Lửa Hoang

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 34 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1

❊ ❊ ❊

Tôi là John Corey, cựu thám tử điều tra án mạng thuộc NYPD. Tôi bị thương trong khi thi hành nhiệm vụ, nghỉ hưu với mức thương tật 75% (con số này khai chỉ để lĩnh tiền thôi chứ 98% cơ thể của tôi vẫn hoạt động bình thường); hiện tại làm đặc vụ hợp đồng đặc biệt cho Lực lượng chống khủng bố liên bang.

Anh bạn Harry Muller ở phòng đối diện hỏi tôi:

— Cậu đã bao giờ nghe thấy Câu lạc bộ đồi Custer chưa?

— Chưa, nhưng sao?

— Cuối tuần này tớ sẽ đến đó.

— Vui vẻ nhé!

— Đó là một lũ điên theo cánh hữu sở hữu khu vực săn bắn nằm ở vùng nông thôn của bang.

— Đừng có mang về cho tôi con thú nào nhé, cũng đừng mang về chim chết.

Tôi đứng dậy và bước về quầy lấy cà phê. Trên tường phía trên các bình cà phê là danh sách truy nã của Bộ Tư pháp. Chiếm phần lớn danh sách này là đàn ông theo đạo Hồi, trong Đó có trùm khủng bố Osama Bin Laden.

Trong danh sách gần hai chục tên tội phạm còn có một cái tên người Libya - Asad Khalil mang biệt danh “Sư tử”. Tôi chẳng cần phải động não ghi nhớ hình ảnh của hắn bởi dù chưa một lần giáp mặt, tôi thuộc mặt hắn như gương mặt của chính mình.

Tôi biết về Khalil cách đây khoảng hai năm, khi tôi săn đuổi hắn, nhưng cuối cùng thì hắn cũng đang săn đuổi tôi. Hắn trốn thoát còn tôi cũng thoát chết với một vết thương nhẹ. Như người Ảrập thường nói: “Định mệnh buộc chúng ta gặp lại nhau để quyết định số phận của mình”. Tôi mong chờ ngày đó.

Tôi đổ chỗ cà phê còn lại vào một chiếc cốc và lướt qua tờ Thời báo New York nằm trên quầy. Tít của tờ báo hôm nay, thứ sáu ngày 11 tháng 10 năm 2002 chạy một dòng: “Quốc hội cho phép Bush sử dụng vũ lực đối với Iraq, tạo quyền ủy thác rất lớn".

Bên dưới là tiêu đề: “Theo thông tin từ các quan chức, Mỹ có kế hoạch chiếm đóng Iraq".

Dường như cuộc chiến là một kết cục được báo trước, chiến thắng cũng vậy. Vì thế nên có một kế hoạch chiếm đóng. Tôi tự hỏi liệu có ai ở Iraq biết về điều này không.

Tôi mang cà phê về bàn và bật máy tính, đọc một lượt những bản ghi nhớ. Chúng tôi làm việc trong một tổ chức hầu như không dùng đến giấy, tôi thực sự nhớ việc lập những bản ghi nhớ; tôi muốn viết tắt tên mình vào chiếc máy tính bằng một chiếc bút đầu, song cuối cùng lại dùng tới bút điện tử. Nếu tôi là lãnh đạo tổ chức này, tất cả các bản ghi nhớ sẽ viết bằng bút điện tử.

Tôi liếc đồng hồ, đã 4 giờ 30 phút chiều và các đồng nghiệp của tôi ở tầng 26 toà nhà liên bang số 26 đang rời công sở rất nhanh. Cũng như tôi, các đồng nghiệp của tôi là thành viên của Lực lượng chống khủng bố liên bang - ATTF, một cơ quan viết tắt bang 4 chữ cái nằm trong vô vàn tổ chức viết tắt bằng 3 chữ cái.

