Giám Mục Bristol nhìn xuống đông đủ mọi người từ bục giảng kinh của nhà thờ St Mary Redcliffe, nhắc lại cho mọi người nhớ tới những ảnh hưởng mà Jessica Clifton đã để lại đối với quá nhiều người trong cuộc đời ngắn ngủi của cô ấy. Sau cùng, một bức tranh vẽ chân dung ông với tư cách là Linh mục thị trấn Truno được treo đầy tự hào trong hành lang của Tòa Giám Mục. Ông liếc nhìn những dòng ghi chú của mình.
“Khi có một người thân yêu qua đời ở độ tuổi bảy mươi hoặc tám mươi,” ông bắt đầu, “chúng ta tụ họp lại để thương tiếc họ. Chúng ta nhớ lại cả cuộc đời dài của họ cùng với những tình cảm yêu mến, niềm kính trọng, sự biết ơn và chuyện trò về những giai thoại hay ký ức hạnh phúc cùng họ. Chúng ta rơi nước mắt, tất nhiên, chúng ta sẽ khóc, nhưng cũng lúc đó, chúng ta chấp nhận rằng đây là quy luật tự nhiên của vạn vật. Khi một người phụ nữ trẻ tuổi, xinh đẹp, người đã thể hiện một tài năng hiếm có đến nỗi các bậc trưởng bối của cô phải chấp nhận một cách tâm phục khẩu phục rằng họ không phải là người tài năng hơn cô mất đi, chúng ta chắc chắn đã rơi nước mắt nhiều hơn bởi vì chúng ta chỉ có thể băn khoăn không biết chuyện gì đã xảy ra.”
Emma đã khóc rất nhiều từ lúc cô hay tin đến mức cô đã kiệt quệ cả về tinh thần và thể chất. Cô chỉ có thể tự hỏi liệu có chuyện gì mà cô chắc có lẽ đã làm được để cứu con gái yêu quý của mình thoát khỏi một cái chết ác nghiệt và vu vơ đến vậy. Tất nhiên là có. Đáng lẽ cô phải nói cho con bé biết sự thật. Emma cảm thấy mình cũng đáng trách như bất cứ ai.
Harry, người ngồi bên cạnh cô ở hàng ghế đầu, đã già đi hẳn chục tuổi trong vòng một tuần, và không cần đặt câu hỏi ai mới là người đáng trách. Cái chết của Jessica liên tục nhắc nhở anh rằng lẽ ra anh nên nói với con bé lí do họ đã nhận nuôi con bé từ nhiều năm trước. Nếu anh làm vậy, chắc chắn hôm nay, con bé vẫn còn sống.
Giles ngồi giữa các các em gái của mình, lần đầu tiên nắm tay họ sau nhiều năm. Hay họ đang nắm tay anh ấy không biết nữa? Grace, từng không chấp nhận bất kỳ lí do gì để bộc lộ cảm xúc công khai, đã khóc suốt buổi lễ.
Sebastian, người ngồi ở phía bên kia của cha mình, không để lọt tai bất cứ lời nào trong bài ngợi ca của giám mục. Cậu không còn tin vào một vị thần từ bi hoàn toàn thấu hiểu, hoàn toàn săn sóc, người cho đi bằng tay này nhưng lại lấy đi bằng tay khác nữa. Cậu đã mất đi người bạn thân nhất của mình, người mà cậu yêu mến vô cùng và không ai có thể thế chỗ em ấy.
Harold Guinzburg ngồi lặng lẽ ở phía sau nhà thờ. Khi gọi cho Harry, ông không hề hay biết rằng cuộc đời mình đã tan tành trong một khoảnh khắc. Ông chỉ muốn chia sẻ với Harry một tin mừng rằng cuốn tiểu thuyết mới nhất của anh ấy đã giành vị trí số một trong danh sách bán chạy nhất của tờ New York Times.
Harold hẳn đã rất ngạc nhiên trước sự thờ ơ của tác giả, nhưng sau đó, ông vô cùng hiểu tại sao Harry không còn quan tâm đến những thứ đồ trang sức lòe loẹt, rẻ tiền như vậy nữa, và có lẽ sẽ hài lòng nếu không bán được một bản nào, đổi lại Jessica có thể vẫn ở đó và đứng bên cạnh anh chứ không phải yên nghỉ trong một ngôi mộ không đúng thời điểm như thế này.
Sau khi lễ an táng kết thúc và những người khác đã rời đi để tiếp tục cuộc sống của mình, Harry khuỵu gối, lặng lẽ bên nấm mộ. Tội lỗi của anh sẽ không bao giờ được tha thứ một cách dễ dàng như vậy. Anh đã chấp nhận rằng không một ngày, có thể không một giờ nào trôi qua mà Jessica không thường trực trong suy nghĩ của anh, cười nói, huyên thuyên, trêu chọc. Giống như vị giám mục, anh cũng chỉ có thể tự hỏi chuyện gì đã xảy ra mới được cơ chứ. Con bé sẽ kết hôn với Clive cơ mà? Những đứa cháu của anh trông ra sao nhỉ? Liệu anh có sống đủ lâu để thấy cô trở thành Viện sĩ Học viện Hoàng gia không? Anh ước sao là con bé đang quỳ bên mộ anh, tiếc thương anh biết chừng nào.
“Hãy tha thứ cho cha,” anh nói lớn.
Điều gì đã đẩy con bé đến chỗ cùng cực, anh biết chắc chắn phải có.