Thám tử Harry Muller đậu xe ở rìa một con đường cũ dành cho dân đốn gỗ, nhặt mấy thứ đồ ở ghế trước, bước ra ngoài, kiểm tra lại la bàn rồi bước về hướng tây bắc xuyên qua khu rừng, người mặc một bộ đồ ngụy trang mùa thu, đầu đội chiếc mũ lưỡi trai len màu đen.
Địa hình khu vực này dễ xác định phương hướng, những cây thông cách đều, mặt đất phủ rêu và hàng dương xỉ đẫm sương. Khi Harry bắt đầu vào rừng, ánh sáng bắt đầu rọi xuyên qua những hàng thông, làm nổi lên lớp sương mù dày dưới đất. Chim hót và những con vật nhỏ chạy nhốn nháo dưới lớp cây bụi.
Trời lạnh khiến Harry có thể thấy rõ hơi thở của mình, thế nhưng cảnh rừng tuyệt đẹp khiến anh thấy hạnh phúc hơn là gian khổ.
Đeo trên vai anh là chiếc ống nhòm, một máy quay phim cầm tay, một chiếc máy ảnh đắt tiền hiệu Nikon với độ phân giải lên tới 12 triệu ảnh điểm và ống kính cỡ 300 mm. Harry còn mang theo cuốn Hướng dẫn về các loài chim phòng trường hợp có người hỏi anh vào rừng làm gì, và một khẩu Glock cõ nòng 9 ly – phòng trường hợp người đó không hài lòng với câu trả lời của anh.
Trước khi đi Harry đã nắm được một số thông tin từ một gã có cái tên Ed của Phòng Công nghệ, theo đó khu Câu lạc bộ đồi Custer có mỗi cạnh dài 4 dặm, thuộc sở hữu cá nhân. Diện tích lớn như vậy nhưng thật khó tin là khu này được quây kín bằng các hàng rào cao có dây xích nối với nhau, đó là lý do gã đàn ông đưa cho Harry dụng cụ cắt dây mà anh đang bỏ trong túi bên.
Sau 10 phút Harry đã đến hàng rào. Nó cao khoảng 12 foot, trên cùng là dây thép gai. Cứ khoảng 10 foot lại có một tấm biển kim loại chạy hàng chữ:
“Khu đất riêng - Người nào đột nhập sẽ bị truy tố".
Một tấm biển khác:
“Nguy hiểm - Không được vào - Khu vực có bảo vệ vũ trang và chó tuần tra canh phòng".
Với kinh nghiệm lâu năm, Harry biết rằng những tấm biển cảnh báo kiểu này mang tính hù dọa hơn là thực tế. Song trong trường hợp này anh nhìn nhận chúng một cách nghiêm túc. Hơn nữa anh cũng lo rằng Walsh hoặc không biết về lũ chó và những tay bảo vệ vũ trang, hoặc biết nhưng không bảo anh. Dù thế nào đi nữa, sáng thứ hai này anh cũng phải có chút gì đó để báo cáo cho Tom Walsh.
Harry móc điện thoại di động và chuyển chế độ từ đổ chuông sang chế độ rung. Anh nhận thấy sóng điện thoại rất tốt – một điều lạ lùng ở vùng núi. Một cách bốc đồng, anh bấm số điện thoại di động của bạn gái Lori. Sau 5 hồi chuông, cuộc gọi của anh chuyển sang chế độ tin nhắn thoại.
Harry nói khẽ vào điện thoại: “Chào bé yêu. Đây là người yêu của em, một và chỉ một thôi. Anh đang ở vùng núi nên chắc sẽ không có sóng khá lâu. Nhưng anh muốn chào em, đêm qua anh tới đây, ngủ trong xe, còn bây giờ thì đang thực hiện nhiệm vụ, gần khu săn bắn của bọn điên cánh hữu. Vậy nên đừng gọi lại nhé, nhưng anh sẽ gọi lại cho em bằng máy bàn nếu không dùng được máy di động. Ok? Tối nay hoặc sáng mai anh có chút việc cần làm ở sân bay khu này nên có thể phải ở lại qua đêm. Khi nào rỗi anh sẽ báo em. Nói chuyện sau nhé. Yêu em”.
