Sáng thứ Ba.
“Anh có quà cho em.”
“Để em đoán.”
“Không, em sẽ phải chờ mới biết.”
“À, ra là một món quà chờ-mới-biết.”
“Đúng, anh thừa nhận rằng anh chưa thực sự có nó nhưng...”
“Nhưng giờ khi mà anh đã tỏ đường đi lối về với em rồi, có khi nào phần chờ nhiều hơn phần biết không đấy?”
“Em nắm bắt được đấy. Nhưng để biện hộ cho mình, anh hy vọng sẽ có được nó trong hôm nay từ...”
“Hãng Tiffany”
“Chà, không, không phải...”
“Hãng Asprey?”
“Không chính xác.”
“Cartier?”
“Lựa chọn thứ hai thôi.”
“Và lựa chọn thứ nhất của anh là?”
“Hãng Bingham.”
“Bingham ở phố Bond?”
“Không, Bingham từ Grimsby.”
“Và hãng Bingham nổi tiếng về sản phẩm gì? Kim Cương? Lông thú? Nước hoa?” Cô hỏi đầy hy vọng.
“Pa-tê cá.”
“Một hay hai lọ?”
“Bắt đầu thì một lọ đã, vì anh còn phải xem mối quan hệ này có đi tới đâu không.”
“Em cho rằng cô bán hàng thất nghiệp chỉ có thể hy vọng bấy nhiêu thôi,” Samantha nói, khi cô leo ra khỏi giường. “Và hãy nghĩ xem, em đã mơ được trở thành một bà thủ quỹ.”
“Chuyện đó sẽ tới sau, khi mà anh đã trở thành chủ tịch ngân hàng.” Sebastian nói và đi theo cô vào buồng tắm.
“Em có lẽ không định chờ lâu đến thế,” Samantha nói khi cô bước chân tới vòi tắm hoa sen. Cô định kéo tấm rèm thì Sebastian vào trong cùng.
“Trong đây không đủ chỗ cho cả hai chúng ta,” cô nói.
“Em chưa từng ‘yêu’ dưới vòi hoa sen à?”
“Chờ mới biết.”
*
“Thiếu tá, anh thật tử tế khi dành thời gian đến gặp tôi.”
“Quá lời rồi, ông Hardcastle. Tôi đến London nhân có việc, nên mọi chuyện cũng khá tiện.”
“Tôi mời anh chút cà phê được chứ, anh bạn.”
“Đen, không đường, cảm ơn ông.” Fisher nói khi anh ta ngồi đối diện ở phía bên kia bàn chủ tịch.
Cedric nhấn một nút trên điện thoại của ông. “Cô Clough, hai cà phê đen, không đường, và có lẽ vài chiếc bánh quy. Một thời điểm hứng khởi, anh không nghĩ vậy sao, Fisher?”
“Cụ thể là ông đang nghĩ đến điều gì vậy?”
“Lễ đặt tên của tàu Buckingham do Nữ hoàng, Thái hoàng Điện hạ chủ trì tháng tới, đương nhiên rồi, và một chuyến du hành đầu tiên đưa cả công ty bước vào hẳn một kỷ nguyên mới.”
“Cũng hy vọng thế,” Fisher nói. “Mặc dù vẫn có vài rào cản phải vượt qua trước khi tôi hoàn toàn tin tưởng.”
“Đó chính xác là lí do tôi muốn nói đôi lời với anh, anh bạn ạ.”
Có tiếng gõ cửa khẽ, và cô Clough bước vào, mang theo một khay có hai cốc cà phê. Cô đặt một cốc trước mặt thiếu tá, cốc kia đặt tiếp phía bên chủ tịch, và một đĩa bánh Rascal giòn béo đặt giữa họ.
“Để tôi nói thẳng luôn là tôi thấy tiếc làm sao khi mà ông Martinez quyết định bán toàn bộ cổ phần trong công ty Barrington của ông ấy. Tôi băn khoăn liệu anh có thể soi sáng cho tôi biết có gì uẩn khúc sau quyết định đó không.”
Fisher đặt vội chiếc cốc vào tách, rớt ra vài giọt. “Tôi không rõ đâu,” anh ta lầm bầm.
