“Không buộc tội được ai hết?” Chủ tịch nói.
“Có lẽ vậy, nhưng có vẻ như chúng ta đang vướng vào hết cái đận này đến cái đận khác, theo một cách không thể lí giải được.” Emma nói. Cô bắt đầu đọc to danh sách dài trước mặt. “Một trận hỏa hoạn trong khu đóng tàu khiến việc đóng tàu bị đình trệ vài ngày; một nồi hơi bung đai như thể bị dỡ ra và nằm dưới chân bến cảng; một trận ngộ độc thực phẩm khiến bảy mươi ba thợ điện, thợ ống nước, thợ hàn phải nhập viện; một cuộc đình công bởi bất ổn tài chính doanh nghiệp,...”
“Điểm mấu chốt là gì vậy, Chủ tịch?” Thiếu tá Fisher hỏi.
“Chúng ta đang bị trễ tiến độ khá nhiều.” Buchanan trả lời. “Giai đoạn một không thể nào hoàn thành vào cuối năm nay. Nếu mọi chuyện cứ như thế này, chúng ta không có nhiều hi vọng giữ được tiến độ theo kế hoạch ban đầu.”
“Vậy hậu quả về mặt tài chính kéo theo do chậm tiến độ thì sao?” Viên Đô đốc hỏi.
Michael Carick, Giám đốc Tài chính công ty, soát lại các con số. “Đến nay, khoản bội chi đã lên tới 312 nghìn bảng.”
“Chúng ta có khả năng trang trải chi phí phụ trội từ vốn dự trữ của công ty không, hay chúng ta phải viện đến vài khoản vay ngắn hạn?” Dobbs hỏi.
“Chúng ta vẫn còn dư sau khi trang trải khoản thâm hụt đầu tiên bằng nguồn vốn của mình.” Carrick nói. “Nhưng chúng ta sẽ phải làm mọi điều có thể trong khả năng để bù cho khoảng thời gian thua lỗ trong những tháng tới.”
“Trong khả năng”, Emma đã viết trên tập giấy trước mặt cô ấy.
“Có lẽ sẽ là khôn ngoan trong tình huống này,” Chủ tịch nói, “nếu hoãn công bố bất kỳ thông tin nào về ngày tàu hạ thủy, khi mà nhiều khả năng chúng ta sẽ phải điều chỉnh lại những dự đoán ban đầu, cả về kế hoạch tài chính và tiến độ.”
“Khi ông còn là Phó Chủ tịch của P&O,” Knowles nói, “ông đã từng trải qua các vấn đề như thế này chưa? Phải chăng những gì mà chúng ta đang phải trải qua là bất thường?”
“Trường hợp đặc biệt, thực tế là tôi chưa từng trải qua bất cứ chuyện gì như thế này trước đây,” Buchannan thừa nhận. “Lần đóng tàu nào cũng bị đình đốn hay xảy ra chuyện ngoài dự kiến nhưng thường thì mọi việc đều tự hóa giải theo thời gian.”
“Hợp đồng bảo hiểm của chúng ta có hỗ trợ được bất kỳ vấn đề nào trong này không?”
“Chúng ta có thể yêu cầu bảo hiểm cho vài hạng mục,” Dixon nói, “nhưng công ty bảo hiểm luôn áp giới hạn và trong một vài trường hợp, chúng ta đã vượt quá rồi.”
“Nhưng chắc chắn là những vụ đình trệ này là trách nhiệm trực tiếp của Harland & Wolff rồi,” Emma nói, “thế nên chúng ta có thể viện dẫn những điêu khoản phạt liên quan trong hợp đồng.”
“Chuyện đó mà dễ dàng vậy thì thật tốt, bà Clifton ạ,” chủ tịch nói, “nhưng Harland & Wolff đang đấu tranh với từng khiếu nại của chúng ta, biện luận rằng họ không có trách nhiệm trực tiếp cho từng đợt đình trệ. Đúng là một trận chiến của các luật sư, chỉ tổ tiêu thêm tiền của chúng ta thôi.”
“Ông có thấy xu hướng đang diễn biến ngày càng tăng không chủ tịch?”
“Tôi không chắc là tôi hiểu điều anh đang nói, Đô đốc ạ.”
“Thiết bị điện lỗi từ một công ty đáng tin cậy ở Liverpool, một chiếc nồi hơi lăn xuống tận bến cảng khi đang được dỡ xuống từ một tàu buôn Glasgow, nhiều công nhân của chúng ta bị ngộ độc thực phẩm. Nhưng chứng ngộ độc không lan sang bất kỳ bộ phận nào khác của xưởng đóng tàu mặc dù thực phẩm do cùng một nhà thầu suất ăn từ Belfast cung cấp?”