Harry gác máy, móc dụng cụ cắt dây và tạo một lỗ trong hàng rào rồi chui vào khu đất. Anh đứng im, quan sát, lắng nghe rồi cất dụng cụ cắt vào túi và tiếp tục cất bước xuyên qua khu rừng.
Sau khoảng 5 phút anh nhận ra một trạm điện thoại giữa những cây thông và tiến đến đó. Bên trên trạm là một buồng điện thoại đã khoá.
Anh nhìn lên và thấy rằng trạm điện thoại cao khoảng 30 foot, phía trên 20 foot là 4 chiếc đèn rọi lớn, trên nữa là 5 đường dây chạy ngang. Rõ ràng một dây cấp điện cho buồng điện thoại, một dây cấp cho những chiếc đèn. Ba đường dây còn lại thực sự là những sợi cáp to có thể đỡ được nhiều vật nặng.
Nhận thấy điều gì lạ, Harry xoay ống nhòm tập trung vào phía trên đỉnh trạm điện thoại. Những thứ anh tưởng là các cành màu xanh đâm ra từ các cây xung quanh thực ra là các cành cây nhô ra từ trạm điện thoại. Nhưng như anh biết, chúng là dạng cành nhựa mà các công ty điện thoại di động sử dụng để ngụy trang hoặc làm đẹp các cột phát sóng di động ở những khu đông dân cư. Tại sao, anh tự hỏi, chúng lại nằm giữa khu rừng này?
Hạ ống nhòm, nâng chiếc Nikon, anh chụp trạm điện thoại vài kiểu, trong đầu nhớ lại những lời của Tom Walsh “ngoài xe hơi, các gương mặt, biển số, hãy chụp bất kỳ thứ gì anh thấy quan tâm”.
Harry nghĩ điều này đáng quan tâm và tốt cho việc lập hồ sơ nên cầm máy quay phim và ghi lại khoảng 10 giây, sau đó đi tiếp.
Đất dốc dần lên, những cây thông đã nhường chỗ cho sồi, du, thích mà tán lá vẫn còn giữ sắc đỏ, vàng sáng. Một thảm lá rụng phủ lên mặt đất, kêu sột soạt khi Harry bước qua.
Anh dùng bản đồ và la bàn kiểm tra nhanh và thấy rằng khu nhà nằm phía trước mặt khoảng nửa dặm.
Anh bẻ một miếng bánh, vừa đi vừa ăn, vừa hít hà bầu không khí trong lành của vùng núi Adirondack nhưng vẫn cảnh giác. Dù Là một đặc vụ liên bang, đột nhập vẫn là đột nhập và khi không có lệnh khám xét thì trên khu đất riêng đã được ghi dấu rõ ràng, anh vẫn chẳng có quyền gì hơn những kẻ trộm.
Khi đề nghị Walsh để xin lệnh, Walsh đã bảo anh, “Chúng ta chẳng có nguyên cớ gì để do thám. Vậy thì xin thẩm phán làm gì?”. Hay như những cảnh sát NYPD thường nói về việc lách luật: “Sau này xin tha thứ vẫn hơn xin cho phép vào lúc này”.
Harry, cũng giống như mọi nhân viên trong ATTF, biết rằng các nguyên tắc đã thay đổi hai phút sau khi toà tháp thứ hai bị máy bay đâm vào, còn những nguyên tắc chưa thay đổi có thể bị phá vỡ. Đôi lúc điều đó khiến cho công việc của anh thuận lợi hơn nhưng đôi lúc, như lúc này, lại làm nó mạo hiểm hơn.
Rừng đã thưa hơn, Harry nhận thấy rất nhiều gốc trơ lại sau khi cây đã bị đốn, có thể để sưởi ấm, cũng có thể vì lý do an ninh. Dù lý do nào thì độ che phủ và khả năng che giấu cũng thấp hơn nhiều so với trước đây 100 năm.