“Tôi rất xin lỗi, Alex, tôi cứ tưởng rằng ông ta chắc phải nói qua cho anh trước khi ông ta tiến hành một quyết định không lấy lại được như thế chứ.”
“Chuyện đó xảy ra khi nào vậy?”
“Sáng hôm qua, sau khi sàn giao dịch mở cửa, đó là lí do tôi gọi cho anh.” Fisher trông như một con cáo hoảng hốt dưới ánh đèn pha của một chiếc xe hơi đang lao tới. “Anh thấy đấy, có vài điều tôi muốn bàn bạc với anh.” Fisher vẫn im lặng, được thể, ông Cedric nói xa xôi thêm một chút. “Tôi sắp sáu mươi lăm vào tháng Mười, và mặc dù tôi không định nghỉ hưu ở cương vị chủ tịch ngân hàng, tôi thực sự có ý định từ bỏ vài mối quan tâm bên ngoài của mình, trong đó có quyền giám đốc của công ty Barrington.” Fisher quên mất cà phê của anh ta và lắng nghe chăm chú từng lời của Cedric. “Với suy nghĩ đó, tôi đã quyết định từ chức khỏi Hội đồng Quản trị và nhường đường cho một người trẻ tuổi hơn.”
“Tôi rất tiếc khi nghe thấy thế,” Fisher nói. “Tôi luôn nghĩ rằng ông mang theo tới cuộc thảo luận của chúng ta sự thông thái và chuẩn mực (gravitas).”
“Anh thật tử tế khi nói vậy, và thực sự, đó là lí do tôi muốn gặp anh.” Fisher mỉm cười, băn khoăn liệu điều này có thể nào xảy ra không...” Tôi đã quan sát anh tỉ mỉ trong hơn năm năm, anh Alex ạ, và điều mà tôi ấn tượng nhất chính là sự ủng hộ trung thành của anh đối với chủ tịch của chúng ta, đặc biệt còn nhớ rằng anh từng tranh đấu vị trí đó với cô ấy, cô ấy chỉ đánh bại anh nhờ vào quyền biểu quyết quyết định của cựu chủ tịch mà thôi.”
“Con người ta không được để cảm xúc cá nhân ảnh hưởng tới quyết định nào có lợi nhất cho công ty.”
“Tôi không thể nào làm được tốt hơn, anh Alex ạ, đó là lí do tôi hy vọng tôi có thể thuyết phục anh thay vị trí của tôi trong Hội đồng Quản trị hiện thời bởi vì bây giờ anh không còn đại diện cho quyền lợi của ông Martinez nữa.”
“Thật là một đề nghị hào hiệp, ông Cedic ạ.”
“Không, quyết định đó thực sự khá ích kỷ, bởi vì nếu anh cảm thấy có thể làm vậy, chuyện đó có lẽ sẽ góp phần ổn định hoạt động và tiếp tục phát triển cho cả công ty Barrington và ngân hàng Farthings.”
“Vâng, tôi có thể nhận thấy điều đó.”
“Ngoài số tiền một nghìn bảng một năm mà anh hiện đang được nhận khi giữ vị trí giám đốc, Farthings sẽ trả cho anh một nghìn bảng nữa để đại diện cho lợi ích của ngân hàng. Sau cùng, tôi sẽ cần anh báo cáo lại đầy đủ sau mỗi cuộc họp Hội đồng Quản trị, như vậy anh sẽ phải đến London và ở lại qua đêm. Tất nhiên, mọi chi phí sẽ do ngân hàng chi trả.”
“Ông là người hào phóng nhất đấy, Cedric, nhưng tôi cần suy nghĩ một chút về chuyện này,” Thiếu tá nói, rõ ràng đang giằng xé với một vấn đề nào đó.
“Tất nhiên là anh phải suy nghĩ rồi,” Cedric nói, nắm quá rõ đó là vấn đề gì.
“Khi nào ông cần biết quyết định của tôi?”
“Cuối tuần. Tôi muốn sắp xếp xong chuyện này trước cuộc họp Đại hội đồng cổ đông trong thứ Hai tới. Ban đầu, tôi định bảo con trai tôi, Arnold thay vị trí của tôi, nhưng rồi tôi nhận thấy có lẽ anh có thể thay tôi được.”
