Sáng hôm sau, Karl dậy muộn. Hắn biết hắn không chịu đựng nổi những ánh nhìn trong phòng ăn sáng toàn người theo đạo Tin Lành của khách sạn, nên hắn vơ lấy một phần bánh mỳ kẹp thịt muối hun khói ở một tiệm cà phê trên góc Phố Leeson, trước khi hắn đi chầm chậm quay lại đường Falls giờ đã đông như nêm cối những người bán hàng, những bà mẹ đẩy xe nôi, những đứa bé ngậm ti giả và các linh mục mặc áo choàng đen.
Hắn lại ở bên ngoài quán Volunteer, ngay khi chủ quán vừa mở cửa trước. Anh ta nhận ra Karl ngay lập tức - chủ nhân tờ năm bảng - nhưng hắn tảng lờ. Karl gọi một vại bia nhẹ và lấy số tiền thừa sau khi mua chiếc bánh mỳ kẹp thịt muối xông khói khi nãy ra trả. Anh ta vẫn bền bỉ vận hành quán bar tới tận khi đóng cửa, mà chỉ cần hai lượt nghỉ ngắn để tự thả lỏng. Một gói khoai tây chiên Smith’s vị mặn đựng trong một chiếc túi màu xanh nhỏ là bữa trưa của anh ta. Hắn nhóp nhép hết cả ba túi từ đầu buổi tối, vậy nên lại càng muốn uống nhiều hơn, càng thấy ít nhiều hi vọng hơn. Họ nhìn hắn mà như không nhìn thấy. Nhưng cả nhiều giờ đã trôi qua, vẫn không ai bắt chuyện với hắn hay thậm chí liếc nhìn về phía hắn.
Mười lăm phút sau khi báo lượt gọi đồ uống cuối cùng, nhân viên quầy bar lại nói lón: “Quán đến giờ đóng cửa, thưa các quý ông,” và Karl cảm thấy hắn đã lại phí thêm một ngày nữa. Khi hắn đi thẳng ra cửa, hắn thậm chí đã nghĩ đến kế hoạch B, nghĩa là thay đổi lập trường và làm quen với những người theo đạo Tin Lành.
Đúng lúc hắn đặt chân lên vỉa hè bên ngoài, một chiếc Hillman màu đen ghé sát lại bên hắn. Cửa sau bật tung ra và trước khi hắn có thể phản ứng lại, hai người đàn ông đã túm lấy hắn, tống vào ghế sau và sập cửa đóng lại. Chiếc xe lao đi.
Karl ngước lên và thấy một thanh niên có lẽ còn chưa đủ tuổi bỏ phiếu đang dí súng vào trán mình. Điều duy nhất khiến hắn lo lắng là cậu thanh niên đó rõ ràng đang sợ hãi hơn chính hắn, toàn thân cậu ta run rẩy đến nỗi khẩu súng nhiều khả năng sẽ cướp cò hơn là do chủ ý. Hắn có thể tước vũ khí của cậu bé kia trong chớp mắt nhưng chẳng việc gì phải làm thế, hắn không kháng cự khi người đàn ông nhiều tuổi hơn ngồi bên sườn trói tay hắn ra sau lưng, buộc một cái khăn che mắt hắn, rồi khéo léo lấy ví của hắn. Karl nghe tiếng gã huýt sáo khi gã đếm những tờ bạc năm bảng.
“Ở chỗ người ta tạo ra nó hãy còn nhiều lắm.” Karl nói.
Theo sau đó là cuộc tranh cãi nảy lửa, bằng một thứ tiếng mà Karl cho là tiếng mẹ đẻ của chúng. Hắn có cảm giác rằng một trong số chúng muốn giết mình, nhưng hắn hi vọng rằng người đàn ông nhiều tuổi hơn kia sẽ bị cám dỗ bởi khả năng lấy được nhiều tiền hơn. Tiền chắc hẳn phải thắng, bởi vì hắn có thể cảm thấy không còn khẩu súng nào dí trên trán mình nữa.