“Anh đang ngụ ý điều gì?”
“Theo tôi thấy rằng đang có quá nhiều sự trùng họp khi tất cả xảy ra cùng một thời điểm mà IRA sắp bắt dầu phô trương sức mạnh.”
“Đó thực sự là một phát hiện của anh đấy.” Knowles nói.
“Có thể là tôi đã quá chú tâm vào điểm đó,” Đô đốc thừa nhận, “Nhưng khi mà tôi được sinh ra ở County Mayo, với một người cha theo đạo Tin Lành và một người mẹ theo Công giáo La Mã, thì có lẽ chuyện đó cũng như một hệ quả tất yếu thôi.” Emma liếc qua bàn, thấy Fisher đang viết vội vã những dòng ghi chú một cách bực bội nhưng anh ta đã đặt bút xuống ngay khi nhận thấy cô đang để ý. Cô biết rằng Fisher không phải là người Công giáo, và cả Don Pedro Martinez cũng vậy, chỉ có một tín ngưỡng là sự tư lợi. Sau tất cả, ông ta sẵn lòng bán vũ khí cho quân Đức trong suốt cuộc chiến, vậy thì làm sao mà ông ta lại không bắt tay với IRA nếu chuyện đó có lợi cho mục đích của ông ta cho được.”
“Cứ hi vọng tôi có thể đưa ra một báo cáo tích cực hơn khi nào chúng ta gặp lại nhau vào tháng tới,” chủ tịch nói, có vẻ như cũng không tin chắc lắm.
Sau khi cuộc họp giải tán, Emma sửng sốt thấy Fisher vội vã rời khỏi phòng mà không chào ai một câu nào; một sự ngẫu nhiên khác theo như viên Đô đốc đã đề cập chăng?
“Tôi có thể nói với cô chút chuyện này không, Emma?” Buchanan hỏi.
“Chủ tịch, tôi sẽ quay lại ngay.” Emma nói, trước khi đi theo Fisher ra ngoài hành lang, thoáng thấy anh ta biến mất dưới cầu thang. Sao anh ta không chờ thang máy? Cô bước vào trong và nhấn nút G. Khi cửa trượt mở ra trên tầng trệt, cô không bước ra ngoài ngay, mà quan sát Fisher đẩy cửa xoay, đi ra khỏi tòa nhà. Ngay khi cô ra tới cửa, Fisher đã vào trong xe của hắn rồi. Cô vẫn ở trong tòa nhà và dõi theo khi anh ta lái xe về phía cổng trước. Trước sự ngỡ ngàng của cô, anh ta rẽ trái về hướng xưởng đóng tàu chứ không phải về hướng Bristol.
Emma đẩy cửa mở ra và chạy tới xe của mình. Khi cô ra đến cổng trước, cô nhìn sang trái và xác định xe của Thiếu tá ở đằng xa. Cô vừa định đi theo anh ta thì một chiếc xe tải chạy qua trước mặt cô. Cô nguyền rủa, rẽ trái và nép vào đằng sau nó. Dòng phương tiện ngược chiều khiến cô không thể vượt lên được. Cô mới chỉ đi khoảng nửa dặm thì phát hiện xe của Fisher đậu ở phía trước Nhà hàng Lord Nelson. Khi cô đến gần hơn, cô nhìn thấy Thiếu tá đang đứng quay số trong bốt điện thoại bên ngoài quán rượu.
Cô vẫn chạy sau chiếc xe tải và tiếp tục như thế cho đến khi không còn nhìn thấy bốt điện thoại trong gương chiếu hậu. Sau đó, cô quay xe lại và đi từ từ về phía sau, cho đến khi bốt điện thoại xuất hiện trong tầm mắt. Cô tấp xe vào lề đường, nhưng vẫn để máy nổ. Không lâu sau, Thiếu tá bước ra khỏi bốt điện thoại, vào lại trong xe của anh ta và lái đi. Cô không đi theo anh ta nữa, mà chỉ nhìn theo cho tới khi anh ta mất dạng trong tầm mắt. Dù sao, cô cũng đã biết chính xác nơi mà anh sẽ đến rồi.
Một vài phút sau, khi Emma lái xe về qua cổng của xưởng đóng tàu, cô không hề ngạc nhiên thấy chiếc xe của Thiếu tá đậu ở vị trí thông thường của nó. Cô đi thang máy lên tầng bốn và tới thẳng phòng ăn. Một số giám đốc, bao gồm cả Fisher, đang đứng bên một chiếc bàn dài và tham gia một bữa tiệc đứng. Emma lấy một cái đĩa và tham gia cùng họ, trước khi ngồi xuống bên cạnh chủ tịch. “Ông có chuyện gì muốn nói phải không Ross?”