“Tôi sẽ cho báo cho ông trước thứ Sáu.”
“Anh tốt quá. Alex. Tôi sẽ viết thư xác nhận lời đề nghị ngay lập tức và gửi bưu điện ngay tối nay.”
“Cảm ơn ông Cedric. Tôi chắc chắn sẽ cân nhắc đề nghị này thấu suốt.”
“Thế thì còn gì bằng. Giờ tôi sẽ không giữ chân anh nữa, bởi vì tôi vẫn nhớ anh còn có một cuộc họp ở Westminter.”
“Quả thực là vậy,” Fisher nói, từ từ đứng dậy và bắt tay ông Cedric, và được ông Cedric tiễn ra tận cửa.
Cedric quay lại bàn làm việc của mình, ngồi xuống và bắt đầu viết thư xác nhận cho Thiếu tá, băn khoăn không biết đề nghị của ông đối với anh ta có “béo bở” hơn đề nghị mà Martinez chắc chắn sẽ đua ra hay không?
*
Chiếc Rolls-Royce đỏ đỗ lại bên ngoài phòng trưng bày của ông Agnew. Don Pedro bước ra vỉa hè và nhìn vào cửa sổ, thấy bức chân dung toàn thân bà Kathleen Newton, tình nhân xinh đẹp của danh họa Tissot. Ông ta đã mỉm cười khi nhìn thấy chấm đỏ.
Khuôn mặt ông ta thậm chí còn nở một nụ cười rạng rỡ hơn sau khi ông ta bước vào phòng triển lãm. Không phải được nhìn thấy quá nhiều những bức họa và tượng điêu khắc tuyệt đẹp mà ông mỉm cười, mà chính là nhìn thấy vô số các chấm đỏ bên rìa của chúng.
“Tôi có thể giúp gì cho ông không, thưa ông?” Một phụ nữ trung tuổi hỏi.
Don Pedro tự hỏi không biết đã có chuyện gì với cô gái trẻ xinh đẹp đã tiếp ông khi ông đến ghé phòng trưng bày lần trước.
“Tôi muốn nói chuyện với ông Agnew.”
“Tôi không chắc liệu ông ấy có sẵn sàng vào lúc này hay chưa. Có lẽ tôi có thể hỗ trợ ông chăng.”
Don Pedro nói: “Ông ấy sẽ sẵn sàng với tôi. Dù sao, đây cũng là buổi trưng bày của tôi,” ông ta nói thêm, giơ hai cánh tay lên cao như thể đang ban phước cho một hội nhóm người sùng đạo.
Cô trợ lý nhanh chóng lùi lại, không nói thêm một lời nào, gõ cửa văn phòng ông Agnew và biến mất vào bên trong. Chỉ một lát sau, chủ nhân phòng tranh xuất hiện.
“Chào buổi chiều, ông Martinez,” ông ấy nói với cung cách khách sáo, kiểu cách vốn là đặc tính dè dặt của người Anh mà Don Pedro không ưa nổi.
“Tôi có thể thấy việc bán tranh thuận lợi thế nào, nhưng ông đã bán được bao nhiêu, tính đến thời điểm này rồi.”
“Tôi băn khoăn liệu chúng ta có thể vào văn phòng của tôi cho riêng tư hơn chút không nhỉ?”
Don Pedro vừa đi theo ông Agnew qua phòng trưng bày, vừa đếm các chấm đỏ, nhưng phải đợi cho đến khi cửa văn phòng đóng lại, mới nhắc lại câu hỏi của ông ta.
“Ông đã bán được bao nhiêu, tính đến thời điểm này rồi?”
“Hơn 170.000 bảng trong đêm mở đầu và sáng nay một quý ông đã gọi để giữ thêm hai tác phẩm nữa, Bonnard và Utrillo, mang về cho chúng ta thêm hơn 200.000 bảng. Chúng ta có một cuộc gọi hỏi hàng từ Phòng Triển lãm Nghệ thuật Quốc gia cho bức Raphael.”
“Tốt, bởi vì tôi cần ngay một trăm nghìn bảng.”
