Tôi tới con đường chạy dài đến nhà nghỉ Wilma B&B lúc 4 giờ 54 chiều.
Có thể nhìn rõ một người đàn bà thò đầu ra khỏi ngôi nhà chính. Không nghi ngờ gì nữa, đó chính là Wilma, hẳn cô nàng đang chờ đợi gã người tình chuyển phát nhanh, và cô ta chắc cũng đang băn khoăn không hiểu cái gã đang ngồi trong xe tải kia là ai.
Tôi dừng xe tại nhà Thủy tọa, lôi đám túi xách đựng đồ mua được từ cửa hàng đồ thể thao Scheinthal, bước ra khỏi xe, gõ cửa và kêu lớn:
— Người rừng của em đã về đây.
Kate mở cửa, tôi bước vào trong khi nàng hỏi:
— Anh lấy đâu ra chiếc xe tải này vậy?
Rudy, – tôi giải thích. – Thay đổi xe trong khi lẩn trốn là điều nên làm.
Nàng không bình luận gì về điều này:
— Mọi chuyện thế nào rồi? Anh có gì trong những cái túi kia vậy?
— Mọi việc đều tốt đẹp dù Madox vẫn chưa có vẻ gì là xử sự tốt cho lắm. Để anh cho em xem anh đã mua được những gì. Tôi dốc hai túi lên mặt bàn ăn.
— Một đôi tất mới, thêm một cơ số đạn và vài băng đạn dự trữ...
— Để làm gì?
— Một chiếc còi hơi và hai bộ BearBanger...
— Hai bộ?
— Để đuổi lũ gấu đi và báo cho mọi người rằng chúng ta đang gặp rắc rối. Cũng được đấy chứ hả?
— John...
— Này, em phải đến xem cửa hàng bán đồ thể thao đó mới được. Anh không biết lại có nhiều thứ được cất giấu ở đấy đến như vậy. Đây là hộp bổ sung năng lượng cho em.
— Anh đã mua thứ gì ăn chưa?
— Anh có mua mấy chiếc bánh ngũ cốc yến mạch trộn. Hay đó là bánh vòng nhỉ?
Tôi ngồi xuống ghế, đưa tay cởi giày và đôi bít tất. Có thế thấy rõ những sợi thảm lót nền nơi gót chân, ít nhất một sợi tóc dài và đen, tôi hy vọng nó thuộc về Bain Madox, Kaiser Wilhelm, hay Harry Muller. Tôi nói:
— Cái này lấy được từ văn phòng của Madox. Anh có linh cảm – mà không, đó là hy vọng thực sự – rằng Harry đã từng ngồi trên chiếc ghế chiều nay anh ngồi ở phòng Madox.
Nàng gật đầu.
Tôi đưa đôi tất vào túi plastic, xé một mảnh giấy từ sổ ghi chép và viết thời gian, ngày tháng, địa điểm thu giữ, ký tên bên dưới rồi bỏ vào trong túi.
Sau đó, tôi lấy con lăn từ trong túi áo ra, xé bỏ lớp giấy bảo vệ, cắt lớp giấy dính đầu tiên phủ đầy sợi vải và giải thích với Kate:
— Cái này lấy từ tấm thảm phòng chờ.
Tôi cẩn thận dính lớp giấy này vào phía bên trong túi plastic và nói:
— Có lần anh xoáy được một miếng sandwich giăm bông của nghi can từ bếp nhà hắn. – Tôi nói trong khi bắt đầu viết thời gian, địa điểm cho lớp giấy dính sợi vải: Anh kiếm đủ DNA để có thể tuyên bố hắn có liên quan đến vụ án mạng… nhưng luật sư của hắn cho rằng chứng cứ đã được thu thập một cách không hợp lệ, đánh cắp, và vì thế là không thể được thừa nhận, và anh đã phải thề rằng nghi can mời anh ăn một nửa chiếc sandwich của hắn… – Tôi cuộn chiếc túi lại hỏi Kate: Em có băng dính không?