“Vâng. Có chút chuyện chúng ta cần thảo luận khá gấp.”
“Không phải bây giờ,” Emma nói khi Fisher ngồi vào ghế đối diện với cô.
*
“Đại tá, chuyện này nên là chuyện quan trọng hơn bởi vì tôi chỉ vừa mới ra khỏi cuộc họp cùng Chủ tịch Nghị viện.”
“Martinez có một tài xế mới.”
“Và?” Thư ký Nghị viện nói.
“Anh ta từng là tay đòi nợ thuê của Liam Doherty.”
“Chỉ huy IRA ở Belfast?”
“Chính xác.”
“Tên hắn là gì?” Sir Alan hỏi, đoạn đưa tay cầm một cây bút chì lên.
“Kevin Rafferty, biệt danh là Bốn Ngón.”
“Tại sao vậy?”
“Một người lính Anh đã hơi quá tay trong khi thẩm vấn, tôi nghe nói vậy.”
“Vậy thì anh sẽ cần tìm một người khác trong đội của mình.”
*
“Trước giờ tôi chưa từng uống trà trong phòng Palm Court.” Buchanan nói.
“Mẹ chồng tôi, bà Maisie Holcombe, từng làm việc trong Khách sạn Hoàng gia.” Emma giải thích. “Tuy nhiên, trong những ngày đó, bà không cho Harry hoặc tôi đến đó. Bà thường nói như thế là hết sức thiếu chuyên nghiệp.”
Ross nói: “Thêm một người phụ nữ đi trước thời đại của mình rất xa.”
“Ông mới chỉ biết một nửa thôi,” Emma nói, “nhưng để tôi kể chuyện về Maisie vào dịp khác. Đầu tiên, tôi phải xin lỗi vì đã không muốn nói chuyện với ông trong bữa trưa, hoặc ít nhất là không trong khi Fisher có thể nghe lén.”
“Cô không nghi ngờ anh ta có dính dáng chút nào đến các vấn đề hiện tại của chúng ta đấy chứ?”
“Không hẳn vậy. Thực tế, tôi thậm chí còn bắt đầu nghĩ rằng có thể anh ta đã cải tà quy chính, cho đến sáng hôm nay.”
“Nhưng anh ta gần như đã hỗ trợ hết mình trong những cuộc họp Hội đồng.”
“Tôi đồng ý. Cho đến tận sáng nay khi tôi phát hiện ra lòng trung thành của anh ta thực sự đặt vào đâu.”
“Tôi không hiểu lắm.” Ross nói.
“Ông có nhớ, vào cuối cuộc họp, ông đã ngỏ lời muốn nói chuyện với tôi, nhưng tôi đã phải lẩn đi không?”
“Có, nhưng chuyện đó liên quan gì tới Fisher vậy?”
“Tôi đi theo anh ta và phát hiện ra anh ta bỏ ra ngoài là để gọi điện thoại.”
“Thì cũng như một vài người khác của chúng ta thường làm vậy.”
“Rõ ràng thế, nhưng họ gọi điện ngay trong cơ sở. Còn Fisher ra khỏi tòa nhà, lái xe theo hướng xưởng đóng tàu và gọi đi từ một bốt điện thoại bên ngoài quán rượu tên là Lord Nelson.”
“Tôi không chắc mình biết chỗ đó không.”
“Có thể đó là lí do mà anh ta chọn nơi đó. Cuộc gọi chỉ kéo dài hơn đôi phút và anh ta quay lại tòa Barrington đúng vào giờ ăn trưa trước khi bất kỳ ai kịp để ý tới sự vắng mặt của anh ta.”
“Tôi băn khoăn không hiểu sao anh ta lại phải giấu giếm về cái người mà anh ta gọi điện tới?”
“Bởi vì giống như điều gì đó mà Đô đốc đã nói, anh ta phải báo cáo ngay cho người chống lưng của anh ta và không thể mạo hiểm để người khác nghe lén được.”
“Chắc chắn cô không tin Fisher dính dáng theo bất kỳ cách nào đó tới IRA đâu nhỉ?”
“Fisher ư, không đâu, nhưng Don Pedro Martinez thì có đấy.”
“Don Pedro gì cơ?”
“Tôi nghĩ đến lúc phải cho ông biết về người mà Thiếu tá Fisher đang thay mặt, con trai tôi Sebastian đã vướng vào ông ta thế nào, và tầm quan trọng của bức tượng Rodin tên là Người suy tư nữa. Rồi sau đó ông sẽ bắt đầu hiểu chúng ta đang phải đối mặt với cái gì?”