“Tôi e rằng, chưa thể đáp ứng được yêu cầu này, ông Martinez ạ.”
“Tại sao? Đó là tiền của tôi mà.”
“Tôi đã cố liên lạc với ông vài ngày nay, nhưng ông đi săn mãi tận Scotland.”
“Tại sao tôi lại không được lấy tiền của mình?” Marinez căn vặn, giọng ông ta giờ đang dọa dẫm.
“Thứ Sáu tuần trước, chúng tôi đã tiếp một chuyến ghé thăm của ông Ledbury từ ngân hàng Midland, St James’s. Ông ta đi cùng với luật sư riêng của ngân hàng, và luật sư đã yêu cầu chúng tôi thanh toán mọi khoản thu được trong dịp bán hàng này trực tiếp cho ngân hàng.”
“Anh ta không có quyền làm thế. Bộ sưu tập này thuộc về tôi.”
“Họ trình ra các tài liệu pháp lý cho thấy ông đã ký gửi tất cả bộ sưu tập, có danh mục liệt kê từng món chi tiết, như tài sản đảm bảo cho một khoản vay thỏa thuận.”
“Nhưng, tôi đã thanh toán hết khoản vay đó, hôm qua rồi.”
“Luật sư đó đã trở lại ngay đầu giờ mở cửa tối hôm qua, mang theo lệnh của tòa án, ngăn cấm tôi chuyển tiền cho bất kỳ ai khác ngoài ngân hàng. Tôi cảm thấy tôi phải nói rõ cho ông, ông Martinez ạ, rằng đây không phải là cung cách chúng tôi muốn giao dịch tại phòng triển lãm nghệ thuật Agnew.
“Tôi sẽ lĩnh giấy xác nhận hết nợ ngay lập tức. Khi tôi quay về đây, tôi mong ông đã chuẩn bị sẵn séc một trăm nghìn bảng cho tôi.”
“Tôi mong gặp lại ông sau, ông Martinez.”
Don Pedro rời phòng trưng bày mà không bắt tay hay thốt ra thêm từ nào nữa. Ông ta đi nhanh về hướng ngân hàng St James’s, chiếc Rolls-Royce chạy phía sau, cách vài thước. Khi đến ngân hàng, ông ta sải bước và đi thẳng đến văn phòng giám đốc trước khi bất kỳ người nào có cơ hội hỏi ông ta là ai, hoặc ông ta muốn gặp ai. Đến cuối hành lang, ông ta không gõ cửa mà xông thẳng vào, thấy Ledbury đang ngồi sau bàn làm việc, đang đọc cho một thư ký ghi chép.
“Chào buổi chiều, ông Martinez,” Ledbury nói, gần như thể anh đang đợi ông ta.
“Ra ngoài đi,” Don Pedro nói, chỉ tay vào thư ký, cô nhanh chóng rời khỏi phòng mà thậm chí không hề liếc nhìn giám đốc.
“Anh nghĩ đang đang chơi trò gì vậy, anh Ledbury?” Tôi tới đây thẳng từ phòng triển lãm của ông Agnew. Họ từ chối giao bất kỳ khoản tiền thu được từ bộ sưu tập nghệ thuật của tôi và bảo rằng anh sẽ kiện họ nếu họ làm thế.”
“Tôi e rằng, nó không còn lại bộ sưu tập của ông nữa,” Ledbury nói, “và chuyện đã xảy ra được một thời gian khá lâu rồi. Ông rõ ràng đã quên rằng ông đã chuyển nhượng bộ sưu tập nghệ thuật cho ngân hàng sau khi chúng tôi nâng cao mức thấu chi của ông thêm một lần nữa.” Anh ta mở khóa ngăn kéo bàn trên cùng của một chiếc tủ hộc màu xanh lá và lấy ra một tệp tài liệu.
“Nhưng còn tiền thu được từ việc bán cổ phiếu Barrington thì sao? Con số đó phải hơn ba triệu.”