— Không. Nhưng em sẽ tìm. Vậy mọi việc diễn ra như thế nào?
— Cái gì diễn ra? À, cái chứng cứ ấy hả. Gã luật sư tra hỏi anh rằng tại sao nghi can lại mời anh ăn nửa chiếc bánh còn lại, và anh đã phải đứng trước tòa 20 phút để giải thích sự việc đã xảy ra như thế nào, và tại sao thay vì ăn anh lại nhét nửa chiếc bánh vào túi. Tôi mỉm cười khi nhớ lại vụ này: Quan tòa ấn tượng với cái tác phẩm nhảm nhí của anh, và quyết định là chứng cớ hợp lệ. Gã luật sư nổi điên và buộc tội anh là nói dối.
— Ồ… nhưng đó thực ra là sự dối trá. Phải vậy không?
— Đó là sự mập mờ không thể giải thích nổi.
Kate không bình luận gì về câu nói của tôi, nhưng nàng nói:
— Họ có kết án hắn không?
— Công lý đã được thực thi.
Tôi lôi chiếc khăn lau từ trong chiếc túi thứ hai ra nói với Kate:
— Cái này lấy ở phòng vệ sinh dưới tầng 1, anh đã dùng nó lau một vài nơi trong phòng. – Tôi nói trong khi viết mô tả cho chứng cứ này: Cái này cùng giống như chiếc sandwich ăn dở. Em sẽ nghĩ sao?
— Anh được cho chiếc khăn và giữ nó hay đã lấy trộm mà không có lệnh khám nhà?
— Cái này không phải dành cho em. Nó dành cho anh đấy.
— Đúng… – tôi viết vào mảnh giấy: Được Carl, một nhân viên của nghi can, tặng khi thấy nó… sao nhỉ? Khi thấy nó bị giắt vào khoá quần chăng?
— Anh có thể sẽ phải nghĩ đến điều đó đấy.
— Đúng. Anh sẽ nghĩ sau vậy. Cuối cùng, với một chút may mắn, một vài sợi lông tóc và sợi vải lấy được từ Câu lạc bộ đồi Custcr sẽ khớp với những thứ như vậy tìm được trên người Harry, và tương tự, có thể một vài sợi lông tóc và sợi vải trên quần áo của Harry rứt lại đó, và chúng sẽ được trộn lẫn với nhau trong những thứ anh mang về đây.
Kate không tỏ ý gì ngoại trừ một câu:
— Tốt lắm, John.
— Cảm ơn em. Anh đã từng là một thám tử cừ kia mà.
— Anh vẫn cừ vậy.
Chán thật.
Nàng nói:
— Em nghĩ chúng ta đã có đủ chứng cớ pháp lý và những chứng cớ khác nữa để có thể gọi cho Tom Walsh, sau đó trở về New York càng sớm càng tốt.
Tôi lờ gợi ý đó đi bằng cách đưa cho nàng xem đôi tất len mới:
— Chúng ta lại có một vũ khí mới để thu thập thêm chứng cứ ở khu nhà của Madox. – Tôi hỏi: Em đi loại bít tất gì vậy?
Nàng không trả lời câu hỏi của tôi, thay vào đó là câu hỏi:
— Anh thực sự nghiêm túc về việc sẽ đi dự bữa tối hôm nay sao?
— Nghiêm túc. – Tôi bỏ con lăn vào trong túi. Một nghi can sẽ mời em đến ăn tối bao nhiêu lần?
— Người Borgias luôn làm như vậy.
— Vậy sao? Họ là… Thuộc chủng Gambino. Phải không?
— Không, họ là quý tộc người Ý, những người thường đầu độc thực khách của mình trong bữa tối.
— Vậy à? Và khách được mời vẫn cứ đến? Thật là ngu xuẩn hết chỗ nói.
— Anh đã hiểu ra vấn đề rồi đấy.
