Phía Sau Một Mong Ước

Lượt đọc: 55 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
38

❊ ❊ ❊

Tối thứ Tư.

Thư ký nghị viện đã xem xét tất cả các cách dàn xếp, và nhận thấy cuối cùng ông cũng đã có phương cách đối phó hoàn hảo với cả bốn người bọn họ chỉ bằng một đòn áp đảo.

Sir Alan Redmayne tin vào pháp quyền. Dù sao thì, pháp quyền cũng là nền tảng của bất kỳ nền dân chủ nào. Bất cứ khi nào được hỏi, Sir Alan đều đồng ý với Thủ tướng Churchill rằng, với tư cách là một thể thức chính phủ, nền dân chủ cũng có những nhược điểm riêng, nhưng suy đi xét lại, nó vẫn là thể thức tốt nhất. Nhưng nếu được toàn quyền quyết định, anh sẽ chọn một chế độ độc tài khoan dung, vấn đề là các nhà độc tài, xét về bản chất, không nhân từ. Chỉ đơn giản là nét tính cách đó không phù họp với yêu cầu cương vị của họ. Theo quan điểm của anh, người gần giống nhất với một nhà độc tài khoan dung mà Vương quốc Anh có, chính là Thư ký Nghị viện.

Nếu đây mà là Argentina, Sir Alan có thể chỉ cần ra lệnh cho Đại tá Scott-Hopkins thủ tiêu Don Pedro Martinez, Diego Martinez, Luis Martinez và chắc chắn cả Karl Lunsdorf, rồi sau đó anh đã có thể đóng hồ sơ bọn họ lại. Nhưng giống như rất nhiều Thư ký Nghị viện trước, anh sẽ phải thỏa hiệp và hài lòng với một người bị bắt cóc, hai người bị trục xuất và một người phá sản không còn lựa chọn nào khác ngoài việc cuốn gói cút về quê hương và không bao giờ tính đến chuyện quay trở lại nữa.

Trong những tình huống thông thường, Sir Alan sẽ chờ hết thời hạn theo quy trình pháp luật để tiến hành các bước cần thiết. Nhưng thật không may, anh đã bị trói tay bởi một nhân vật không thể tầm cỡ hơn, chính là nữ Thái hoàng Điện hạ.

Anh đã đọc trong thông tri của tòa án vào sáng hôm đó rằng Thái hoàng Elizabeth đã ân cần chấp nhận lời mời của nữ chủ tịch công ty Hàng hải Barrington, bà Harry Clifton, để đặt tên cho tàu MV Buckingham vào trưa thứ Hai ngày 21 tháng Chín, khiến anh chỉ còn vài tuần để thực hiện kế hoạch của mình, vì anh không nghi ngờ gì rằng Don Pedro Martinez sẽ định làm một vụ nào đó khác nhân buổi lễ đặt tên trong cái ngày cụ thể đó.

Nước cờ đầu tiên của anh là thực thi vài ngày bận rộn để đảm bảo rằng Karl Lunsdorf bị loại hoàn toàn khỏi phương trình. Tội ác không thể tha thứ nổi mới nhất của hắn, trên chuyến tàu The Night Scotsman, thật đê tiện, ngay cả đong đếm theo tiêu chuẩn hèn hạ của hắn. Diego và Luis Martinez có thể đợi đến lượt khi anh đã có đủ nhiều bằng chứng hơn để bắt giữ cả hai. Và anh tin rằng một khi hai gã con trai được tại ngoại nhờ vào tiền bảo lãnh, chờ xét xử, chúng sẽ trốn khỏi đất nước này trong vài ngày. Cảnh sát được lệnh không bắt giữ khi bọn chúng xuất hiện tại sân bay, vì bọn chúng biết rõ rằng bọn chúng không bao giờ có thể quay lại Vương quốc Anh nữa, trừ khi bọn chúng sẵn sàng ra tòa chịu rũ xương trong tù.

Bọn chúng có thể đợi. Tuy nhiên Karl Otto Lunsdorf, tên đầy đủ của hắn theo giấy khai sinh, thì không thể đợi thêm.