“Số tiền đó vẫn để lại một khoản thấu chi cho ông...” anh ta lập qua vài trang tệp tài liệu... “là 772,450 bảng vào lúc hết giờ làm việc tối qua. Để không làm ông rơi vào tình huống ngượng ngùng thêm lần nữa, tôi xin được nhắc nhở ông rằng gần đây ông cũng ký một thư bảo đảm cá nhân, gộp cả nhà riêng của ông tại đất nước này và căn số 44 phố Eaton. Và tôi phải tư vấn cho ông rằng, nếu bán bộ sưu tập nghệ thuật của ông mà vẫn không đủ trang trải hết khoản thấu chi đó, chúng tôi sẽ hỏi xem ông muốn xử lý tài sản nào trong số đó trước.”
“Anh không thể làm thế.”
“Tôi có thể, ông Martinez ạ, và nếu cần thiết, tôi sẽ làm. Và lần sau, nếu ông muốn gặp tôi,” Ledbury nói khi anh bước tới cửa phòng, “có lẽ ông nên nhã nhặn đặt hẹn qua thư ký của tôi trước. Để tôi nhắc ông, đây là ngân hàng, không phải một sòng bạc.” Anh mở cửa phòng. “Chúc một ngày tốt lành, thưa ông.”
Martinez lách ra khỏi văn phòng giám đốc, xuôi hành lang, băng qua đại sảnh ngân hàng và lại ra ngoài đường, để tìm chiếc Rolls-Royce đậu bên ngoài đang chờ ông ấy. Ông ta thậm chí còn tự hỏi liệu mình có còn sở hữu chiếc xe đó hay không.
“Đưa tôi về nhà,” ông ta nói.
Khi họ tới đầu đường St Jame’s, chiếc Rolls-Royce rẽ trái, xuôi đường Picadilly và đi qua ga Green Park, bắt đầu từ chỗ đó, dòng người hiện dần ra. Trong số họ, có một nam thanh niên đang băng qua đường, rẽ trái và nhắm thẳng hướng đường Albemarle.
Lần thứ ba, Sebastian tới phòng tranh Agnew trong chưa đầy một tuần, cậu chỉ định tạt qua một lát để lấy bức tranh của Jessica. Cậu đã có thể mang theo bức tranh luôn vào hôm cảnh sát áp tải cậu quay lại phòng tranh nhưng cậu đã quá rối bời khi nghĩ đến Sam đang bị nhốt trong phòng giam.
Lần này, cậu cũng bị phân tâm nữa, không phải vì nghĩ tới cách giải cứu “hồng nhan lâm nguy” mà bởi sự tuyệt mỹ của các tác phẩm được trưng bày. Cậu dừng lại chiêm ngưỡng bức La Madonna de Bogotá của danh họa Raphael mà cậu từng sở hữu trong vài giờ chóng vánh và cố gắng tưởng tượng ra cảm giác viết một tấm séc 100.000 bảng sẽ ra sao khi biết chắc tấm séc sẽ không bị trả lại.
Cậu buồn cười khi thấy bức tượng Người suy tư của Rodin đó được đề giá 150.000 bảng. Cậu nhớ rất rõ rằng Don Pedro đã mua nó tại Sotheby’s với giá 120.000 bảng, mức giá kỷ lục cho tượng của Rodin vào thời điểm đó. Nhưng lúc đó, Don Pedro đang ảo tưởng rằng bức tượng chứa tám triệu bảng toàn tờ năm bảng giả. Đó cũng là căn nguyên mọi tai họa của Sebastian.
“Chào mừng cậu quay lại, cậu Clifton.”
“Cháu lại mắc lỗi rồi, cháu e rằng vậy. Cháu đã quên mang theo bức tranh của em gái mình.”
“Quả thực thế. Tôi vừa bảo trợ lý của tôi lấy nó.”
“Cảm ơn ông, thưa ông.” Sebastian nói khi người thay vị trí của Sam xuất hiện cùng với một gói hàng cồng kềnh và trao cho ông Agnew. Ông ấy kiểm tra nhãn đôi chút trước khi trao bức tranh cho Sebastian.
“Cũng hy vọng lần này không phải là một bức Rembrandt,” Sebastian nói, không thể kìm được một nụ cười nhếch mép. Cả ông Agnew và cô trợ lý đều không cười đáp lại cậu. Thực tế, tất cả những gì mà ông Agnew nói là, “và đừng quên thỏa thuận của chúng ta đấy nhé.”
