chạy trước đèn pha, nhưng để lạc quan hơn và cũng bởi tôi đã đặt chỗ ở The Point – tôi nói:
— Anh có cảm giác mình đang được gần gũi hơn với thiên nhiên.
Chính xác là thiên nhiên chỉ ở cách chúng tôi có 4 foot về hai bên sườn xe mà thôi.
Chúng tôi tiến tới một chiếc cổng thô kệch với vòm cổng được làm từ những cành cây vặn lại với nhau tạo thành chữ: “The Point".
Cổng đóng. Nhưng bên cạnh có một chiếc ống nói. Tôi hạ cửa sổ xe và quay số. Lập tức một giọng nói méo mó như thể vọng lên từ một chiếc hộp hình nộm thường dùng dọa trẻ con:
— Xin hỏi tôi giúp được gì cho quý khách?
— Cho tôi một suất đúp bánh kẹp pho mát thịt xông khói, nhiều khoai tây chiên, và Coca dành cho người ăn kiêng.
— Ngài là…?
— Ông và bà Corey, đã đặt chỗ.
— Vâng thưa ngài, chào mừng quý khách đến với The Point.
Chiếc cổng điện bắt đầu mở ra, giọng nói tiếp tục:
— Mời quý khách đi tới dãy nhà thứ nhất phía bên trái.
Tôi lái xe qua cổng, trong khi Kate nhận xét:
— Chỗ này có chút gì đó thân thiện hơn Câu lạc bộ đồi Custer.
— Nhất thiết phải thế, với cái giá 1.200 đô la một đêm.
— Đây đâu phải là ý tưởng của em.
— Đúng vậy.
Phía trước là cả một khu nhà lớn bằng gỗ. Tôi đánh xe vào bên đường. Chúng tôi bước xuống xe. Dọc đường vào chúng tôi đã thấy cửa nhà bật mở và một người đàn ông vẫy gọi về phía chúng tôi:
— Xin chào quý khách. Chuyến đi có được như ý không ạ?
— Cảm ơn anh, mọi việc đều tốt cả – Kate đáp lại.
Chúng tôi bước lên bậc thang dẫn tới ngôi nhà gỗ thô kệch trong khi người đàn ông ăn mặc không sang trọng nói:
— Tên tôi là Jim.
Chúng tôi bắt tay, bắt đầu tạo bầu không khí mà tôi nghĩ là sẽ rất gia đình, thân thiện, và có thể là cả ngớ ngẩn nữa cho thời gian nghỉ lại đây. Jim nói:
— Xin mời vào.
Tôi và Kate bước vào khu nhà. Đây là nhà điều hành và đồng thời là nơi bán đồ lưu niệm của cả khu nghỉ The Point. Kate bị thu hút ngay bởi loạt tranh minh họa của Adirondack và một số đồ thêu đắt giá.
Tôi nhận ra rằng phụ nữ luôn dễ dàng bị thu hút bởi các cửa hàng quần áo, và chẳng có gì đáng ngờ là ngay cả những quý bà trên chuyến tàu định mệnh Titanic cũng phải dừng lại đôi phút ở các cửa hàng thời trang giảm giá một nửa do đắm tàu trước khi bước xuống thuyền cứu sinh.
Cuối cùng thì chúng tôi cũng đi qua cái phần áo quần đó, và ngồi xuống quanh chiếc bàn tròn. Jim mở phần thông tin đặt chỗ của chúng tôi và nói:
— Ông bà có một tin nhắn.
Anh ta đưa mảnh giấy với dòng chữ viết bằng bút mực. Trên đó chỉ vỏn vẹn mấy chữ:
— Gọi điện cho tôi. Walsh. Thời gian: 19h17.
Không nhớ được tôi hay Kate đã nói cho Tom Walsh biết địa điểm nơi ở của chúng tôi, tôi suy luận rằng chắc hẳn Walsh biết được thông tin này từ Thiếu tá Schaeffer. Không có vấn đề gì lớn, nhưng tôi cần phải nhớ rằng Walsh và Schaeffer có liên hệ với nhau.
Tôi đưa Kate mảnh giấy, nhìn lướt qua điện thoại cầm tay và nhận thấy không có sóng. Tôi hỏi Jim:
— Ở đây không có sóng điện thoại di động sao?
— Đôi lúc có, đôi lúc không. Điểm có nhiều sóng nhất là ở giữa sân bóng vồ. Anh ta cho rằng điều đó đáng nực cười và nén cười khi nói với tôi:
— Đôi khi phải đứng đúng chỗ thì mới có sóng.
— Ở đâu? Tôi không nhịn được và hỏi lại.
Anh ta nói rõ:
— Đó là Whitney Point ở phía trên hồ Saranac, ngay trong khu vực này thôi.
Sau Đó Jim báo trước với chúng tôi:
— Ở đây chúng tôi không khuyến khích mọi người sử dụng điện thoại di động.
— Tại sao vậy?
— Điều đó làm khuấy động không gian nơi nghỉ dưỡng.
— Hiểu. Trong phòng có điện thoại không?
— Có. Nhưng quý khách sẽ không gọi ra ngoài được.
— Vậy thì điện thoại để làm gì?
— Để liên lạc nội bộ.
— Có nghĩa là tôi sẽ bị tách hẳn ra khỏi thế giới bên ngoài?
— Không, thưa ngài. Ngài có thể gọi ra ngoài bằng đường điện thoại ở nhà điều hành, và một đường khác ở bếp ăn của khu nhà nghỉ chính. Trong trường hợp có ai đó gọi, ông Walsh chẳng hạn, chúng tôi sẽ gửi tin nhắn cho ngài.
— Bằng cách nào? Đốt lửa chăng?
— Bằng thư tín hoặc qua hệ thống điện thoại nội bộ.
— Được thôi.
Trong một vài ngày tiếp theo đó, sẽ có cả thuận lợi cũng như khó khăn, cho việc gọi và nhận điện thoại mà chúng tôi phải thực hiện.
Jim tiếp tục làm thủ tục đăng ký và nói:
— Hai đêm phải không ạ?
— Chính xác. Quán bar ở đâu?
— Tôi sẽ chỉ qua tất cả sau vài phút nữa.
Jim gõ nhanh máy tính và đưa chúng tôi bản thông tin, một cuốn lưu niệm của The Point, cùng bản đồ của cả khu nghỉ dưỡng. Jim hỏi tôi:
— Ngài định thanh toán theo tài khoản như thế nào?
— Bằng cách đấu súng được không?