Mặc dù theo mô tả của Trưởng tàu The Night Scotsman, đã rõ rằng Lunsdorf phải chịu trách nhiệm vì đã quăng - anh ta lật một trang trong tập tài liệu của mình - cô Kitty Parsons, một gái bán hoa có tiếng, ra khỏi con tàu lúc nửa đêm, không còn cơ may nào tránh cho cựu sĩ quan SS khỏi lĩnh một bản án chắc chắn là không thể hợp lý hơn dù cho người phụ nữ tội nghiệp vẫn đang hôn mê. Bất chấp chuyện đó, vòng quay công lý sắp vào khởi hoạt.

Sir Alan không hứng thú lắm với những bữa tiệc cocktail, với cả anh nhận được hàng tá lời mời tham dự đủ các thể loại tiệc tùng hàng ngày từ tiệc trong vườn của Nữ hoàng đến Khu ghế dành cho Thành viên Hoàng gia tại giải Wimbledon, chín trên mười lần, anh đã viết chữ “Không” ở trên cùng, góc bên phải của thiệp mời và để cho thư ký của mình viện ra một lí do từ chối thuyết phục. Tuy nhiên, khi nhận được thư mời từ Bộ Ngoại giao tới một bữa tiệc uống chào mừng tân Đại sứ Israel, Sir Alan đã viết chữ “Nhận lời, nếu xắp xếp được thời gian”, ở góc trên cùng bên phải.

Thư ký Nghị viện không có mong muốn đặc biệt là được gặp gỡ ngài tân Đại sứ mà anh ấy đã từng gặp với tư cách là thành viên của vài phái đoàn trong quá khứ. Tuy nhiên, sẽ có một vị khách dự tiệc mà anh muốn trao đổi vài lời riêng tư.

Sir Alan rời văn phòng ở phố Downing ngay sau 6 giờ và sải bước sang khu FCO 34. Sau khi gửi lời chúc mừng tới tân Đại sứ, và trao đổi vài câu chuyện trò vui vẻ với những người khác đang mong lấy lòng mình, anh khéo léo đi quanh căn phòng đông đúc, ly đồ uống trong tay, cho tới khi mục tiêu hiện ra trong tầm mắt của mình.

Simon Wiesenthal đang chuyện phiếm với Trưởng giáo sĩ lúc Sir Alan tham gia cùng bọn họ. Anh kiên nhẫn đợi Sir Israel Brodie bắt chuyện với phu nhân Đại sứ, rồi mới quay lưng lại với đám đông huyên náo, thể hiện rõ anh không muốn bị ngắt ngang.

“Tiến sĩ Wiesenthal, tôi có thể bày tỏ tôi ngưỡng mộ chiến dịch săn lùng những tên Đức quốc xã có liên quan đến nạn Diệt chủng người Do Thái của ông vô cùng không.” Wiesenthal khẽ cúi đầu. “Tôi tự hỏi,” Thư ký Nghị viện hạ giọng, nói “liệu cái tên Karl Otto Lunsdorf có ý nghĩa gì với ông không?”

Wiesenthal nói: “Đại úy Lunsdorf là một trong những sĩ quan phụ tá thân cận nhất của Himmler. Hắn đã làm sĩ quan thẩm vấn đội ngũ nhân viên riêng của lực lượng SS. Tôi có vô số hồ sơ chỉ riêng về mỗi hắn thôi, Sir Alan ạ, nhưng tôi sợ rằng hắn đã trốn thoát khỏi Đức vài ngày trước khi quân Đồng minh tiến vào Berlin. Tin cuối mà tôi được biết là hắn đang sống ở Buenos Aires.”

Sir Alan thì thầm: “Tôi nghĩ ông sẽ tìm thấy hắn ở gần quê hương hơn một chút.” Wiesenthal tiến lại gần hơn, cúi đầu và chăm chú lắng nghe.

Wiesenthal nói: “Cảm ơn ngài, ngài Alan” sau khi Thư ký Nghị viện báo vài thông tin liên quan. “Tôi sẽ bắt tay vào giải quyết chuyện này ngay lập tức.”

“Nếu có chuyện gì mà tôi giúp được, tất nhiên là không chính thức, ông biết tìm tôi ở đâu rồi đấy,” ông nói khi chủ tịch của Hiệp hội Những người bạn của Lực lượng phòng vệ Israel 35 nhập hội với bọn họ.