Chiếc xe quẹo phải rồi một lát sau thì rẽ trái. Chúng đang cố đánh lừa ai cơ chứ? Karl biết rõ bọn chúng chỉ đơn giản đi lòng vòng rồi quay lại bởi chúng sẽ không mạo hiểm rời khỏi thành trì Công giáo của mình.
Đột nhiên, chiếc xe dừng lại, một cánh cửa mở ra và Karl bị ném ra đường. Nếu hắn vẫn còn sống sau năm phút nữa, hắn nghĩ chắc có lẽ mình sẽ sống tiếp đến lúc nhận lương hưu. Ai đó túm tóc, kéo hắn đứng dậy. Một cú thúc vào chính giữa lưng xô hắn qua một cánh cửa mở. Mùi thịt cháy phảng phất ở căn phòng sau, nhưng hắn ngờ rằng cho hắn ăn không có trong bảng hạng mục công việc của bọn chúng.
Hắn bị lôi lên một cầu thang vào trong một căn phòng có mùi giường ngủ, và bị ấn ngồi xuống một cái ghế gỗ. Cửa đóng sầm lại và hắn chỉ còn lại một mình. Không biết phải vậy không? Hắn đoán rằng mình phải ở trong một ngôi nhà an toàn, và rằng ai đó giữ vai trò cao hơn, thậm chí có thể là thủ lĩnh cả một vùng, lúc này, có lẽ đang quyết định xem nên làm gì với hắn.
Hắn không dám chắc bọn chúng bắt hắn phải chờ bao lâu. Từng phút trôi qua dài lê thê, tưởng chừng như hàng giờ. Rồi cánh cửa đột ngột bật ra và hắn nghe thấy tiếng của ít nhất ba người đàn ông đang bước vào trong phòng. Một trong số họ bắt đầu đi vòng quanh chiếc ghế.
“Mày muốn gì, thằng người Anh?” Một giọng nói cộc cằn cất lên.
“Tôi không phải là người Anh,” Karl nói. “Tôi là người Đức.”
Một quãng im lặng diễn ra.
“Vậy mày muốn gì, thằng Kraut?” 12
“Tao mang theo một lời đề nghị tới chúng mày.”
“Mày có theo IRA không?” Một giọng nói khác, trẻ hơn, mềm giọng và ít uy lực hơn vang lên.
“Tao phỉ nhổ vào bọn IRA.”
“Vậy vì sao mày phải liều mạng để tìm ra bọn tao?”
“Bởi vì, như đã nói, tao mang theo một đề nghị mà mày có lẽ sẽ thấy đáng tiền của. Vậy nên sao mày không đi tìm và đưa ai đó có quyền quyết định tới đây đi. Bởi vì, ranh con ạ, anh nghi là mẹ chú chắc vẫn còn phải đang dạy chú tè sao cho trúng bô.”
Một nắm đấm quật thẳng vào miệng hắn, tiếp theo lại là một cuộc tranh cãi dữ dội, vài người nói cùng lúc. Karl cảm thấy máu chảy từ từ thành dòng xuống cằm và chuẩn bị tinh thần đón nhận đòn tiếp theo nhưng không có đòn nào khác cả. Người đàn ông nhiều tuổi hơn chắc hẳn đã thắng thế. Một lát sau, ba người bọn họ rời khỏi phòng. Bị bịt mắt trong một thời gian quá dài khiến hắn nhạy cảm hơn với âm thanh và mùi hương. Ít nhất phải một giờ nữa trôi qua trước khi cánh cửa lại mở ra, và một người đàn ông đi giày chứ không phải mang bốt bước vào phòng. Karl có thể cảm nhận được người đó chỉ đứng cách anh ta một gang tay.
“Tên ông là gì?” Một người đàn ông hỏi với giọng có văn hóa, không hề nhiễm giọng địa phương.