— Gì cơ thưa ngài?
Kate nói:
— Bằng thẻ tín dụng – Nàng quay qua tôi:
— John, sao anh không dùng thẻ cá nhân có hơn là dùng thẻ công không?
— Thẻ của anh bị mất cắp rồi.
— Anh bị mất khi nào vậy?
— Cách đây khoảng 4 năm.
— Sao anh không làm thẻ khác?
— Vì kẻ trộm chi tiêu còn ít hơn bà vợ trước của anh.
Chẳng ai cho rằng điều tôi nói là đáng cười cả. Tôi đưa Jim thẻ tín dụng của chính phủ R&I.
Jim đánh dấu vào bản đồ đưa chúng tôi và nói:
— Theo đường này, ông bà cứ đi qua một ngôi lều và sân bóng vồ là đến khu nhà nghỉ chính. Charles sẽ đợi ông bà ở đó.
— Quán bar ở đâu?
— Ngay trước mặt khu nhà nghỉ chính, tại Tổ chim ưng. Ngay tại đây. – Jim đánh một dấu X vào bản đồ.
— Chúc ông bà vui vẻ trong thời gian nghỉ lại đây với chúng tôi.
— Chúc anh vui vẻ.
Chúng tôi rời khỏi nhà điều hành. Kate hỏi tôi:
— Sao anh lại có thể thô lỗ như vậy được?
— Anh xin lỗi.
— Không, em không có ý nói vậy. Anh có định gọi cho Walsh không?
— Có chứ. Sân bóng vồ ở đâu nhỉ?
Chúng tôi lên xe đi tiếp qua một túp lều, hoặc cái quái quỷ gì đó tôi không quan tâm, sau đó đến ngang sân bóng vồ. Tôi hỏi:
— Anh có thể dừng lại và gọi điện ở đây không?
— Không. Charles đang đợi chúng ta.
Phía cuối con đường là khu nhà nghỉ chính bằng gỗ có cổng vòm. Một tay trẻ tuổi trong trang phục vét-tông, đeo cà vạt đang vẫy về phía chúng tôi. Chúng tôi cho xe hướng vào khu nhà và bước ra khỏi xe.
Gã trai trẻ nhảy từng bước xuống bậc cấp, chào và giới thiệu tên mình là Charles. Charles nói:
— Tôi tin là trước đây đã có lần nói chuyện với ông Corey.
— Đúng vậy.
Charles khôi hài:
— Ở đây chúng tôi đã từng chuẩn bị bữa ăn cho cả những con gấu lớn kia.
— Tốt. Các anh có thể chuẩn bị bữa tối cho chúng tôi được không?
Tôi nghĩ là Charles chỉ muốn vứt tôi vào làm bữa tối cho lũ gấu thì đúng hơn. Nhưng anh ta nói:
— Chúng tôi có thể phục vụ bữa tối ngay bây giờ, chúng tôi cũng đã chuẩn bị trước hai chỗ cho ông bà. Charles quay sang tôi khẽ nói:
— Trang phục ăn tối bắt buộc là áo vét và cavát.
— Tôi không có hai thứ đó, Charles.
— Ôi… trời… chúng tôi có thể cho ông mượn.
Thật nực cười là Kate với trang phục quần jean đen thì chẳng sao cả trong khi tôi lại cần phải khoác lên người hai thứ chết tiệt kia. Tôi nói với Charles:
— Có thể không cần thiết nữa đâu. Quán bar ở chỗ nào?
Charles chỉ qua một ngôi nhà vẫn thô kệch như vậy và nói:
— Quán rượu ở đó, thưa ngài. Có tương đối nhiều quán bar tự phục vụ trong phạm vi khu nghỉ, và tất cả nhân viên phục vụ đều là những người đứng bar, nhưng nếu không thấy ai ở đó thì ngài cứ lấy đồ uống tự nhiên.
— Có lẽ tôi sẽ thích chỗ này đấy.
— Xin mời ông bà theo tôi.
Chúng tôi đi theo Charles bước lên bậc có cổng vòm vào phía trong một căn phòng tròn lớn. Phía trong, mọi thứ đều được sắp đặt theo kiểu Adirondack khiến thần kinh tôi bắt đầu bị kích động.
Charles nói:
— Đây là lối vào phòng đợi của khu nhà nghỉ chính. Nơi này đã từng là nhà ở của William Avery Rockefeller.
Kate nói:
— Căn phòng thật đẹp.
Charles mỉm cười:
— Tất cả mọi thứ đều nguyên bản như ban đầu.
Rõ ràng là Charles thích những thứ tinh tế trong cuộc sống. Ở giữa căn phòng là một chiếc bàn tròn, bên trên đặt một bình hoa bằng kim loại, một chai sâm-panh vùi trong chiếc xô nhỏ dựng đá, bên cạnh là ba chiếc ly khía rãnh. Charles mở nút chai, rót sâm-banh và đưa cho chúng tôi mỗi người một ly:
— Chúc mừng quý khách đến với The Point.
Thực sự tôi không uống loại đồ uống này nhưng vì lịch sự và cũng vì tôi cần một chút hơi men nên tôi cũng cụng ly và cả ba chúng tôi cùng uống.
Charles chỉ một căn phòng nhỏ bên ngoài căn phòng tròn nói:
— Đây là quán bar tự phục vụ mở cửa 24/24 giờ cho sự thuận tiện của quý khách.
Giờ đây mọi thứ cũng đã thực sự thuận tiện, nhưng Charles lại tiếp tục:
— Và đây là, – anh ta quay về hướng cửa tò vò bên trong căn phòng – Hội trường lớn.
Tôi ghé mắt nhìn vào Hội trường lớn. Nó làm tôi nhớ lại cái phòng lớn tôi đã ngồi nói chuyện với Bain Madox. Ngoại trừ một điều khác là ở cái Hội trường lớn này, phía xa đầu đằng kia là hai chiếc bàn ăn hình tròn đặt trước lò sưởi đang cháy rừng rực. Quanh mỗi chiếc bàn có khoảng mười người đàn ông và phụ nữ đang ngồi ăn uống. Và dù không nghe thấy gì tôi cũng có thể đoán chắc được họ đang tán chuyện, những câu chuyện vui sáo rỗng, tầm thường và vô vị.
Charles nói:
— Từ Hội trường lớn, ông có thể đi đến phòng mình, tên phòng là Mohawk. Đây đã từng là phòng ngủ chính của William Avery Rockefeller. Tuy nhiên, trong trường hợp Hội trường lớn đang có người ăn tối thì ông có thể đi vòng theo đường vào từ bên ngoài. Tôi sẽ chỉ dẫn cho ông ngay sau đây thôi.