Đây là thế giới hậu sự kiện 11-9 nên về lý thuyết đối với ai thì cuối tuần cũng là hai ngày làm việc thêm. Trên thực tế, truyền thống nghỉ việc sớm vào ngày thứ sáu vẫn không thay đổi nhiều. Vì vậy NYPD, vốn là một bộ phận của ATTF và đã quen với những thời điếm đầy rắc rối, cung cấp người cho pháo đài này vào dịp cuối tuần và những ngày nghỉ.

Harry Muller hỏi tôi:

— Cuối tuần này cậu làm gì?

Bắt đầu kỳ nghỉ cuối tuần dài ba ngày nhân kỷ niệm Ngày Columbus, thế nhưng thật đen đủi là theo lịch tôi phải làm việc vào thứ hai. Tôi trả lời:

— Tớ định tham gia buổi diễu hành vào Ngày Columbus nhưng lại phải đi làm vào thứ hai.

— Thế à? Cậu định tham gia diễu hành hả?

— Không, nhưng tớ đã nói với đại uý Paresi thế. Tôi nói thêm: Tôi bảo mẹ tôi là người Italia, tôi sẽ đẩy xe lăn cho bà ấy trong buổi diễu hành.

Harry cười hỏi:

— Thế ông ấy chấp nhận trực thay cậu à?

— Không, ông ấy đề nghị giúp đẩy xe cho mẹ tôi.

— Tớ nghĩ cha mẹ cậu ở Florida kia.

— Đúng thế.

— Và mẹ cậu là người Ireland.

— Đúng rồi. Thế nên bây giờ tôi phải kiếm một bà mẹ Italia để Paresi đẩy xe ở đại lộ Columbus đấy.

Harry lại cười và quay vào làm máy tính.

Harry Muller, như phần lớn cảnh sát New York làm việc trong Phòng Trung Đông của ATTF, bí mật theo dõi và giám sát những nhân vật đáng chú ý, nói một cách chính xác về mặt chính trị là cộng đồng theo đạo Hồi. Thế nhưng tôi lại không làm việc này, tôi phỏng vấn và tuyển mộ chỉ điểm viên.

Phần lớn nhân viên chỉ điểm của tôi là những kẻ dốì trá hoàn toàn hoặc những tay nghệ sĩ đểu cáng cần tiền hoặc được nhập cư, hoặc muốn chơi xấu người nào đó trong cộng đồng có mối liên hệ chặt chẽ của chúng. Đôi lúc tôi kiếm được một nhân viên tốt song phải chia sẻ với FBI.

ATTF phần lớn gồm các đặc vụ của FBI và thám tử NYPD, cộng thêm những thám tử của Sở như tôi. Ngoài ra còn có những người đươc điều từ những cơ quan liên bang khác như Cơ quan nhập cư và hải quan (ICE), cảnh sát bang và vùng ngoại ô, cảnh sát tại các bến cảng, nhìn chung rất nhiều nên tôi không thể điểm tên hay nhớ hết được.

Ngoài ra trong lực lượng của chúng tôi còn có những kẻ như ma, không thực sự tồn tại, nhưng nếu tồn tại thì họ được gọi là CIA.

Tôi kiểm tra Email, có ba thư mới. Thư thứ nhất của Tom Walsh – sếp trưởng, ông này lên nắm quyền chỉ đạo ATTF từ khi sếp cũ Jack Koenig chết trong toà nhà Trung tâm Thương mại Thế giới. Thư có nội dung:

“Mật - Cần ghi nhớ - Trước khi những hoạt động không thân thiện với Iraq có thể xảy ra, chúng ta cần chú ý đặc biệt tới những công dân Iraq sống ở Gonus".

“Gonus" ở đây là viết tắt của nước Mỹ. “Hoạt động không thân thiện” là Chiến tranh. Phần cuối của thư nghĩa là “Tìm kiếm những người Iraq chúng ta thấy có mối liên hệ với các mối đe dọa khủng bố với nước Mỹ để chúng ta có thể khiến cho giới lãnh đạo cảm thấy thoải mái trước khi cho quân ném bom quét lũ khốn khỏi Baghdad “.