Nhìn về phía trước Harry thấy một bãi trống, anh từ từ tiến về hướng đó qua các hàng cây cách đều nhau. Anh dừng lại dưới gốc thích cuối cùng và dùng ống nhòm quan sát bãi này.
Một con đường lát đá xuyên qua bãi, chạy xuống đồi tới cổng ra vào, qua ống nhòm anh có thể thấy rõ bốt gác. Dọc theo con đường là những đèn bảo vệ đặt trên trụ kim loại, anh cũng thấy những trạm điện thoại gỗ với 5 đường dây chạy từ rừng cắt qua bãi và con đường rồi lại biến mất vào đám rừng bên kia đường. Cái đó, anh nghĩ, tiếp nối những gì anh đã thấy ở phía ngoài hàng rào; và dường như các trụ và đường dây chạy quanh khu này, nghĩa là cả khu vực rộng 16 dặm vuông đều được rọi đèn pha. Anh tự nhủ đây không phải khu săn bắn.
Anh nhìn theo con đường chạy lên đồi, tới một toà nhà hai tầng rộng lớn vùng núi kiểu Adirondack dựa vào sườn đồi dốc phía trước mặt anh, cách khoảng 200 yard. Trên thảm cỏ phía trước toà nhà là một cột cờ, phía trên có một lá cờ Mỹ, bên dưới là một số cờ đuôi nheo màu vàng. Phía xa sau toà nhà là một số kết cấu đa dụng, trên đỉnh đồi là thứ gì đó giống trạm viba hoặc tháp tiếp sóng điện thoại di động, anh dùng máy ảnh và ống kính tele chụp một kiểu.
Toà nhà được xây bằng đá sồng, các súc gỗ, ván lớp, phía trước là một mái cổng lớn có cột đỡ. Trên mái lợp màu xanh có sáu ống khói đá, tất cả đều toả khói xám lên trời. Harry có thể nhận ra ánh sáng ở những cửa sổ mặt tiền và một chiếc xe Jeep trong khu vực đậu xe rất lớn rải sỏi ở trước nhà. Rõ ràng trong nhà có người, hy vọng họ đang chuẩn bị đón khách. Đó là lý do anh ở đây mà!
Anh dùng máy ảnh và ống tele chụp vài kiểu về toà nhà và khu đỗ xe, sau đó bật máy quay, ghi một số đoạn về toà nhà và khu vực quanh nơi mình đứng.
Anh biết mình sẽ phải lại gần hơn nếu muốn chụp ảnh những xe hơi chạy tới, người, biển số xe. Ed đã cho anh xem một bức ảnh chụp toà nhà từ trên không, lưu ý rằng địa hình trống trải nhưng có nhiều vỉa đá lớn để ẩn núp.
Harry nhìn những vỉa đá dẫn lên đồi và dự kiến những đoạn anh sẽ chạy thật nhanh từ vỉa này sang vỉa khác cho tới khi cách toà nhà khoảng 100 foot. Anh biết từ đó mình có thể quay phim những xe hơi đậu ở bãi, những người đi vào nhà. Anh cần ở đó đến cuối buổi chiều, như lời Walsh dặn, sau đó đến sân bay ở khu vực Adirondack để xem danh sách hành khách đến cũng như danh sách những người thuê xe hơi.
Anh nhớ lại thời gian điều tra vụ một số thành viên Quân đội cộng hoà Ireland (IRA) lập trại huấn luyện cách đây không xa. Khu bảo tồn rừng Adirondack lớn ngang với cả bang New Hampshire, gồm nhiều khu đất công và tư, dân số lại rất ít nên tốt cho cả việc săn bắn, hành quân hay thử các loại vũ khí bất hợp pháp.
Lần do thám này hơi khác lần thực hiện với các thành viên IRA ở chỗ chưa có hành vi phạm pháp nào rõ ràng, những người ở trong toà nhà to lớn kia lại có ảnh hưởng ở những nơi nhất định.