Tôi gợi ý:
— Tôi cho rằng chúng ta cần uống một chút gì trước đã.
Charles gật đầu:
— Tất nhiên rồi. Nếu ông có thể đưa chìa khóa cho tôi, chúng tôi có thể trông nom xe và chuyển hành lý vào phòng cho ông.
Kate nói:
— Chúng tôi không có hành lý.
Và rõ ràng là Kate nhận ra Charles đang nghĩ rằng chúng tôi mới chỉ gặp nhau ở bến đỗ xe tải hoặc cái gì đó tương tự nên nàng nói thêm:
— Chuyến đi này hoàn toàn ngẫu nhiên và hành lý của chúng tôi sẽ tới trong ngày mai. Trong khi chờ đợi, các anh có thể chuẩn bị cho chúng tôi một số đồ lặt vặt như bàn chải đánh răng, dao cạo và một vài thứ khác được không?
— Tất nhiên rồi. Tôi sẽ cho mang đồ đến phòng cho ông bà.
Phụ nữ rất thực tế, đó là không nói đến những gì mà những người hoàn toàn xa lạ thường nghĩ. Vì thế, để tỏ ra là người chồng tốt và chung thủy, tôi nói với Charles:
— Chúng tôi kỷ niệm ngày cưới, và chúng tôi đã quá háo hức nên đã sắp xếp hành lý với hãng Bentley nhưng lại đi nhầm hãng Ford.
Charles nghe và mời chúng tôi thêm một ly sâm-panh nữa. Tôi từ chối cho cả hai:
— Lát nữa chúng tôi sẽ đến quầy rượu. Anh có thể chuẩn bị một chút đồ ăn cho chúng tôi được không?
— Tất nhiên là được rồi. Nếu ông cần thứ gì thì cứ gọi bất cứ nhân viên nào ở đây.
— Thế còn chìa khóa phòng thì sao?
— Không có chìa khóa, thưa ông.
— Vậy làm thế nào chúng tôi có thể vào phòng được?
— Phòng không có khóa.
— Vậy làm sao chúng tôi ngăn không cho lũ gấu đột nhập vào phòng?
— Phòng có then gài ở phía trong cửa.
— Liệu gấu có thể...?
— John, đi đến quầy rượu đi thôi.
— Được, – tôi nói với Charles: Đây là chìa khóa xe của tôi. Sáng mai nhớ báo thức chúng tôi vào 6 giờ sáng.
— Vâng, thưa ông. Ông bà dùng bữa sáng trong phòng hay ở Hội trường lớn?
Kate đáp:
— Tôi muốn ở trong phòng.
Chúng tôi luôn luôn bất đồng về các dịch vụ tại phòng. Tôi không thích ăn ở nơi mình ngủ, nhưng phụ nữ thì tôi để ý thấy họ luôn thích những dịch vụ tại phòng.
Charles hỏi thêm:
— Ông bà có muốn mát-xa tại phòng không?
— Trong khi ăn sáng? – Tôi hỏi lại.
— Ngày mai chúng tôi sẽ xem lại lịch của mình sau, – Kate trả lời.
— Còn điều gì chúng tôi có thể giúp đỡ ông bà được không?
Kate trả lời:
— Hiện tại thì chưa cần gì. Cảm ơn Charles, anh đã rất tận tình với chúng tôi.
Tôi hỏi anh ta: Các anh có lợn bọc không?
— Gì cơ thưa ngài?
— Lợn bọc ở quầy bar ấy? Có không?
— Tôi sẽ… hỏi đầu bếp trưởng.
— Nhớ chuẩn bị mù tạt nhé. Và nướng cho bì lợn hơi cháy vàng một chút.
— Vâng… tôi sẽ nói với đầu bếp.
— Chào.
Khi rời khỏi căn phòng tròn tôi nói với Kate:
— Anh cũng được đấy chứ?
— Chưa hẳn.
Nàng mở cửa xe lôi ra chiếc túi xách. Chúng tôi đi bộ khoảng gần 30 mét tới khu nhà có tên Tổ chim ưng, trong đó có một nơi được gọi là Quầy rượu.
Quầy vẫn lại là một căn phòng thô kệch nhưng có vẻ là ít thô kệch nhất trong các căn phòng thô kệch ở đây. Đấy là căn phòng dành để chơi bài, bên trong có bàn bi-a, giá sách, và bộ giàn âm thanh nổi. Căn phòng ấm cúng với ngọn lửa nhỏ đang bập bùng trong lò sưởi. Quầy rượu chiếm một nửa căn phòng với một hàng rượu đẹp mắt chạy dài phía sau, không có người đứng quầy. Lúc này trong phòng trống không vì tất cả thực khách đều đang ăn tối. Có vẻ gì đó giống như người ta vừa mới chết và đang trên đường lên thiên đàng vậy.
Tôi lướt tới phía sau quầy bar nói với Kate:
— Xin chào quý bà, có thể mời quý bà một ly cocktail được không?
Nàng hùa theo câu đùa ngớ ngẩn của tôi:
— Tôi nghĩ là tôi muốn một ly rượu nâu nhỏ. À mà không, cho tôi một ly Stoli đúp, cắt thêm hai lát chanh.
— Được, thưa bà.
Tôi lấy hai ly ngắn đặt lên mặt quầy, tìm đá, chanh, bình nước nóng, và rượu Stoli. Hai tay hai chai, tôi rót hai ly đầy đến ngọn.
Chúng tôi chạm ly, Kate nói:
— Uống vì Harry.
— Hãy yên nghỉ đi, bạn của tôi.
Chúng tôi không nói thêm một lời nào với nhau bởi cả hai đều đang trong cảm giác được xả hơi sau một ngày dài đầy sự kiện và tràn ngập nỗi buồn.
Sau cùng Kate lên tiếng:
— Chúng ta có nên gọi cho Tom không?
Tôi kiểm tra lại điện thoại cầm tay và thấy lúc này đang có sóng.
— Thưa quý bà, ở đây chúng tôi không khuyến khích sử dụng điện thoại di động.
— Nếu việc thực sự quan trọng thì sao?
— Nếu thế ông ta sẽ gọi lại.
Tôi rót thêm rượu và nói:
— Nếu rượu miễn phí thì họ hy vọng gì để kiếm tiền từ khách hàng với cái giá một nghìn hai một đêm?