Bức thư tiếp tục:

“...Mối đe dọa chủ yếu và trọng tâm vấn đề là UBL, một trọng tâm mới là mối liên hệ Saddam - UBL. Báo cáo về vấn đề trên vào tuần tới - Walsh. Đặc vụ phụ trách".

Cụm từ lạ UBL nghĩa là “Osama Bin Laden” mà theo cách viết thông thường phải là “OBL”; thế nhưng từ lâu một người dịch từ tiếng Ảrập sang chữ Latinh thành “Usama”, cách dùng này cũng không sai. Giới truyền thông chủ yếu dùng Osama còn các cơ quan tình báo vẫn gọi tên trùm khủng bố là “UBL”.

Thư tiếp theo của Vince Paresi – người tôi đã nhắc đến ở đoạn trước, đây là một đại uý của NYPD được điều sang ATTF để theo dõi những cảnh sát khó tính đôi lúc không phối hợp tốt với các đồng nghiệp bên FBI. Trong số đó có lẽ có tôi. Đại uý Paresi thay thế vị trí của đại uý David Stein – người có cùng số phận như Jack Koenig – chết cách đây một năm một tháng ở Trung tâm Thương mại Thế giới.

David Stein là một người tuyệt vời, ngày nào tôi cũng thấy nhớ anh ta. Jack Koenig, bất chấp những khiếm khuyết của bản thân cũng như những bất hoà giữa chúng tôi, vẫn là một dân chuyên nghiệp, một vị sếp nghiêm khắc nhưng công minh và là một người yêu nước. Người ta không tìm thấy thi thể của ông. David Stein cũng vậy.

Một người khác cũng không tìm thấy xác như 2.000 người khác là nhân viên CIA, Ted Nash, một kẻ rất hay châm chích và thực sự tinh quái.

Tôi ước mình có thể nghĩ được điều gì tốt đẹp để nói về kẻ khốn nạn này song chỉ nghĩ được là “Tống khứ nó đi”.

Ngoài ra tên này còn có thói xấu là trở về từ cõi chết – trước đây hắn đã làm điều này ít nhất một lần – và khi hắn chưa được xác nhận nhân dạng một cách chắc chắn, tôi chưa thể bật sâmpanh ăn mừng.

Trở lại với thư của đại uý Paresi gửi cho toàn bộ nhân viên NYPDATTF:

“Các anh phải tăng cường theo dõi các công dân Iraq, móc nối lại những người Iraq phát huy hiệu quả trước đây và đưa về thẩm vấn những người Iraq có trong danh sách theo dõi. Phải chú ý đặc biệt những công dân Iraq có mối liên hệ với những người theo Đạo hồi khác như người Ảrập Saudi, Afghanistan, Lybia...sẽ tăng cường theo dõi, giám sát các nhà thờ Hồi giáo. Báo cáo vào tuần tới. Đại úy Paresi - NYPD".

Tôi nghĩ mình thấy có vấn đề gì đó ở đây.

Thật khó tin là cách đây chưa lâu điều chúng tôi cố gắng làm là tránh thể hiện thái độ không ưa với những tay khủng bố Hồi giáo hay không làm chúng khó chịu. Nay thì điều đó thay đổi quá nhanh.

Lá thư thứ ba của vợ tôi, Kate Mayfield, người tôi có thể nhìn thấy ở phía bên kia bức vách lớn ngăn giữa NYPD và FBI trên tầng 26. Vợ tôi đẹp, nhưng ngay cả khi không đẹp thì tôi sẽ vẫn yêu nàng. Thực ra nếu trước đây vợ tôi không đẹp, có lẽ tôi đã chẳng để ý, vậy nên nói thế để bàn cho vui thôi.

Thư của vợ tôi như sau:

“Bọn mình nghỉ sớm rồi về nhà nhé, ngủ với nhau, em sẽ làm cho anh món ớt xúc xích, pha đồ uống cho anh khi anh đang mặc quần lót xem tivi".