Kate mở gói viên bổ sung năng lượng, tôi hỏi:
— Em có muốn anh cắn một miếng trước thử xem có độc ở trong đó không?
— Không, nhưng nếu anh đói, em sẽ chia cho anh.
— Anh đang dành bụng cho bữa tối.
— Em sẽ không đến đó.
— Em à, nhưng hắn đặc biệt mời đích danh em.
— Và anh cũng sẽ không đến đó, – Nàng nói: Kể cho em nghe anh và Madox đã nói những gì?
— Được, nhưng trước tiên hãy gọi cho Wilma đã.
— Làm gì?
— Bảo cô ta là em sẽ trả máy tính vào lúc sáu rưỡi, và bảo cô ta mang cho một cuộn băng dính.
— Được.
Nàng đi đến bên bàn làm việc, còn tôi thì đi chân đất ra ngồi trên băng ghế dài. Tôi không muốn làm bẩn đôi tất mới mua bằng cái nhà nghỉ Wilma B&B này.
Tôi nói khi Kate nhấc ống nghe:
— Bảo Wilma gọi cho em ngay lập tức nếu thấy chồng em về trên chiếc xe Hyundai trắng.
Tôi nghĩ Kate sẽ bảo tôi là một gã ngu xuẩn ấu trĩ, nhưng nàng chỉ mỉm cười nói “Được thôi”. Khiếu hài hước của nàng mới thật là tệ.
Kate gọi và người nhấc máy là Wilma. Kate cảm ơn cô ta về chiếc máy tính và hứa sẽ mang trả trước sáu rưỡi. Sau đó nàng nói:
— Tôi có thể nhờ cô hai việc nữa được không? Tôi cần một cuộn băng dính, băng dính chống sơn hoặc băng dính chịu lực. Tôi sẽ vui lòng thanh toán cho cô. Cảm ơn cô. À, nếu cô nhìn thấy chồng tôi đi qua trên chiếc Huyndai màu trắng thì làm ơn gọi ngay cho tôi nhé. Kate cười trong khi Wilma nói điều gì đó. Kate giải thích: Ồ, chỉ là một người bạn thôi, nhưng… ồ… vâng –
— Hỏi cô ta xem có đủ băng dính để cột chặt cổ tay và mắt cá chân không, hỏi xem có kem xoa chỗ bị đánh đập không nhé.
— Làm ơn chờ tôi một chút, – nàng bịt ống nghe và cố nén cười nói: Thôi nào, John...
— Và bảo cô ta gọi em nếu có bất cứ chiếc xe nào chạy tới đây.
Kate nhìn tôi gật đầu, đoạn nói với Wilma:
— Có thể chồng tôi sẽ đi về bằng xe khác. Vậy nếu cô thấy bất cứ chiếc xe nào chạy tới chỗ chúng tôi – vâng... cảm ơn cô.
Kate gác máy quay ra nói:
— Wilma gợi ý là bạn em nên giấu chiếc xe tải đi, và nhắc là có một cửa ngách sau chạy ra phía cổng vòm.
Chúng tôi cùng tặc lưỡi. Đó đúng là điều chúng tôi cần lúc này. Kate nói:
— Cứ như thể là em không biết cách tuồn cho nhân tình của mình ra phía cửa sau vậy.
— Này.
Nàng mỉm cười, sau đó nói, giọng nghiêm túc:
— Em đoán giờ thì Wilma đã thành người cảnh giới cho chúng ta.
— Cô ta đang hứng thú với trò chơi này mà.
Kate gật đầu:
— Đôi khi anh cũng có suy nghĩ tốt đấy chứ.
— Anh cũng đang có hứng.
Chúng tôi ôm hôn nhẹ nhàng, lúc sau Kate nói:
— Em đã đặt vé cho hai chúng ta tới LaGuardia từ Syracuse vào 8 giờ 30 sáng mai. Đó là chuyến bay sớm nhất em có thể đặt vé.