Nàng mỉm cười:
— Có thể họ đang hy vọng là anh sẽ đi ngủ sớm đấy. Mà này, anh không nên sử dụng thẻ tín dụng của chính phủ.
Tôi đáp lại:
— Xem em kìa. Nếu thế giới này đang đến ngày tận diệt thì điều đó có gì khác biệt không?
Kate ngẫm nghĩ nhưng không trả lời.
Tôi tiếp:
— Và nếu chúng ta có thể cứu cả thế giới này thì em có nghĩ là chính phủ sẽ bắt chúng ta phải hoàn lại số tiền này không?
— Có chứ.
— Thật vậy sao?
— Thật.
— Vậy còn động lực nào khuyến khích anh cứu rỗi thế giới này?
— Đó là nhiệm vụ của anh trong tuần này.
Nàng nhấp một ngụm rượu, mắt dán vào ngọn lửa trong lò sưởi:
— Thực ra, nếu thế giới này sắp đến ngày tận diệt thì đây quả là một nơi nghỉ ngơi lý tưởng đấy.
— Đúng vậy. Và cả Câu lạc bộ đồi Custer nữa chứ.
Kate gật đầu.
— Em biết chơi bi-a 16 bóng không? Tôi hỏi.
— Em đã từng chơi, nhưng chơi không được tốt lắm.
— Có vẻ như không đúng lắm.
Tôi đi vòng qua quán bar đến bên bàn bi-a. Bóng đã được sắp sẵn. Đặt ly rượu xuống, tôi cởi áo khoác, kéo đuôi áo che đi bao súng, chọn một tay cơ và nói:
— Nào, hãy làm một séc.
Kate rời khỏi quầy bar, cởi áo khoác ngoài, kéo áo len trùm lên bao súng, xắn ống tay áo và cũng chọn một tay cơ.
Tôi nhấc khung chặn bóng định nói:
— Em là người chuyên phá bóng, em phá trước.
Nhưng thực ra tôi đã không nói như vậy, thay vào đó là:
— Mời quý bà phá bóng trước.
Kate lau đầu tẩy, vươn gập người trên bàn và thúc tay cơ. Đó là một cú phá bóng tốt nhưng không có bóng nào rơi xuống lỗ.
Tôi ăn liền ba cơ nhưng lại đánh trượt một cơ tương đối dễ. Tôi thấy hình như rượu mạnh đã bắt đầu ảnh hưởng đến sự kết hợp giữa tay và mắt. Mà cũng có thể là tôi cần thêm một ly nữa chăng.
Kate cũng ăn liền ba cơ. Tôi đã từng được xem nàng chơi bi-a 16 bóng trước đây.
Tôi tiếp tục đánh trượt một cơ tương đối dễ. Lần này thì nàng nói:
— Anh say rồi sao? Hay đây cũng chỉ là giả vờ thôi?
— Hôm nay không phải là ngày chơi của anh.
Kate lại ăn liên tiếp 4 cơ, tôi xin chịu thua và xếp bóng:
— Hay là mình chơi 5 đô một bóng đi, – Tôi đề nghị.
— Chúng ta chẳng đã vừa chơi vậy sao?
Tôi mỉm cười và hỏi: Em học chơi ở đâu vậy?
Nàng nhe răng cười tinh quái:
— Anh không muốn biết đâu.
Séc thứ hai kết quả suýt soát hơn vì nàng đã bắt đầu chếnh choáng.
Còn tôi thì thực sự cảm thấy thú vị khi chơi bi-a cùng vợ. Trông nàng thật gợi cảm khi cong người tì lên bàn đánh bóng. Còn thú vị hơn khi lắng tai nghe tiếng củi nổ lách tách trong lò sưởi và phía bên là một quầy bar miễn phí.
Một cô gái trẻ bước vào với một khay đồ nguội khai vị trên tay. Tôi bước đến đỡ và đặt lên trên mặt quầy bar. Cô ta nói:
— Xin chào, tôi tên là Amy. Xin chúc mừng quý khách đã đến với The Point. Tôi có thể giúp ông pha một ly rượu được chăng?
— Không cần thiết đâu, tôi đáp – Nhưng hãy pha cho cô một ly đi.
Amy từ chối lời mời của tôi và nói:
— Đây là thực đơn cho bữa sáng. Chỉ cần chọn món, chọn thời gian ông bà muốn dùng bữa sáng và sau đó gọi điện cho bếp.
— Tôi liếc nhìn chiếc khay đồ nguội khai vị hỏi Amy:
— Món lợn bọc của tôi đâu?
Amy thoáng bối rối đáp lại:
— Đầu bếp trưởng – ông ta là người Pháp, ông ta không hiểu được yêu cầu của quý ông. – Cô nói thêm – Tôi không nghĩ là chúng tôi có xúc xích.
— Amy, hãy nói với Pierre rằng đây là nước Mỹ.
Kate chen ngang:
— Amy, hãy bảo đầu bếp thay bằng xúc xích của bữa sáng, với mù tạt, được không?
Amy nhắc lại bằng giọng dân miền bắc, hứa sẽ trở lại và quay đi.
Tôi nói với Kate:
— Nước Mỹ này sắp xuống địa ngục hết cả rồi.
— Thôi nào John. Thử một vài món khác đi có được không.
Nàng đưa tôi món cá hồi hun khói nhưng tôi từ chối.
— Anh đã hy vọng được ăn những cái thực sự được gọi là món ăn ở đây. Em biết đấy chúng ta đang ở trong rừng, anh muốn được thưởng thức những món như bít-tết trâu, hoặc món thịt săn hầm…
Tôi nhớ lại mẩu tin của tôi nhắn cho Harry và rót thêm một ly wishky.
— Em biết hôm nay là một ngày mệt mỏi với anh. Vì thế, hãy cứ xả hơi, uống, làm bất cứ điều gì anh thấy có thể khiến mình khỏe hơn.
Tôi không nói gì nhưng gật đầu.
Chúng tôi mang đồ uống về phòng chơi bài. Tôi ngồi ở bàn chơi bài, và Kate ngồi đối diện với tôi. Tôi mở bộ bài mới hỏi nàng:
— Em có biết chơi poker không?
— Em đã từng chơi nhưng không giỏi lắm.
Tôi mỉm cười:
— Thẻ đỏ là một đô. Thẻ xanh là 5 đô. Giờ thì em đang là chủ nhà băng đấy.
Tôi trang bài, Kate chia mỗi người số thẻ tương đương 200 đôla.