“Nếu cháu không bán một bức tranh mà tặng nó cho ai đó như một món quà, cháu có bị coi là phá vỡ thỏa thuận không?”
“Ai mà lại khiến cậu nảy ra ý tặng tranh này vậy?”
“Sam. Một cách để cháu nói lời xin lỗi.”
“Tôi không phản đối chuyện đó,” ông Agnew nói. “Cũng giống như cậu, tôi cảm thấy chắc chắn cô Sullivan sẽ không bao giờ nghĩ đến chuyện bán nó đi.”
“Cảm ơn ông, thưa ông.” Sebastian trả lời. Rồi, nhìn vào bức tranh của Raphael, cậu nói, “Cháu sẽ sở hữu bức đó, một ngày nào đó.”
“Tôi hy vọng thế,” ông Agnew nói, “bởi vì, có như vậy, chúng tôi mới kiếm được tiền chứ.”
Khi Sebastian rời phòng trung bày, hôm đó đúng là một buổi tối dễ chịu đến nỗi cậu quyết định đi bộ tới Pimlimco để cậu có thể trao cho Sam món quà chờ-mới-biết của cô ấy. Lúc cậu sải bước qua Công viên St James’s, cậu nghĩ về chuyến đi tới Grimsby đầu ngày hôm đó. Cậu quý ông Bingham. Cậu thích nhà máy của ông ấy những gì mà ông Cedric gọi là người thật làm việc thật.
Ông Bingham chỉ mất năm phút để ký tất cả các chứng nhận chuyển nhượng cổ phiếu, và thêm ba mươi phút nữa để họ ngấu nghiến hết hai phần cá và khoai tây chiên tuyệt nhất vũ trụ, không tính đến phiên bản chương trình Điện Báo Tối Grimsby hôm qua. Trước khi cậu rời Grimsby, ông Bingham đã đưa cho cậu một lọ pa-tê cá và lời mời ở lại qua đêm tại Mablehorpe Hall.
“Ông tốt quá, thưa ông, nhưng ông Hardcastle đang mong tôi đặt những chứng nhận này trên bàn ông ấy vào cuối giờ làm việc tối nay.”
“Cũng phải, nhưng tôi có cảm giác chúng ta sẽ gặp nhau nhiều hơn từ bây giờ, khi tôi đã tham gia vào Hội đồng Quản trị công ty Barrington.”
“Ông sẽ tham gia Hội đồng Quản trị ư, thưa ông?”
“Đó là một câu chuyện dài. Tôi sẽ kể với cậu tất cả khi tôi biết rõ về cậu hơn.”
Chính lúc đó, Sebastian nhận ra Bob Bingham là người đàn ông bí ẩn không được phép đề cập đến cho tới khi vụ giao dịch đã đóng lại.
Cậu nóng lòng muốn trao ngay món quà cho Sam. Khi cậu tới bên ngoài khu chung cư của cô ấy, cậu mở cửa trước bằng chìa khóa mà cô đã đưa cho mình sáng nay.
Một người đàn ông ẩn mình trong bóng tối ở bên kia đường đã ghi chú lại địa chỉ đó. Bởi vì gã Clifton này đã vào nhà bằng chìa khóa riêng nên hắn chắc rằng đây phải là nơi gã Clifton này đang sống. Trong bữa tối, hắn sẽ nói cho cha mình biết ai là người đã mua cổ phiếu Barrington, tên của ngân hàng Yorkshire đứng ra giao dịch và nơi Sebastian Clifton đang sống. Thậm chí cả món mà gã Clifton đó đã ăn trong bữa trưa. Hắn vẫy một chiếc taxi và yêu cầu được đưa về phố Eaton.
“Dừng lại!” Luis gào lên khi nhìn thấy tấm áp phích. Hắn nhảy ra khỏi xe taxi, chạy tới chỗ cậu bé bán báo và chộp lấy một bản Tin tức buổi tối London. Hắn đọc tiêu đề “Người phụ nữ nhảy khỏi tàu The Night Scotsman bị hôn mê” và mỉm cười trước khi quay trở lại taxi. Rõ ràng là kẻ nào đó khác cũng đã thực hiện xong mệnh lệnh của cha mình rồi.