Tôi không muốn tranh cãi vào thời điểm này nên chỉ nói:
— Anh hy vọng là em không dùng thẻ tín dụng để đặt vé.
— Họ không thể nhận séc qua điện thoại được.
— Vậy thì khi em đến sân bay, hãy nói với Liam Griffith là anh gửi lời chào nhé.
— John, họ không thể tìm thông tin tín dụng của chúng ta nhanh đến như vậy được… chúng ta… chúng ta có thể tới Toronto bằng ôtô trong đêm nay. Có rất nhiều chuyến bay tới New York và Newark từ Toronto.
— Chúng ta sẽ không vượt qua biên giới quốc tế. Tôi hỏi: Em đã tìm được những gì rồi?
Kate mở sổ ghi chép, đặt lên bàn:
— Trước tiên, như em đã nói, em không liên lạc được với Schaeffer. Em đã gọi hai lần và để lại một tin nhắn rằng em sẽ gọi lại. Nhưng em không nghĩ là ông ta muốn nói chuyện với em. Có thể anh sẽ gặp may hơn đấy.
— Anh sẽ gọi cho ông ta sau. Tôi ngả người trên băng ghế dài và nói: – Cũng chẳng có đội theo dõi giám sát nào ở đường McCuen Fond hết.
— Có thể họ đang ẩn mình ở đâu đó.
— Có thể. Nhưng cũng có thể Schaeffer đã cắt đứt liên hệ với chúng ta.
— Vậy nhưng anh vẫn vào Câu lạc bộ.
— Anh đã khắc một mẩu tin nhắn trên cây bulô.
Nàng tiếp tục đọc:
— Em cũng đã kiểm tra danh mục chuyến bay, danh sách đặt vé và hợp đồng thuê xe. Không có một tên tuổi đáng gây giật mình nào cả, ngoại trừ Paul Dunn và Edward Wolffer. Và, tất nhiên là cả Mikhail Putyov. Nàng liếc nhìn dòng ghi chép. Có một vài cái tên nghe quen quen, nhưng đó có thể là do em đã nghĩ thêm ra khi đọc chúng. Ví dụ, James Hawkins. Anh nghe tên này có quen không? Đừng có nói với em là hắn chơi ở vị trí số ba trong đội bóng chày Yankees đấy nhé.
— Ok. Nghe không quen lắm. Em đã tìm tên hắn trên Google chưa?
— Rồi. Có tên James Hawkins trong Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân. Một viên tướng không quân. Nhưng em không thể xác định được liệu đó có phải là James Hawkins này không.
— Ồ… nếu hắn đến Câu lạc bộ đồi Custer thì có thể đúng là như vậy. Hắn có thuê xe không?
— Không. Hắn tự lái xe từ Boston vào ngày Thứ bảy, lúc 9 giờ 25 sáng, và rời khỏi đây trên chuyến bay 12 giờ 45 về Boston ngày Chủ nhật, trung chuyển tới Washington.
— Ok… nếu hắn tới Câu lạc bộ đồi Custer, có thể hắn đã được đón bằng chiếc xe tải đó. Thật thú vị là Madox không đón bất cứ vị khách quý nào bằng máy bay của hắn. Nhưng anh đoán là là hắn và những vị khách của hắn đều không muốn để lộ rõ mối liên hệ trực tiếp giữa chúng. Có chút gì đó đáng ngờ trong chuyện này.
Kate đáp lại:
— Thường thì đó chỉ là việc các quan chức chính phủ không muốn nhận những món quà đắt giá hoặc sự giúp đỡ từ những người có tiền bạc. Đó là vấn đề đạo dức.
— Nếu vậy lại càng đáng ngờ hơn. Vậy, Madox có thể đã tiếp đón một thành viên của Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân. Một tướng không quân.
— Em không hiểu liệu những vị khách này biết rằng Harry đã có mặt ở đó, và chuyện gì đã xảy ra với anh ấy…
Tôi không thể hình dung được những người ở địa vị như vậy lại là tòng phạm trong vụ án mạng này. Nhưng nếu quyền lợi đủ lớn thì bất cứ điều gì cùng có thể xảy ra.