Tôi đặt bộ bài trước mặt nàng nói:
— Em bốc bài đi.
Nàng bốc bài, tôi chia 5 quân.
Chúng tôi chơi vài ván. So với bi-a, lần này tôi chơi tốt hơn. Tôi có thể không có được sự phối hợp tốt giữa mắt và tay nhưng với Poker thì tôi lại có thể chơi ngay cả trong khi đang ngủ.
Kate liếc nhìn điện thoại di động và nói:
— Em cần gọi một cuộc điện thoại.
Tôi chỉ tay về phía quầy bar gỗ gụ:
— Đó là điều duy nhất anh quan tâm đêm nay.
— Em nghĩ là chúng ta cần phải gọi cho Tom. Thực sự cần phải gọi.
— Ai thua ván bài này sẽ gọi cho Tom.
Nàng thua ván bài cùng 20 đôla nhưng được quyền đi gọi cho Tom.
Kate gọi vào di động của Tom Walsh:
— Tôi gọi lại khi nhận được cuộc gọi của ông.
Nàng bật loa ngoài, đặt điện thoại lên bàn và gom bài lại.
Tom hỏi:
— Cô đang ở đâu?
— Ở The Point. Ông đang ở đâu?
Ông ta trả lời: Tôi ở văn phòng.
Thật thú vị và khác thường là Tom lại đang ở văn phòng. Tom nói:
— Chúng ta có thể nói chuyện được không?
Kate cười:
— Không được tốt lắm. Tôi vừa mới uống 4 ly Stoli.
Kate trang bài ngay gần điện thoại, và Walsh nói:
— Tôi đang chờ đợi đây.
— Còn tôi đang trang bài.
Tom có vẻ không kiên nhẫn:
— John giờ đang ở đâu?
— Anh ấy đang ở đây.
— Tốt, tôi nói.
— Cái gì...
— Theo, – Nàng vứt thẻ 1 đôla.
— Hai người đang làm cái gì vậy? – Tom hỏi.
— Đang chơi Poker – Kate đáp.
— Chơi một mình à?
Kate chia 5 quân bài và nói: Không. Đó là trò chơi dành cho một người.
— Ý tôi là ngoài hai người ra còn ai nữa không? – Tom nói với giọng kiên nhẫn thiếu tự nhiên.
— Không. Anh sắp mở chưa?
Tôi ném ba thẻ xanh và nói:
— Mở cho năm quân.
Kate đẩy thêm hai thẻ xanh:
— Nâng thêm cho năm quân.
Tom hỏi:
— Cô đang để loa ngoài đấy à?
— Vâng. Anh cần bao nhiêu quân?
— Hai.
Nàng thắng tôi dễ dàng với hai quân bài và nói:
— Tốt hơn hết là anh nên kiếm cái gì đó tốt hơn là ba quân cùng một loại đó. Chia bài.
— Em chơi ăn gian.
Walsh nói từ đầu dây:
— Xin lỗi, hai người có thể tạm xếp trò poker sang một bên mà dành một phút cho công việc được không?
Kate đặt úp bàn tay xuống mặt bàn thì thầm với tôi:
— Lượt anh đó.
— Em tố thêm. Lượt em đấy.
— Anh có chắc không?
— Đó là lượt dành cho cô, Kate – Walsh nói: Nhưng trước khi cô đặt cửa, tôi nghĩ John có thể nói cho tôi biết kết quả gặp thiếu tá Schaeffer ra sao.
Tôi đặt úp tay lên mặt bàn, nhấp một ngụm Wishky:
— Bởi ông biết chúng tôi đang ở The Point, tôi cho rằng ông đã nói chuyện với Schaeffer. Vậy ông ta đã nói gì với ông?
— Ông ta nói Kate đã không có mặt tại cuộc họp.
— Chính xác. Tôi đã nói chuyện với ông ta với tư cách hai cảnh sát.
— Đó chính là điều tôi lo sợ. Rồi sao nữa?
— Ông ta nói gì với ông? – Tôi hỏi.
— Ông ta nói rằng anh đã nói với ông ta về vụ cược của chúng ta. Tôi đoán rằng hôm nay anh đang ở trong trạng thái hưng phấn cá cược đấy.
Tom Walsh thật đúng là hài hước, và vì muốn động viên theo cách ấy nên tôi cười lớn.
— Có phải ông cũng đã nốc vài ly rồi không? – Tom hỏi.
— Không. Chúng tôi vẫn còn uống chưa xong mà.
— Tôi biết… rõ mà....
— Ông không phải gọi cho Schaeffer trước khi chúng tôi tới đó để nói rằng Kate và tôi là hai nhân viên điều tra đã được chỉ định hay sao?
— Rõ ràng là mặc dù say anh cũng không quên giám sát phần nhiệm vụ của tôi.
— Tom, ngay cả khi tôi chết thì cũng không thể quên được việc ông đã kiểm soát tôi từng việc nhỏ nhặt như thế nào.
— Anh cần học cách kiềm chế tức giận, – Tom lên tiếng khuyên tôi.
— Tại sao lại phải thế chứ? Đó là thứ duy nhất làm động lực cho tôi thực hiện công việc.
Tom bỏ ngoài tai những lờí của tôi và hỏi tiếp:
— Schaeffer có giúp ích được gì không? Anh có tìm thêm được chi tiết nào không?
— Tom này, bất cứ cái gì Schaeffer nói với tôi, ông ta sẽ nói với ông. Ông ta có vẻ yêu thích FBI đấy.
Tom gợi ý:
— Tôi cho rằng chúng ta nên tiếp tục bàn bạc sau khi anh bớt mệt mỏi hơn.
— Tôi hoàn toàn bình thường.
— Được thôi, Tom nói – Chỉ báo cho anh biết rằng xác Harry đang được đưa về New York bằng trực thăng để khám nghiệm. Tôi biết rằng đã có dấu hiệu hành hạ trên thân thể Harry.
Tôi không đáp lại.
Walsh tiếp tục:
— Rõ ràng đây không phải là một tai nạn trong khi đi săn. Và Cục điều tra liên bang xếp đây vào một vụ giết người.
— Manh mối đầu tiên của ông là gì? – Tôi nói thêm: Fax cho tôi báo cáo khám nghiệm tử thi, hãy để ý tới Schaeffer.
Tom không để ý đến câu nói của tôi:
— Một nhóm đặc vụ đang từ New York và Washington tới, họ đang rất muốn gặp gỡ hai người vào ngày mai.