Sir Alan đặt chiếc ly rỗng vào một chiếc khay lướt qua, từ chối khi được mời dùng một que xúc xích, chào tạm biệt tân Đại sứ và quay về tòa nhà Số 10. Ông trấn tĩnh để xem lại kế hoạch sơ bộ của mình một lần nữa, chắc chắn rằng mọi chữ “i” được chấm và từng chữ “t” bị gạch ngang, biết rõ vấn đề lớn nhất của ông là thời gian còn lại, đặc biệt nếu ông hy vọng cả hai người bọn họ bị bắt vào ngay hôm sau ngày Lunsdorf mất tích.

Đến lúc ông gạch ngang chữ “t” cuối cùng, thì cũng đã quá nửa đêm, Thư ký Nghị viện quyết định rằng, suy đi tính lại, ông hẳn vẫn thích chế độ độc tài khoan dung hơn.

*

Thiếu tá Alex Fisher đặt hai lá thư cạnh nhau trên bàn của mình: một thư từ chức khỏi Hội đồng Quản trị công ty Barrington, bên cạnh một thư gửi đến từ ông Cedric Hardcastle nhận được vào sáng ngày hôm đó, mời anh ta nhận cơ hội tiếp tục vai trò của mình với tư cách là thành viên Hội đồng Quản trị. Một sự chuyến đổi suôn sẻ, như ông Hardcastle đã mô tả, với triển vọng dài hạn.

Alex vẫn bị giằng xé khi anh ta thử cân nhắc những ưu và nhược điểm của hai lựa chọn thay thế đó. Liệu anh ta có nên chấp nhận lời đề nghị hào phóng của Cedric để giữ lại vị trí của mình trong Hội đồng Quản trị, với thu nhập 2.000 bảng một năm cộng với chi phí phụ trội và mọi cơ hội để đạt được các lợi ích khác không?

Tuy nhiên, nếu anh ta từ chức khỏi Hội đồng Quản trị, Don Pedro đã hứa cho anh 5.000 bảng tiền mặt. Đem so sánh thì lời đề nghị của ông Hardcastle là phương án thay thế hấp dẫn hơn. Nhưng sau đó, câu hỏi về chuyện Don Pedro sẽ trả thù chính xác như cô Kitty Parsons mới bị phát hiện gần đây nếu anh ta rút lại lời đồng ý của mình vào phút chót dấy lên.

Có tiếng gõ cửa, Alex ngạc nhiên vì anh ta không ngóng đợi bất kỳ ai cả. Anh ta thậm chí còn ngạc nhiên hơn khi mở cửa và thấy Diego Martinez đang đứng đó.

“Chào buổi sáng,” Alex nói như thể anh ta đang mong đợi hắn. “Mời vào,” anh ta nói thêm, không biết phải nói gì nữa. Anh ta dẫn Diego vào gian bếp, tránh để hắn nhìn thấy hai bức thư trên bàn làm việc của mình. “Làn gió nào mang anh đến Bristol vậy?” Anh ta hỏi và nhớ ra rằng Diego không uống rượu, nên đã đổ đầy nước vào một ấm và bật nút, đun sôi.

“Bố tôi bảo tôi đưa cho anh cái này.” Diego nói, đặt một phong bì dày lên bàn bếp: “Anh không cần phải đếm. Đó là hai nghìn bảng anh yêu cầu ứng trước. Anh có thể lấy phần còn lại vào thứ Hai, sau khi anh đã nộp đơn từ chức.”

Alex chốt quyết định; nỗi sợ hãi đã áp đảo được lòng tham. Anh ta nhặt phong bì và bỏ vào một chiếc túi trong, nhưng không nói cảm ơn.

“Bố tôi bảo tôi nhắc anh rằng sau khi anh đã nộp đơn từ chức vào sáng thứ Sáu, ông mong anh sẵn sàng nói chuyện với báo chí.”

“Tất nhiên,” Fisher nói. “Ngay khi tôi nộp đơn cho bà Clifton xong” - anh ta vẫn thấy khó khăn khi gọi cô ấy là Chủ tịch - “Tôi sẽ gửi điện đi như chúng ta đã thống nhất, trở về nhà và được ngồi sẵn bên bàn làm việc của mình, đợi và trả lời bất kỳ cuộc gọi nào.”

“Tốt,” Diego nói khi ấm nước sôi. “Vậy, chúng tôi sẽ gặp lại anh vào chiều thứ Hai tại Phố Eaton, và nếu độ phủ tin về cuộc họp Đại hội đồng cổ đông trên báo chí triển vọng, hay tôi nên nói là không có lợi” - hắn ta mỉm cười - “anh sẽ nhận được nốt ba nghìn bảng còn lại.”