— Còn thông tin gì từ phía sân bay không?
— Chỉ có thế. Đối với hàng tá những cái tên khác nữa thì chúng ta cần phải có một đội chuyên nghiên cứu danh sách đó để tìm xem những người này là ai, và quan hệ nếu có, giữa họ với Madox như thế nào.
— Anh hy vọng là đồng nghiệp của chúng ta đang xử lý cái danh sách này. Có điều là chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được kết quả.
Nàng chẳng bình luận gì thêm mà chỉ nói:
— Sau đó, em lên mạng tìm Bain Madox bằng Google, và thật ngạc nhiên là chẳng có thông tin gì nhiều về hắn ta cả.
— Điều này cũng chẳng ngạc nhiên lắm.
— Em cũng nghĩ vậy. Hầu hết những thông tin có được là từ công ty của hắn. Hắn đang là Tổng giám đốc điều hành và cũng là cổ đông có cổ phần chủ chốt của tập đoàn Dầu khí toàn cầu – GOCO. Và ngay cả những thông tin này cũng chẳng nhiều nhặn gì. Có rất ít thông tin cá nhân, hầu như không nói gì đến những riêng tư của hắn, không có thông tin về người vợ cũ cũng như con cái, chỉ có một vài đoạn trích từ vài nguồn tin đã đăng tải, không có một thông tin hoặc bình luận của cá nhân nào chưa qua đăng tải về hắn cả.
— Rõ rồi, hắn có khả năng xóa được những trang blog hoặc thông tin về hắn.
— Tất nhiên là như vậy. Nàng liếc qua mấy dòng ghi chép: Chỉ có duy nhất một điều mập mờ thú vị là có tới khoảng 50% quyền sở hữu dầu, khí ga và một nửa đội tàu chở dầu của hắn lại thuộc về những đối tượng không tên tuổi ở Trung Đông.
Tôi ngẫm nghĩ về điều Kate vừa nói, về Bộ trưởng Dầu khí Iraq trong cuộc nói chuyện với Madox. Điều này chứng tỏ rằng, như bất kỳ một giám đốc điều hành dầu khí nào của phương Tây, hắn cũng phải liếm đít một vài nhân vật ở vùng đất cát cằn khô đó. Nhưng do trông hắn không giống như những kẻ liếm đít khác, có thể hắn đang âm mưu xóa sổ các đối tác của mình vĩnh viễn. Có thể đó là tất cả những gì đang diễn ra trong vụ này.
Kate tiếp:
— Em cũng lên mạng tìm ELF. Không có gì nhiều hơn những gì được John Nasseff cung cấp ngoại trừ một điều là người Nga sử dụng ELF khác với chúng ta.
— Đúng vậy. Họ có nhiều chữ cái hơn chúng ta. Tôi ngáp dài và lắng nghe tiếng dạ dày đang lục ục.
— Còn một điều khác nữa, – nàng lại liếc nhìn sổ ghi chép: Nghe này, như chúng ta đã biết, người Mỹ sử dụng sóng tần số cực thấp để liên lạc với tàu ngầm nguyên tử với chức năng như người rung chuông nhắc nhở, còn người Nga thì trong thời gian căng thẳng leo thang, họ đã dùng ELF gửi thông tin liên tục tới tàu ngầm nguyên tử của họ với nội dung: Mọi việc đều ổn. Nếu tin nhắn này bị ngắt quãng thì có nghĩa là sẽ có một tin nhắn với nội dung ngược lại được gửi đi. Trong trường hợp tin nhắn nội dung ngược lại đó không đến với tàu ngầm nguyên tử trong khoảng thời gian xác định thì có nghĩa là trạm thu phát ELF đã bị phá hủy. Lúc đó, những tàu ngầm nguyên tử này sẽ được phép tấn công các mục tiêu đã được định trước ở Mỹ, hay Trung Quốc, hay bất cứ nơi nào.