— Nếu họ không đến đây để bắt bớ thì chúng tôi sẵn lòng nói chuyện với họ.
— Đừng có hoang tưởng thế. Họ chỉ muốn nghe báo cáo đầy đủ từ phía hai người mà thôi.
— Được. Trong khi đó ông cần phải tìm một thẩm phán liên bang để ra lệnh khám xét đối với tài sản và khu nhà nghỉ của Câu lạc bộ đồi Custer càng sớm càng tốt.
— Chúng tôi sẽ xem xét vấn đề này.
Kate chen ngang:
— Tom này, John và tôi cho rằng Bain Madox đang có âm mưu gì đó vượt ra ngoài phạm vi của việc chi phối giá dầu.
Một khoảng lặng kéo dài và sau đó giọng Tom vang lên:
— Ví dụ?
— Chúng tôi không biết.
Nàng nhìn tôi và đọc to 3 từ MAD, NUKE, ELF.
Tôi lắc đầu.
— Là gì?
— Tôi không biết – Kate nói.
— Vậy tại sao hai người lại nghĩ như vậy?
— Chúng tôi...
Tôi chen vào:
— Tom, hãy xem xét vấn đề này khi ông tỉnh táo hơn.
— Vậy hãy gọi cho tôi vào sáng mai. Tôi biết ở đó không có điện thoại trong phòng ngủ, và sóng di động cũng không được tốt lắm, nhưng đừng có nổi cáu với tôi – Tom nói thêm: Tôi thậm chí còn không có ý định thanh toán cho chỗ đó.
Nói xong Tom dập máy.
— Đến lượt em, tôi nói với Kate.
Nàng vứt ba thẻ xanh và nói:
— Không tăng. Không tố.
— 15, và 15 nữa.
Nàng vứt thêm ba thẻ xanh nữa và nói:
— Em sẽ tha cho anh dễ dàng thôi.
Nàng xòe ra bộ J cơ, và kéo đống thẻ về phía mình:
— Anh có con gì?
— Không phải việc của em.
Nàng thu bài và trang lại:
— Anh không phải là người thua bài lịch sự.
— Thua bài lịch sự thì cũng chỉ là kẻ thua bài mà thôi.
— Đáng mặt nam nhi đó.
— Em thích điều đó mà.
Chúng tôi chơi thêm vài ván nữa, tôi thắng chút ít trong trò poker này dù vẫn thua ở trò bi-a trước đó. Tôi gợi ý:
— Hay mình chơi ném tiêu? Mỗi điểm một đôla.
Nàng cười ngất:
— Anh thậm chí còn không đủ tỉnh táo để đưa ly rượu lên miệng được kia mà. Tin em đi, chắc chắn anh sẽ không nhìn thấy em trong phòng nếu trên tay anh là một cây phi tiêu.
— Thôi nào, tôi đứng lên, hơi lảo đảo – Cũng giống như thể thao ba môn phối hợp thôi mà – poker, bi-a, và sau đó là phi tiêu.
Tôi tìm phi tiêu, lùi lại cách đích 10 foot và ném tiêu. Chỉ một chiếc đi trúng đích, những chiếc còn lại rủi thay lại ra hết bên ngoài, chiếc cuối cùng thậm chí còn găm cả rèm cửa sổ vào tường.
Kate bắt đầu thấy trò này thú vị. Tôi nói:
— Hãy thử xem em ném ra sao.
Nàng nói:
— Em không biết chơi trò này. Nhưng anh có thể tiếp tục ném lại cũng được mà.
Rồi nàng lại cười ngất.
Amy quay trở lại với một chiếc khay phủ vải bên trên. Cô đặt xuống mặt quầy bar và nói:
— Đây thưa ngài. Đầu bếp đã chuẩn bị món xúc xích táo gà tây xông khói.
Kate ngay lập tức nói cảm ơn trước khi tôi kịp nói với Amy về những gì Pierre có thể làm gì với món xúc xích gà tây.
Amy nhìn chiếc tiêu cắm trên tường nhưng không nói gì. Sau cùng cô hỏi:
— Ông bà đã chọn món cho bữa sáng chưa ạ?
Tôi đọc kỹ thực đơn và chọn bữa sáng với những món mà ngay cả một đầu bếp người Pháp cùng không thể chuẩn bị một cách tồi tàn được.
Tôi muốn xem chương trình thời sự buổi tối nên quay qua hỏi Amy:
— Tivi ở đâu vậy?
— Ở The Point không có tivi – Amy đáp.
— Nếu thế giới đang đến ngày tận diệt thì sao? Chúng tôi không được xem cái ngày tận diệt ấy trên tivi à?
Amy mỉm cười theo cách mà người ta thường xử sự với những người say. Cô quay sang Kate, người mà có lẽ cô ta cho là còn tỉnh táo hơn:
— Đúng thế, chúng tôi đã gặp trường hợp này vào ngày 11/9. Bà biết không? Vì thế, họ đã đem một chiếc tivi đặt ở đây, trong quầy bar để mọi người có thể theo dõi – Cô nói thêm: Thật khủng khiếp.
Cả tôi và Kate, chẳng ai bàn lại một lời. Amy chúc chúng tôi một buổi tối vui vẻ, nhìn trộm chiếc phi tiêu một lần nữa và rời khỏi quầy bar.
Tôi mở chiếc khay, cẩn thận kiểm tra món xúc xích gà tây gói trong một loại lá bột:
— Cái quái quỷ gì thế này?
Kate nói:
— Mai chúng ta sẽ rời khỏi nơi này.
— Anh lại thích ở lại đây hơn.
— Vậy thì đừng có phàn nàn nữa và xử lý cái xúc xích chết tiệt ấy đi.
— Mù tạt đâu nhỉ? Không có mù tạt rồi.
— Thôi, đến giờ đi ngủ rồi John. Nàng đưa tôi áo khoác, cầm khoác áo của mình lên, xách túi và lôi tôi ra khỏi cửa.
Tôi nhét khẩu Glock vào cạp quần đề phòng gặp gấu rừng và bảo Kate làm như tôi nhưng nàng không để ý.
Ngoài trời lạnh buốt, tôi có thể nhìn rõ làn khói từ hơi thở của mình. Trên kia, hàng nghìn ngôi sao lấp lánh trên bầu trời tối đen. Có thể ngửi thấy rõ mùi gỗ thông thơm nồng và khói đốt củi từ khu nhà nghỉ chính. Xung quanh, mọi vật đều lặng yên.