Harry đang chuẩn bị chạy những bước đầu tiên tới vỉa đá thì đột nhiên phía sau toà nhà ba chiếc xe Jeep đen xuất hiện và bắt đầu chạy rất nhanh qua bãi trống. Thực ra chúng đang chạy thẳng về hướng anh. “Cứt thật!”
Anh quay lại và chạy ngược lại hàng cây, sau đó nghe thấy tiếng chó sủa. “Chó má!”.
Ba chiếc xe phóng thẳng vào hàng cây, từ mỗi xe nhảy xuống hai người đàn ông, tất cả đều mang súng săn.
Từ đám cây xung quanh anh xuất hiện ba gã đàn ông dắt con chó chăn cừu giống Đức, tất cả đều thè lưỡi và gầm gừ. Anh nhận thấy bên hông đám đàn ông đều giắt thêm vũ khí. Rồi tên thứ tư xuất hiện, hắn bước từ từ như thể là tên chỉ huy.
Harry nhận thấy rằng vị trí của anh đã được xác định một cách chính xác như thể khu vực này đặt các thiết bị cảm ứng phát hiện âm thanh và chuyển động. Đám người này thật chú ý bảo vệ bí mật riêng.
Anh cảm thấy lo lắng lạ lùng, dù không phải sợ hãi. Chuyện này rắc rối đây, nhưng không nguy hiểm!
Đám bảo vệ hình thành một vòng tròn quanh Harry nhưng vẫn giữ cự ly khoảng 20 foot. Tất cả đều mặc đồng phục dã chiến kiểu quân đội, trên vai phải có mảng nhỏ in cờ Mỹ. Mỗi tên đội một chiếc mũ lưỡi trai cao có hình đại bàng Mỹ, trên tai trái mỗi tên có hình một con sâu ăn lá vươn ra.
Chỉ huy là một gã trung tuổi trông khá dữ dằn, hắn bước lại gần và Harry thấy hắn đeo một biển tên kiểu quân đội ghi “Carl".
Carl hỏi anh:
— Thưa ông, ông đang ở trên đất riêng đấy.
Harry làm bộ ngây ngô:
— Anh chắc thế chứ?
— Vâng, thưa ông.
— Ôi! Này, nếu anh chỉ đường cho tôi...
— Làm thế nào mà ông vượt qua được hàng rào, thưa ông?
— Hàng rào? Hàng rào nào?
— Hàng rào bao quanh khu đất này, thưa ông, và nó có mấy tấm biển ghi “cấm đột nhập”.
— Tôi chẳng thấy cái nào – Ô, cái hàng rào đó. Xin lỗi Carl, tôi đang mải theo một con gõ kiến bay qua đầu, thế nên tôi thấy một lỗ hổng ở hàng rào và...
— Tại sao anh ở đây?
Harry nhận thấy giọng của Carl đã bớt lịch sự và hắn đã quên mất từ “ông”. Anh trả lời: Tôi là người quan sát nhận dạng chim, – rồi chìa quyển sách: Tôi theo dõi chim, – đoạn vỗ vào chiếc ống nhòm.
— Tại sao anh mang máy ảnh và máy quay?
— Tôi chụp ảnh chim (thằng chó, Harry thầm rủa). Thế nên nếu anh chỉ cho tôi lối ra khỏi khu này – hoặc tốt nhất cho tôi nhờ xe ra ngoài – tôi sẽ đi ngay.
Carl không trả lời, Harry cảm thấy những dấu hiệu đầu tiên của sự bất ổn.
Carl nói:
— Khu quanh đây là đất công. Tại sao anh lại cắt một lỗ trên hàng rào?
— Tao chẳng cắt cái lỗ chó nào hết. Tao tìm thấy một cái lỗ khốn kiếp. Mà này, Carl, mày là thằng khốn.