Karl đoán giọng nói đó thuộc về một người trong độ tuổi từ ba mươi lăm đến bốn mươi. Hắn mỉm cười. Mặc dù không thể nhìn thấy anh ta, nhưng đây chính là người mà hắn tìm đến để thương lượng.
“Karl Lunsdorf.”
“Và cơn gió nào mang ông tới Belfast vậy, ông Lunsdorf?”
“Tôi cần anh giúp đỡ.”
“Chuyện gì vậy?”
“Tôi cần người nào đó tin tưởng anh và đang làm việc ở Harland & Wolff.”
“Hẳn ông đã biết rằng rất ít người Công giáo có thể tìm được việc ở Harland & Wolff. Đó là một công xưởng đóng. Tôi sợ rằng ông có lẽ đã lãng phí mất một chuyến đi.”
“Chỉ có một vài người Công giáo, và họ được xét chuyên môn một cách cẩn thận, tôi thừa nhận, những người làm việc ở đó trong những lĩnh vực chuyên môn như điện, nước, hay hàn xì nhưng chỉ khi ban quản lý không thể nào tìm được một người Tin Lành có các kỹ năng cần thiết thôi.”
“Ông nắm thông tin rất rõ, ông Lunsdorf. Nhưng cứ cho là chúng tôi có thể tìm được một người như thế ủng hộ chúng tôi, ông mong đợi anh ta làm gì?”
“Harland & Wolff vừa giành được hợp đồng của Hàng hải Barrington...”
“Để đóng một con tàu tên là Buckingham.”
“Đó, anh cũng nắm được thông tin rất rõ.” Karl nói.
“Không hề, giọng nói đầy văn hóa cất lên. “Bản vẽ của kiến trúc sư về con tàu đề xuất đã được in trên trang nhất của cả hai tờ báo địa phương một ngày sau khi hợp đồng được ký kết. Vì vậy, ông Lunsdorf, xin hãy nói cho tôi biết chuyện gì đó mà tôi chưa biết.”
“Dự án đóng tàu sẽ khởi công vào một tháng tới, hẹn bàn giao cho Hàng hải Barrington là 15 tháng Ba năm 1962.”
“Và ông đang hi vọng chúng tôi sẽ có thể làm gì? Đẩy nhanh hay trì hoãn tiến độ đóng tàu.”
“Buộc nó dừng lại.”
“Không phải là một nhiệm vụ dễ dàng, nhất là khi có quá nhiều con mắt soi mói luôn luôn dõi theo.”
“Chúng tôi sẽ đảm bảo việc đó đáng đồng tiền bát gạo.”
“Lí do?” Giọng nói cộc cằn vang lên.
“Hãy cứ cho rằng tôi đại diện cho công ty đối thủ đang dìm Hàng hải Barrington ngập trong khó khăn tài chính.”
“Vậy chúng tôi sẽ kiếm được tiền bằng cách nào?” Giọng nói có văn hóa hỏi.
“Căn cứ theo kết quả. Hợp đồng quy định rằng việc đóng tàu sẽ được thực hiện theo tám giai đoạn, có những ngày tháng cụ thể kèm theo từng giai đoạn. Ví dụ, giai đoạn một phải được ký nhận bởi cả hai bên chậm nhất vào ngày mùng 1 tháng Mười hai năm nay. Phía chúng tôi đề xuất rằng trả cho ông một nghìn bảng Anh cho mỗi ngày trì hoãn thuộc bất kỳ giai đoạn nào. Vì vậy, nếu trì hoãn được trong một năm, chúng tôi sẽ trả cho ông ba trăm sáu mươi lăm nghìn.”
“Tôi biết một năm có bao nhiêu ngày, ông Lunsdorf ạ. Nếu chúng tôi đồng ý với đề xuất của ông, chúng tôi mong đợi một khoản thanh toán ‘thiện chí’ ứng trước.”
“Bao nhiêu?” Karl hỏi, lần đầu tiên có cảm giác như hai bên bình đẳng.