Tôi thích cái ồn ào của chốn đô hội, thích được bước chân trên lớp bê tông của thành phố. Tôi chẳng mong muốn được ngắm những vì sao đêm bởi ánh sáng từ những ngọn đèn khu phố Manhattan tạo nên một thế giới của riêng nó. Và 8 triệu người thì rõ ràng là thú vị hơn 8 triệu bóng cây.
Tuy nhiên, không thể phủ nhận được chốn này thực sự đẹp. Và nếu trong trường hợp nào khác thì tôi đã có thể thư giãn, tạm thời nghỉ ngơi trong cái thế giới hoang dã này và có thể thoải mái thưởng thức đồ ăn Pháp với 20 kẻ xa lạ khác, rất có thể đó là những kẻ kiếm tiền của công chúng một cách không lương thiện.
— Thật thanh bình, Kate nói – Anh có cảm thấy mình chẳng còn chút căng thẳng và áp lực nào nữa không?
— Anh thì lúc nào chẳng rơi vào trạng thái căng thẳng rồi lại thảnh thơi rồi lại căng thẳng.
— Anh cần phải bỏ bớt việc và để cho thiên nhiên chiếm trọn tâm hồn thì mới được.
— Đúng vậy. Thực ra anh cảm thấy đã bắt đầu có chút liên hệ với thế giới nguyên thủy trong anh.
— John, có lẽ điều đó sẽ đến vào lúc anh không ngờ nhất, nhưng anh thực sự đã liên hệ với thế giới nguyên thủy trong anh rồi đó. Thực ra em chưa bao giờ nhìn thấy mặt trái con người của anh.
Tôi không chắc đó là lời khen hay là chỉ trích nên không nói gì thêm.
Chúng tôi đi vòng qua khu nhà nghỉ chính tới một khu giả sơn. Qua những khung cửa sổ cỡ lớn của Hội trường lớn, chúng tôi có thế nhìn thấy những thực khách đang ngồi quanh hai chiếc bàn ăn, cần mẫn với các động tác ăn uống đầy văn hóa khai sáng. Chẳng có ai trong số họ là người địa phương, tất nhiên rồi. Nhưng cho dù họ có ở đâu thì họ cùng đã đang ở dây.
Tôi nghĩ đến Bain Madox giờ này đang ngồi trong căn phòng lớn của mình, bao quanh với lò sưởi, chiến lợi phẩm từ những cuộc đi săn, chó, rượu wishky, một gã phục vụ, và rất có thể là cả một hoặc hai cô bạn gái quanh quẩn đâu đó. Với 99 phần trăm con người trên trái đất này thì đó quả là quá đủ. Nhưng Bain Madox, dù rằng có lẽ rất hài lòng với thành quả và tiền tài của mình thì vẫn bị một giọng nói bên trong chi phối để tìm đến những khoảng tối.
Tôi muốn nói rằng nghĩ lại cuộc gặp mặt vừa rồi tôi có thế nhìn thấy một cái gì đó trong ánh mắt và cử chỉ của hắn khiến tôi tin rằng hắn đang thực hiện một nhiệm vụ nào đó, một con người của số phận, khác xa với phần còn lại của nhân loại.
Tôi chắc rằng hắn có nhiều lý do cho những gì hắn đang chủ định, những lý do hắn nghĩ là rất tốt và lờ mờ thấy được qua rượu wishky và cà phê. Nhưng tôi không quan tâm đến những lý do đó cũng như chẳng hề để tâm đến cái con người hiểm ác bên trong hắn ta. Tôi cũng chẳng quan tâm tới giọng nói mê hoặc hay chứng hoang tưởng đã quá rõ ràng của hắn. Điều tôi quan tâm ở đây là rõ ràng hắn đang liên quan tới một kế hoạch tội phạm, và rằng có nhiều khả năng hắn đã giết chết một người bạn của tôi để đạt được tới mục đích lớn hơn của mình, mục đích mà không còn nghi ngờ gì nữa còn vượt xa hơn cả một hành động tội phạm.
— Anh đang nghĩ gì vậy? – Kate chợt hỏi.
— Madox. Harry. Hạt nhân. Tín hiệu vô tuyến. Những thứ như vậy.
— Em biết là chúng ta sẽ tìm ra điều gì đó.
— Ồ, Kate, điều thú vị của bí mật này là ngay cả khi chúng ta không hiểu ra được thì chúng ta cũng nhanh chóng biết cái điều mà chúng ta đã không thể hiểu được đó.
— Nhưng sẽ tốt hơn nếu chúng ta tìm ra trước khi điều đó xảy ra.
Chúng tôi đi vòng ra phía sau khu nhà nghỉ chính, không bóng dáng thú hoang nào. Trước mắt chúng tôi là một chiếc cửa với tấm biển gỗ phía trước ghi: “Mohawk".
Chúng tôi tiến tới, mở cửa, bước vào và khóa cửa trong khi cũng không chắc lắm là liệu chiếc cửa này có thể giúp chúng tôi tránh khỏi sự phiền nhiễu của lũ gấu ngoài kia không. Tôi nghĩ có lẽ nên đẩy chiếc bàn trang điểm ra chặn cửa thì tốt hơn.
— Đẹp tuyệt – Kate thốt lên.
— Cái gì đẹp.
— Căn phòng. John, hãy nhìn xem.
— Cũng được đấy.
Tôi đưa mắt nhìn quanh. Trần nhà kiểu thánh đường ghép bằng gỗ thông sơn màu. Một chiếc giường lớn trông vẻ dễ chịu nhưng hơi cao so với sàn nhà, và sẽ chẳng ai chứ đừng nói gì chỉ chúng tôi là không thích thú gì khi bị ngã lăn từ trên đó xuống. Trên giường là một chiếc giỏ đan bằng liễu gai đựng vật dụng cho phòng tắm.
Trong phòng bày biện nhiều đồ nội thất, quanh phòng chỗ nào cũng có thể nhìn thấy chăn gối mà tôi biết rằng phụ nữ rất thích.
Trong lúc Kate quanh quẩn ngắm nghía đồ vải và hít hà hương hoa thì tôi đi kiểm tra buồng tắm. Tôi là người khó tính trong lựa chọn buồng tắm nhưng buồng tắm ở đây tạm chấp nhận được. Tôi thích toilet đẹp và tốt một chút. Rửa mặt xong, tôi quay lại buồng chính.
Ở bức tường phía xa là lò sưởi lớn bằng đá, trong lò là nhiều thanh gỗ và củi nhen lửa. Kate tay cầm diêm quẹt lửa. Ngọn lửa bùng lên trong khi Kate đứng bên nói:
— Thật lãng mạn phải không John?