“Anh không dùng một tách cà phê sao?”

“Không. Tôi chỉ giao tiền và chuyển lời của bố tôi. Ông chỉ muốn chắc chắn là anh không đổi ý.”

“Chuyện gì có thể khiến ông ấy nghĩ là tôi dám làm thế chứ?”

“Tôi không biết,” Diego nói. “Nhưng nhớ này,” hắn ta thêm vào, nhìn kỹ bức ảnh con ả Kitty Parsons trên trang nhất tờ Điện báo đi nhé, bởi nếu có chuyện gì sai lệch, chính tôi sẽ là người lên chuyến tàu tiếp theo tới Bristol đấy.”

Sau khi Diego đi, Alex quay lại bàn làm việc, xé bỏ lá thư của ông Cedric Hardcastle và bỏ những mảnh vụn vào sọt giấy lộn. Không cần hồi âm, ông Hardcastle sẽ nhận được thông điệp vào thứ Sáu, khi ông ấy đọc đơn từ chức của anh trên báo chí toàn quốc.

Anh ta đãi mình một bữa trua tại Carwardine’s, và dành thời gian còn lại của buổi chiều để thanh toán bớt một vài khoản nợ nhỏ cho nhiều thương nhân địa phuơng khác nhau, một số món đã quá hạn thanh toán từ lâu. Khi trở về nhà, anh ta kiểm lại phong bì, thấy mình vẫn còn 1.265 bảng Anh, toàn tờ tiền 5 bảng mới cứng cựa, và 3.000 bảng nữa sẽ nhận được vào thứ Hai nếu báo chí tỏ ra quan tâm đến câu chuyện của anh. Anh nằm thao thức, nhẩm lại vài câu nói mà anh hy vọng có khả năng các nhà báo sẽ háo hức mong chờ. Tôi sợ rằng tàu Buckingham sẽ chìm ngay cả trước khi nó khởi hành hải trình đầu tiên. Việc bổ nhiệm một phụ nữ nắm giữ cuong vị chủ tịch là một canh bạc liều lĩnh và tôi không tin rằng công ty sẽ gượng dậy được sau đó. Tất nhiên là tôi đã bán hết cổ phiếu của mình rồi, thà chịu một lỗ rò bé còn hơn chịu đắm cả con tàu.

Sáng hôm sau, qua một đêm mất ngủ, Alex gọi điện cho văn phòng chủ tịch và hẹn gặp cô lúc mười giờ sáng thứ Sáu. Anh ta đã dành hết phần còn lại của ngày để băn khoăn liệu mình có quyết định đúng hay không, nhưng anh ta biết rằng nếu anh ta quay đầu ngay bây giờ, dù đã trót cầm tiền của tên cướp biển, người tiếp theo sẽ gõ cửa nhà anh ta sẽ là Karl, và hắn ta chắc không đến Bristol để giao nốt ba nghìn bảng kia.

Mặc dù vậy, Alex đang bắt đầu nghĩ rằng có lẽ anh ta đã mắc một sai lầm lớn nhất trong cuộc đời. Anh ta lẽ ra nên nghĩ tới toàn cục. Một khi, lá đơn từ chức được công khai trên bất kỳ tờ báo nào, cơ hội được mời làm việc như một ủy viên Hội đồng Quản trị sẽ không còn nữa.

Anh ta băn khoăn, phải chăng đã quá muộn để đổi ý. Nếu anh ta nói với ông Hardcastle mọi chuyện, liệu ông ấy có cho anh ta mượn một nghìn bảng tạm ứng, để anh ta có thể trả lại tiền đầy đủ cho Martinez hay không? Việc đầu tiên anh ta định làm vào sáng mai sẽ là gọi điện cho ông ấy. Anh đặt ấm nước lên, nhấn nút đài phát thanh. Anh ta không chú ý lắm, cho tới khi cái tên Kitty Parsons lọt vào tai. Anh vặn tiếng lớn lên để nghe phát thanh viên tin tức nói, “Một người phát ngôn cho công ty Đường sắt Anh xác nhận rằng cô Parsons đã chết trong đêm đó, hôn mê vĩnh viễn.”

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.