Hai người thì thầm với nhau. “Tôi nghĩ rằng một khoản thanh toán trị giá hai mươi nghìn bảng bằng tiền mặt sẽ thuyết phục chúng tôi rằng anh đang nghiêm túc.” Giọng nói văn hóa lên tiếng.
“Hãy đưa tôi thông tin chi tiết về tài khoản ngân hàng của anh, chúng tôi sẽ chuyển khoản toàn bộ số tiền đó ngay sáng mai.”
“Chúng tôi sẽ giữ liên lạc,” giọng nói có văn hóa nói. “Nhưng chúng tôi cần xem xét thêm về đề nghị của ông.”
“Nhưng ông không biết tôi sống ở đâu.”
“Số 44, Phố Eaton, Chelsea, ông Lunsdort.” Đến lượt Karl chìm vào im lặng. “Và chúng tôi có nên đồng ý hỗ trợ ông không. Ông Lunsdorf, hãy chắc chắn rằng ông không đi vào vết xe đổ của người Anh trong gần một nghìn năm qua, đó là đánh giá thấp người Ireland.”
*
“Anh làm thế nào mà để lạc mất Lunsdorf vậy?”
“Hắn ta đã cắt đuôi Trung sĩ Roberts ở Harrods.”
“Đôi khi tôi ước mình có thể làm vậy khi đi mua sắm với vợ tôi.” Thư ký Nghị viện nói. “Còn Luis và Diego Martinez thì sao? Chúng cũng đã cắt được đuôi?”
“Không, nhưng hóa ra chúng chỉ là hỏa mù ngụy trang để kiềm chân chúng tôi trong khi Lunsdorf đã trốn thoát gọn gàng.”
“Lunsdorf đã thoát được trong bao lâu?”
“Ba ngày. Hắn ta đã trở lại phố Eaton vào chiều thứ Sáu.”
“Hắn ta không thể đi đâu quá xa trong từng đó thời gian được. Nếu tôi đặt cược, tôi ngờ rằng tôi sẽ cược lớn vào Belfast, còn nhớ hắn từng dành vài buổi tối tháng trước uống bia Guinness trong quán Ward’s Irish House ở Piccadilly.”
“Và Belfast là nơi mà họ đang đóng tàu Buckingham. Nhưng tôi vẫn chưa nghĩ ra chính xác thì Martinez định làm gì.” Scott- Hopkins nói.
“Tôi cũng không thể đoán ra được, nhưng tôi có thể nói với anh rằng gần đây hắn đã ký gửi khoảng hơn hai triệu bảng ở chi nhánh St James’s thuộc ngân hàng Midland, sau đó ngay lập tức bắt đầu mua thêm cổ phiếu của Hàng hải Barrington. Sẽ chẳng còn lâu nữa đâu, trước khi hắn ấn định một giám đốc thứ hai vào Hội đồng Quản trị.”
“Có lẽ hắn đang định thôn tính lại công ty.”
“Và đối với bà Clifton, chỉ cần nghĩ đến chuyện Martinez điều hành doanh nghiệp của gia đình thôi cũng đủ thấy muối mặt rồi. Mất danh dự là mất hết.” 13
“Nhưng Martinez có thể mất đi cả một gia tài nếu cố làm điều đó.”
“Tôi ngờ là thế. Con người đó đã có sẵn một kế hoạch dự phòng, nhưng giống như anh, đúng là chết tiệt vì tôi không thể đoán ra kế hoạch đó.”
“Vậy chúng ta có thể làm gì?”
“Không nhiều, ngoại trừ chờ đợi và hy vọng một trong số họ phạm sai lầm.” Thư ký Nghị viện uống cạn ly của mình trước khi nói thêm: “Vào những lúc như thế này, tôi ước mình được sinh ra ở Nga. Nếu thế, giờ tôi đã là người đứng đầu KGB, và tôi sẽ không phải lãng phí thời gian để chơi cho đúng luật.”