Phía trên lò sưới là một bộ sưu tầm gạc hươu lớn khiến tôi chợt thấy mình có cảm giác ham muốn. Tôi nói:
— Anh cảm thấy thật ham muốn.
— Chúng ta không thể chỉ thưởng thức căn phòng không thôi được sao?
— Nhưng em nói là nó thật lãng mạn đó thôi. Vậy thì...
— Lãng mạn và tình dục không phải là một thứ.
Tôi biết rằng nếu tôi đồng ý với nàng thì tôi sẽ chẳng có được điều gì cả, vì thế tôi nói:
— Em biết là anh rất nhạy cảm với điều đó mà. Đây, để anh bật một chút nhạc lên nhé.
Trên bàn có một chiếc máy hát và một đống đĩa CD. Tôi nhanh chóng chọn đĩa Etta James mà tôi biết nàng vẫn thích đưa vào máy. Bắt đầu vang lên giọng ngâm nga nhỏ nhẹ của Etta, bài “Cuối cùng”.
Kate lấy một chai vang đỏ trên bàn ăn, mở nút rót ra hai ly. Nàng nâng ly nói:
— Uống cho chúng ta.
Chúng tôi cụng ly, nhấp rượu và hôn nhẹ lên môi nhau. Tôi không phải là người sành rượu vang lắm nhưng cũng đủ nhận ra rằng rượu vang và lãng mạn đều là một, và có thể dẫn tới bất cứ điều gì tiếp theo.
Kate quay ra tắt điện. Cả hai tháo giày và ngồi thoải mái trên hai chiếc ghế bọc vải, đối diện nhau, ngay sát bên là lò lửa đang rực cháy.
Kate cất tiếng:
— Quả là một ý tưởng độc đáo. Chỉ có điều quá tốn kém.
— Này, anh có được chút tiền boa từ dầu hỏa của Bain đây. Ngày mai chúng ta sẽ mua các hợp đồng dầu ngay sau khi thị trường chứng khoán mở cửa. Sau đó anh sẽ đánh cá với mọi người về cái ngày chiến tranh sẽ xảy ra. Em có nghĩ là chiến tranh có liên quan tới những gì Madox đang mưu tính không?
— Rất có thể.
— Đúng vậy… rất có thể Madox đang lên kế hoạch tấn công Baghdad bằng vũ khí hạt nhân và vì thế ngăn không cho chúng ta có cơ hội phát động chiến tranh. Có thể nào đó là trò chơi của hắn ta không?
— Em không biết. Mà tại sao chúng ta cứ phải suy xét mãi chuyện đó nhỉ?
— Cái đó người ta gọi là tư duy phân tích. Chúng ta được trả lương cũng chính vì cái đó đấy.
— Em đang đi nghỉ mà.
— Vậy tấn công Baghdad bằng vũ khí hạt nhân sẽ đẩy giá dầu lên hay làm giá đầu hạ đi? Và làm sao anh có thể đánh cá về ngày sẽ xảy ra chiến sự nếu chính chiến tranh lại bị ngăn chặn trước bằng một vụ nổ hạt nhân? Em nghĩ sao?
— Em nghĩ là đêm nay chúng ta không nên nghĩ đến những chuyện như thế nữa.
Tôi nhìn quanh căn phòng mờ tối bập bùng ánh lửa. Ánh lửa phản chiếu nhảy nhót trên những bức tranh sơn dầu óng ả trên bốn bức tường. Ngoài trời gió bắt đầu to hơn, tôi có thể nghe tiếng hú qua ống khói lò sưởi. Ngoài cửa sổ, từng đám lá tung lên trong gió. Tôi nói:
— Thực sự là rất lãng mạn. Giờ anh mới thấy sự khác biệt.
Nàng mỉm cười đáp lại.
— Anh đang đi đúng hướng đấy.
— Tốt. Này em không nhận thấy là William Avery Rockefeller cũng đã từng làm tình trong căn phòng này hay sao?
— Có phải đó là tất cả những gì anh có thể nghĩ được không? Em muốn nói là bây giờ đây khi chúng ta đang ở trong một khu đi săn lớn của Adirondack và tất cả những gì anh có trong đầu chỉ là một ông Rockefeller nào đó đã từng làm tình ở trong căn phòng này thôi.
— Không đúng. Anh đang định đưa ra một vài nhận xét về trào lưu chuyển về nông thôn của những kẻ lắm tiền trong nửa đầu của thế kỷ trước dẫn đến việc hàng loạt khu nhà như thế này được xây dựng với mục đích là trốn tránh cái phức tạp của chốn đô hội với tất cả những ồn ào, ô nhiễm và chật chội.
— Thế mới thú vị chứ.
— Và tương tự, Rockefeller cũng đã từng ham muốn. Anh muốn nói là hãy nhìn vào những gì đã xảy đến với Nelson Rockefeller tội nghiệp. Rồi đến ông Rockefeller vỏ sò. Vỏ sò. Em hiểu không? Vì thế, đối với anh đề cập tới William Avery là...
— John, anh lại đang lạc đề rồi đấy.
— Đúng thế.
Chúng tôi ngồi nghe Etta James, ngắm nhìn ngọn lửa bập bùng trong lò sưởi, và nhấp rượu vang. Hơi nóng từ lò sưởi khiến tôi buồn ngủ và bắt đầu ngáp.
Kate đứng dậy, đi đến bên giường ngủ, ôm lấy chiếc chăn lông vịt và chiếc gối, đặt xuống khoảng lát trước lò sưởi.
Nàng sau đó tiếp tục với một động tác còn thoải mái hơn, dẫu chắng có ý nghĩa gì lắm, và tôi ngồi ngắm nhìn nàng đang cởi bỏ y phục trước ngọn lửa ấm nóng. Khi đã hoàn toàn khỏa thân, nàng nằm xuống trên chiếc khăn lông vịt nhìn tôi.
Đến lượt mình tôi cũng đứng dậy, từ từ cởi bỏ quần áo, trong khoảng năm giây gì đó. Chúng tôi ôm nhau nằm đó, tay trong tay.
Nàng thúc cùi chỏ vào lưng tôi và leo lên trên.
Đó là một ngày mệt mỏi tệ hại, và ngày mai, nếu còn có, sẽ chẳng hơn gì. Nhưng dù sao thì như lúc này đây cũng đã rất tuyệt vời chúng tôi rồi.