— Thật đáng ngạc nhiên. Hy vọng là họ thanh toán tiền điện đúng thời hạn.
— Em cũng nghĩ vậy. Kate tiếp tục: Và đây là lý do tại sao trạm thu ở Greenland có thể phát hiện ra nơi phát tín hiệu ELF của Nga ở bán đảo Kola. Vì họ liên tục phát đi tín hiệu “Mọi việc đều ổn trong thời gian căng, thẳng leo thang”, mà theo bài viết đó thì chính là do chúng ta đã dồn họ vào thế phải phát đi tín hiệu ELF liên tục đó. Điều này, đến lượt nó, giúp chúng ta có thể tìm ra máy phát ELF ở bán đảo Kola.
— Ồ. Chúng ta thông minh đấy chứ? Nói về nguy cơ đứng bên miệng hố chiến tranh hạt nhân. Chúng ta có vui mừng không khi Chiến tranh lạnh đã kết thúc?
— Có. Nhưng điều này khiến em phải cho rằng Madox, người đã từng một lần có được mã khóa của ELF, cũng có thể đã có mã khóa của người Nga. Theo như bài viết này của một tác giả người Thụy Điển thì rất ngẫu nhiên là phần mềm mã hóa của Nga lại không hiện đại hoặc không thể thâm nhập được như của chúng ta, vì vậy có thể Madox đã thay đổi tần số ELF sang tần số của Nga và tìm cách gửi thông tin giả mạo đến các tàu ngầm Nga khiến họ dùng tên lửa hạt nhân tấn công các mục tiêu như Trung Quốc, hay Trung Đông, hoặc bất cứ nơi nào hắn không thích.
Tôi ngẫm nghĩ:
— Anh cho rằng nếu mã khóa của Nga dễ thâm nhập hơn thì đó cùng là điều có cơ sở, vẫn là máy phát ELF ở đồi Custer, còn những chiếc tàu ngầm nguyên tử thì của phía bên kia. Và còn nhiều điều lý thú hơn nữa với ELF nữa chăng?
— Có thể là những người da đỏ cũng đang tìm cách xây dựng một trạm thu phát ELF.
Tôi ngồi thẳng dậy trên băng ghế nói:
— Họ cần cái đó để làm quái gì cơ chứ? Để bắn tomahawk à? Vì Chúa, họ có những sòng bạc.
— John, người da đỏ Ấn Độ ấy.
— Ồ…
— Họ đang phát triển các hạm đội tàu ngầm nguyên tử, cả Trung Quốc và Pakistan cũng đang làm như vậy.
— Thật hết chỗ nói. Tiếp theo sẽ là những phu khuân vác cũng tìm cách làm như vậy. Và lúc đó thì chúng ta chỉ còn cách chổng mông lên mà tạm biệt cái thế giới này.
— Thực ra thế giới này đã trở nên nguy hiểm hơn so với thời Chiến tranh lạnh khi mà chỉ có chúng ta và phía bên kia.
— Đúng. Giá một ngôi nhà trung bình ở Potsdam là bao nhiêu?
Nàng chẳng có vẻ gì nhớ lại những con số đó mà chỉ ngồi bên bàn làm việc, tâm trí suy tưởng ở nơi mông lung nào đó. Lâu sau nàng nói:
— Em cũng tìm được một số thông tin không được tốt lắm.
— Nghĩa là tin xấu.
— Đúng vậy.
— Tin gì vậy?
— Em đang sắp xếp lại thông tin đó. Chúng ta hãy làm cho xong phần cần phải bàn bạc trước đã để có thể suy xét ra được một bối cảnh nào đó.
— Có phải mẹ em chuẩn bị đến thăm chúng ta không?
— Đây không phải trò đùa, John.
— Được thôi. Tiếp theo sẽ là gì?
— Mikhail Putyov.