Chính bản thân Harry và tất cả những kẻ đứng quanh đều nhận thấy rằng anh không còn ăn nói như một người quan sát nhận dạng chim.
Anh đang định chìa thẻ đặc vụ cho mấy tên khó chịu này biết và yêu cầu chúng đánh xe đưa mình về nơi đậu chiếc xe riêng. Thế nhưng nghĩ lại thì anh thấy không nên. Tại sao lại cho chúng biết mình là một đặc vụ liên bang đến đây do thám? Walsh sẽ cho no đòn mất. Harry nói: Tôi sẽ ra khỏi đây – và bước một bước về phía rừng.
Đột ngột toàn bộ súng nâng lên và súng ngắn rút khỏi bao. Cả ba con chó gầm gừ và kéo căng dây buộc.
— Dừng lại, nếu không tôi sẽ thả chó.
Harry hít một hơi sâu và dừng lại.
Carl nói:
— Có hai cách ra khỏi đây, dễ dàng hoặc khó khăn.
— Hãy làm theo cách khó khăn.
Carl liếc nhìn 9 tên bảo vệ còn lại, nhìn 3 con chó rồi nhìn Harry. Hắn nói bằng giọng giảng hòa:
— Thưa ông, chúng tôi phải tuân theo những quy định nghiêm ngặt là phải đưa bất kỳ kẻ vi phạm nào vào nhà, gọi cảnh sát trưởng và yêu cầu một người của cơ quan thực thi pháp luật đưa kẻ vi phạm ra khỏi khu đất. Chúng tôi sẽ không kiện nhưng cảnh sát trưởng sẽ nói với ông rằng nếu tái phạm, ông sẽ bị bắt. Theo luật hoặc theo thoả thuận bảo hiểm của chúng tôi, ông không được tự ra khỏi khu này, chúng tôi cũng sẽ không lái xe đưa ông ra. Chỉ cảnh sát trưởng mới được làm điều ấy. Đó là vì sự an toàn của chính ông.
Harry nghĩ về điều đó. Dù nhiệm vụ không hoàn thành, anh có thể gỡ gạc một phần bằng cách quan sát phía trong toà nhà, thậm chí thu thập một chút thông tin trước khi gọi cảnh sát trưởng. “Ok, chúng ta đi”, anh nói.
Carl ra hiệu cho Harry quay lưng và bước về hướng mấy chiếc jeep. Anh nghĩ chúng sẽ đưa mình lên một trong số những chiếc xe đó, nhưng không phải, chắc thoả thuận bảo hiểm của bọn này rất chặt.
Anh phải đi về phía con đường hướng lên trên đồi về phía tòa nhà, theo sau là toàn bộ đám bảo vệ và lũ chó.
Khi bước đi, anh để ý đến cả 10 tên bảo vệ vũ trang và lũ chó, bốt gác, hàng rào nối bằng dây xích, những hàng dây thép gai, đèn chiếu bảo vệ các bốt điện thoại và những thứ có vẻ như thiết bị cảm ứng phát hiện âm thanh và cử động. Đây chẳng phải câu lạc bộ săn bắn và câu cá thông thường. Harry bỗng thấy tức với Walsh và thấy bực với bản thân mình hơn bởi đã không ngửi thấy mùi rắc rối.
Anh biết mình không nên sợ hãi song bản năng được rèn giũa trong 20 năm làm nghề cảnh sát và 5 năm chống khủng bố cho anh biết nơi đây đang tồn tại nguy hiểm.
Để chắc chắn về điều ấy, anh nói với Carl – gã đang đi theo sau mình:
— Này, sao bây giờ anh không lấy máy di động gọi cho cảnh sát trưởng? Phải tiết kiệm chút thời gian chứ.
Carl không trả lời.
Harry thò tay vào túi. - Anh có thể sử dụng điện thoại của tôi.
Carl quát:
— Đặt tay vào nơi tao có thể nhìn thấy và câm cái mõm chó của mày lại.
Một cảm giác ớn lạnh chạy dọc sống lưng Harry Muller.