Thực ra thư không có nội dung thực sự như thế mà là:

“Bọn mình hãy đi đâu thưởng thức kỳ nghỉ cuối tuần lãng mạn nhé! Nếm rượu vang vùng bắc Fork nhé! Em sẽ đặt một chỗ nghỉ B&B. Yêu anh, Kate".

Việc quái gì tôi phải nếm rượu vang nhỉ? Thứ nào chẳng như nhau! Hơn nữa những chỗ ngủ B&B chán chết – những nhà ở xập xệ và dơ dáy với những phòng tắm kiểu thế kỷ XIX, những chiếc giường cọt kẹt. Rồi lại phải ăn sáng với những vị khách khác – thường là những bọn trẻ đáng ghê tởm chỉ muốn nói chuyện về những gì chúng đọc được ở phần Nghệ thuật và Giải trí trên tờ Thời báo. Bất kỳ khi nào nghe đến từ “Nghệ thuật”, tôi chỉ muốn rút súng ra.

Tôi gõ mấy chữ trả lời vợ:

“Nghe có vẻ tuyệt đấy! Cảm ơn em đã nghĩ ra điều ấy. Yêu em, John"

Giống như hầu hết đàn ông khác, tôi thà đối mặt với họng súng hơn một mụ vợ nổi khùng.

Kate Mayfield là luật sư, một đặc vụ FBI nằm trong nhóm của tôi – gồm một nhân viên khác của NYPD cùng một đặc vụ FBI nữa. Đôi lúc tôi bổ sung thêm một, hai người từ các cơ quan khác như ICE hay CIA. Người cùng nhóm là nhân viên CIA cuối cùng của chúng tôi là Ted Nash – kẻ mà tôi rất nghi từng có quan hệ khá lãng mạn với vợ tôi trước khi cưới. Đó không phải lý do tôi không thích hắn ta – đó là lý do tôi ghét hắn. Tôi chỉ không thích hắn vì những lý do chuyên môn.

Tôi thấy Harry Muller đang lau bàn, chùi sạch những dấu vết nhạy cảm để những người lau dọn – kể cả người theo và không theo đạo Hồi – không thể sao chụp hay fax đi nơi khác. Tôi bảo cậu ta:

— Cậu nghỉ sớm đến 21 phút đấy.

Cậu ta nhìn tôi rồi trả lời:

— Tớ phải lấy ít đồ công nghệ.

— Sao lại thế?

— Tớ bảo rồi mà. Tớ đang có một vụ theo dõi nằm ở vùng nông thôn của bang. Câu lạc bộ đồi Custer đấy.

— Tôi tưởng cậu là khách mời kia!

— Không, đột nhập thôi.

— Làm thế nào cậu mò được chỗ ấy?

— Chẳng biết nữa. Tớ có hỏi đâu nhỉ? Tớ có một chiếc xe dành cho dân du lịch, một đôi ủng, một mũ có trùm tai bằng len. Thế là đủ rồi.

— Ừ.

Harry Muller, như tôi đã nói, là một cảnh sát NYPD nghỉ hưu sau 20 năm làm việc, có 10 năm cuối làm cho Phòng Tình báo và hiện là đặc vụ hợp đồng của liên bang thực hiện công tác theo dõi, giám sát để FBI có thể tập trung vào những công việc chính.

Tôi hỏi:

— Này, bọn cánh hữu đó có gì à? Tưởng là cậu làm cùng với chúng tôi chứ? (“Chúng tôi” ở đây là Phòng Trung Đông – nơi chiếm đến 90% quân số của ATTF trong những ngày này).

Harry trả lời:

— Chẳng biết nữa. Tớ có hỏi đâu nhỉ? Tớ chỉ phải chụp ảnh, có đi nhà thờ với chúng đâu.

— Cậu đã đọc email của Walsh và Paresi chưa?

— Rồi.

— Cậu nghĩ bọn mình có phải ra trận không?

— Hừm, để tớ nghĩ xem đã.

— Liệu nhóm cánh hữu này có liên quan gì tới Iraq hay UBL không?

— Tớ chẳng biết, – Harry nhìn đồng hồ rồi báo: Tớ phải đến Phòng Công nghệ trước khi họ đóng cửa.

— Còn thời gian mà. Cậu đi một mình à?

— Ừ, chẳng sao đâu. Đây chỉ là theo dõi và giám sát không mang tính đe doạ. – Anh ta nhìn tôi rồi nói: Walsh bảo công việc của bọn mình giống như chặt cây – việc xây dựng hồ sơ ấy- Cậu biết, giống như việc bọn mình không chỉ theo dõi dân Ảrập. Phải theo dõi cả các nhóm trong nước như phát xít mới, các nhóm du kích… Có vẻ tốt cho giới truyền thông và Quốc hội, nếu có vấn đề, phải không? Bọn mình đã làm kiểu ấy vài lần trước khi xảy ra sự kiện 11-9 mà.

— Đúng.

— Tớ phải đi đây. Tớ đoán sẽ gặp cậu vào thứ hai. Việc đầu tiên tôi làm vào thứ hai là gặp Walsh.

— Ông ấy cũng đi làm vào thứ hai?

— Ông này không mời tớ đến nhà uống bia, thế nên tớ đoán ông ta sẽ đến đây.

— Ừ, hẹn gặp vào thứ hai.

Điều Harry nói về xây dựng hồ sơ không hoàn toàn bình thường, hơn nữa chúng tôi còn có cả Phòng Khủng bố trong nước để làm việc ấy. Việc theo dõi những kẻ giàu có trong một câu lạc bộ vùng nông thôn cũng có điều gì đó hơi lạ. Lạ hơn là vào ngày nghỉ mà Tom Walsh vẫn đến sở để nghe báo cáo của Harry về một công việc thường lệ.

Tôi là người không ồn ào – lý do tôi là một thám tử tuyệt vời, vì vậy tôi đến một máy tính độc lập đặt riêng để vào mạng Internet; tôi vào Google và tìm “Câu lạc bộ đồi Custer”.

Chẳng có kết quả nào, tôi phải gõ “Đồi Custer”. Có đến hơn 400.000 kết quả, những thông tin các loại ở ngay trang nhất – Các sân gôn, nhà hàng, nhiều tư liệu lịch sử ở vùng South Dakota liên quan đến các vấn đề của tướng George Armstrong Custer tại Little Bighorn – cho thấy chẳng có gì giá trị. Tuy vậy tôi vẫn dành 10 phút lướt qua những kết quả tìm kiếm, nhưng cũng không có gì liên quan đến New York.

Tôi trở lại bàn, sử dụng mật khẩu của ATTF và truy nhập các hồ sơ nội bộ trong hệ thống ACS – một phiên bản của Google dùng trong FBI.

Cái tên Câu lạc bộ đồi Custer xuất hiện nhưng rõ ràng tôi không được quyền xem file này, bên dưới cái tên là những dòng mật chạy liên tiếp. Thường thì ngay cả với những file cấm người ta vẫn có thể kiếm một số thông tin như ngày file được mở, người sẽ biết về việc xem file hay chí ít là độ mật của file. Song file này hoàn toàn không có chút thông tin nào.

Vì vậy tất cả những gì tôi đã cố gắng làm lại là cảnh báo các nhân viên an ninh rằng tôi đã tìm hiểu về một file chẳng liên quan gì đến công việc mình đang thực hiện – lúc này là những người Iraq. Thế nhưng để làm họ khó xác định, tôi gõ vào ô tìm kiếm “Câu lạc bộ vũ khí huỷ diệt Lạc đà Iraq”.

Chẳng có kết quả nào!

Tôi tắt máy, dọn bàn, cầm lấy áo khoác và sang bàn làm việc của Kate.

Kate Mayfield và tôi gặp nhau qua công việc, khi cả hai cùng đảm nhiệm nhiệm vụ Asad Khalil – một tên nhỏ bé tởm lợm tìm đến Mỹ đế giết hại nhiều người. Hắn đã làm được điều đó, tìm cách giết tôi cùng Kate, sau đó trốn thoát. Đó chẳng phải vụ tốt đẹp gì của tôi nhưng nó đã cho tôi và Kate gặp nhau, lần tới gặp mặt tôi sẽ cảm ơn hắn về điều đó trước khi gí súng vào bụng và nhìn hắn chết một cách từ từ.

Tôi hỏi Kate:

— Anh mua cho em chút gì uống nhé?

Nàng nhìn lên và mỉm cười: Tuyệt đấy, – rồi tiếp tục quay trở lại với máy tính của mình.

Mayfield là một cô gái vùng Trung Tây, được điều từ Washington về New York, ban đầu khá chán với công việc nhưng bây giờ lại cảm thấy cực kỳ hạnh phúc khi sống ở thành phố lớn nhất thế giới với người đàn ông vĩ đại nhất thế gian là tôi. Tôi hỏi nàng:

— Sao chúng ta lại đi nghỉ cuối tuần xa thế?

— Bởi nơi này làm em phát điên mất.

Những thành phố lớn đúng thế thật. Tôi hỏi:

— Em đang làm gì thế?

— Em đang cố tìm một chỗ ngỉ B&B ở North Fork.

— Vào kỳ nghĩ cuối tuần thế này thì chỗ đó chắc kín hết chỗ rồi. Mà đừng quên là anh phải đi làm vào thứ hai.

— Em quên sao được? Anh chẳng ca cẩm về chuyện đó suốt cả tuần rồi.

— Có bao giờ anh ca cẩm đâu.

Có lẽ vì lý do gì đó nàng nghĩ điều ấy thật buồn cười.

Tôi quan sát gương mặt của Kate nhờ ánh sáng hắt ra từ màn hình máy tính. Nàng vẫn đẹp như hồi tôi gặp gần 3 năm trước. Thông thường những phụ nữ gắn bó với tôi đều già nhanh. Robin, cô vợ thứ nhất của tôi, nói rằng cuộc hôn nhân một năm dài chẳng khác gì 10 năm. Tôi nói với Kate:

— Anh sẽ gặp em ở nhà hàng Ecco.

— Đừng ra vẻ tình cờ đấy!

Tôi đi qua khu trồng mấy cây cành mà lúc này hầu như trống không, rồi bước tới hành lang dẫn ra thang máy – nơi các đồng nghiệp đang đổ ra đầy.

Nói chuyện qua quýt với vài người, khi nhìn thấy Harry tôi tiến lại phía anh ta. Anh đang bê một chiếc cặp kim loại lớn, tôi đoán trong đó có camera và nhiều ống kính. Tôi bảo:

— Tớ mua cho cậu chút gì uống nhé.

— Tớ phải lên đường càng sớm càng tốt.

— Tối nay cậu đi luôn à?

— Ừ. Tớ cần có mặt ở đó vào sáng sớm. Tại đó sắp có một cuộc họp, tớ phải chụp ảnh biển số xe và người khi họ tới.

— Nghe như kiểu giám sát đám đông mà bọn mình thường làm ở các đám cưới với đám tang ấy nhỉ.

— Ừ. Cũng chó chết như thế cả.

Chúng tôi vào thang máy và xuống sảnh. Harry hỏi:

— Kate đâu?

— Đang trên đường về.

Harry đã ly dị nhưng đang hẹn hò với một cô, thế nên tôi hỏi:

— Lori thế nào?

— Tuyệt.

— Ảnh cô ấy trên trang Matchcom đẹp đấy.

— Cậu là đồ mất dạy - Harry cười.

— Cậu thì thế nào? À, chỗ kia ở đâu thế?

— Chỗ nào? À…, gần hồ Saranac.

Chúng tôi bước ra đại lộ Broadway. Hôm đó là một ngày thu mát mẻ, các đường phố và vỉa hè có không khí đúng nghĩa của một ngày thứ sáu.

Harry và tôi tạm biệt nhau, tôi bước về hướng nam đại lộ Broadway.

Khu hạ Manhattan là một chuỗi dày đặc các toà nhà chọc trời và các con phố hẹp, hạn chế tối đa ánh nắng và tăng tối đa sự căng thẳng.

Khu này còn có cả Lower East Side, nơi tôi sinh ra và Iớn lên, gồm cả phố Tàu, Little Italy, Tribeca và Soho. Các ngành nghề ở đây hoàn toàn đối ngược nhau: kinh doanh và tài chính – dại diện bởi phố Wall, chính quyền – dại diện bởi các toà án cấp liên bang, bang và quận; toà thị chính thành phố, các nhà tù, toà nhà liên bang, trụ sở cảnh sát và nhiều nữa. Một mối liên kết cần thiết cho tất cả các thứ trên là các công ty luật – một trong số đó là nơi làm việc của vợ cũ của tôi, một luật sư bào chữa chỉ đại diện cho những tay tội phạm khét tiếng nhất. Đó là một trong những lý do tôi ly dị. Lý do khác là cô ta nghĩ rằng nấu nướng và ngủ với chồng là hai điều lạ lùng ở Trung Quốc.

Phía trên đầu là một khoảng trời trống trải nơi toà Tháp đôi từng đứng. Với hầu hết người Mỹ, thậm chí hầu hết người New York, việc không có hai toà tháp chỉ như khoảng trống trên nền trời. Nhưng nếu bạn sống ở khu vực này, khi đi qua phố và không thấy chúng, bạn sẽ vẫn thấy ngạc nhiên.

Lúc rảo bước, tôi nghĩ đến cuộc nói chuyện với Harry Muller.

Một mặt tôi nghĩ hoàn toàn chẳng có gì bất thường hoặc đáng chú ý về công việc của anh ta dịp cuối tuần này. Mặt khác tôi lại không nghĩ như vậy. Khi đang sắp sửa tiến hành một cuộc chiến với Iraq, đang chiến đấu ở Afghanistan, đang lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác của những phần tử Hồi giáo, vì lý do gì mà Harry lại được cử đến vùng nông thôn của bang để dò xét vụ tụ tập của tụi điên cánh hữu mà hiện nay mức đe doạ đối với an ninh quốc gia nằm giữa mức thấp và mức 0?

Lại còn những lời vô nghĩa của Tom Walsh nói với Harry về việc xây dựng hồ sơ trong trường hợp ai đó trong Quốc hội hay giới truyền thông muốn biết liệu ATTF có nắm được đám khủng bố trong nước. Vài năm trước điều này bình thường song kể từ sau vụ 11-9, các nhóm phát xít mới, du kích (hay đại loại như vậy) đã tỏ ra im hơi lặng tiếng và hồi hộp khi thấy chúng ta bị tấn công, thấy rằng đất nước đang thay đổi, tiêu diệt những kẻ tệ hại và bắt bớ không ít người. Lại còn việc báo cáo công việc vào thứ hai dù đó là ngày nghỉ nữa!

Dù sao tôi cũng không nên quá để tâm đến việc này, dù có một chút kỳ quặc, về căn bản chuyện đó chẳng liên quan gì đến tôi, và lần nào tôi đặt quá nhiều câu hỏi về những thứ có vẻ kỳ quặc ở toà nhà liên bang số 26 tôi cũng đều gặp rắc rối. Hay như mẹ tôi hay nói, “John này! Rắc rối là tên đệm của con đấy”. Tôi đã tin lời bà cho đến tận khi nhìn giấy khai sinh của mình, trong đó ghi tên đệm là Aloysius.

Thật lãng mạn phải không John? Phía trên lò sưới là một bộ sưu tầm gạc hươu lớn khiến tôi chợt thấy mình có cảm giác ham muốn. Tôi nói: — Anh cảm thấy thật ham muốn. — Chúng ta không thể chỉ thưởng thức căn phòng không thôi được sao? — Như
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

3 Trong Tổng Số 4 tác phẩm của Nelson Demille

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.