*
Ba người đàn ông lên phà Heysham đi Belfast lúc tối muộn ngày hôm đó. Một người mang theo túi dụng cụ, một người mang theo va-li, người khác nữa đi tay không. Họ không phải bạn bè, cũng chẳng phải người quen của nhau. Thực tế, chỉ có các kỹ năng đặc biệt và niềm tin của họ mang họ đến với nhau.
Hành trình tới Belfast mất khoảng tám giờ đồng hồ; trong suốt thời gian đó, hầu hết hành khách đều cố ngủ một chút, nhưng chỉ trừ ba người đàn ông này. Họ đi tới quầy bar, mua ba vại bia Guinness và tìm chỗ ngồi trên boong cao nhất. Tận hưởng từng hớp bia trong những cuộc hành trình cũng là một điểm chung giữa bọn họ.
Họ thống nhất rằng thời điểm tốt nhất để thực hiện phi vụ rơi vào khoảng ba giờ sáng, khi gần như tất cả các hành khách khác đang ngủ, say xỉn hoặc không hơi sức đâu mà màng tới chuyện thiên hạ nữa. Đến đúng giờ hẹn, một trong số họ sẽ tách nhóm, bước qua sợi xích có treo biển cảnh báo CHỈ DÀNH CHO THỦY THỦ ĐOÀN và âm thầm đi theo cầu thang từ boong tàu xuống khoang hàng hóa. Người đàn ông lọt thỏm giữa đống thùng lớn xung quanh, nhưng không khó khăn gì để anh ta xác định được bốn chiếc thùng mà gã đang tìm kiếm. Dù gì thì chúng cũng được dán nhãn Harland & Wolff một cách rõ ràng. Bằng một chiếc búa có mấu kẹp, gã vặn lỏng đinh ốc trên mặt khuất của bốn cái thùng đó, một trăm mười sáu chiếc tất cả. Bốn mươi phút sau, anh ta trở lại nhóm và thông báo với đồng đội của mình rằng mọi thứ đã sẵn sàng. Không thêm một lời nào, hai người còn lại đi xuống khoang hàng hóa.
Người to con hơn trong hai người có đôi tai súp lơ 14 và cái mũi gãy nhìn như thể một cựu võ sĩ quyền anh hạng nặng, mà có lẽ thế thật. Anh ta gỡ bỏ đinh ra khỏi cái hộp đầu tiên, rồi xé dọc những nan gỗ của chiếc thùng để những bảng mạch điện bao gồm hàng trăm sợi dây màu xanh da trời, xanh lá, đỏ lộ ra. Nó được dự định để gắn vào đài chỉ huy của con tàu MV Buckingham và được thiết kế để thuyền trưởng giữ liên lạc với các bộ phận khác của con tàu, từ phòng máy tới bếp nấu ăn trên tàu. Một nhóm các kỹ sư điện tầm chuyên gia phải mất năm tháng, mới cấu tạo nên bộ phận máy quan trọng này. Nhưng chỉ mất hai mươi bảy phút để một Tiến sĩ Vật lý trẻ tuổi từ Đại học Queen ở Belfast cùng cặp kìm tháo rời hết cả. Anh ta đứng lên, ngưỡng mộ thành quả công việc của mình nhưng chỉ chớp mắt sau, tay võ sĩ đã xô nan gỗ bên sườn chiếc thùng thưa vào vị trí cũ. Sau khi kiểm tra thấy bọn chúng vẫn chỉ có một mình, anh ta tiếp tục xử lý thùng thứ hai.
Thiết bị trong chiếc thùng bao gồm hai chân vịt đồng được một đội chuyên gia từ Durham chế tác tỉ mỉ. Nhóm chuyên gia đã mất tới sáu tuần để chế tác và họ có quyền tự hào về thành phẩm. Gã tiến sĩ mở chiếc cặp xách mang theo, lấy ra một chai a-xít ni-trich, mở nút và rót thứ đựng bên trong vào đường rãnh của những cánh quạt. Khi chiếc thùng này được mở ra vào buổi sáng, thứ mà người ta nhìn thấy sẽ chỉ còn là thứ phế liệu cần phải vứt bỏ.
Những gì chứa trong chiếc thùng thứ ba mới là thứ mà vị tiến sĩ trẻ muốn thấy hơn hết, và khi tên đồng bọn võ biền cạy mở chiếc thùng ra, phần thưởng bên trong không hề khiến anh ta thất vọng. Chiếc máy vi tính điều hướng nhãn hiệu Rolex thuộc loại tối tân trên thị trường và sẽ được mô tả trong mọi tài liệu quảng cáo của Hàng hải Barrington, để khách hàng của họ có thể hiểu rằng MV Buckingham ưu việt hơn mọi con tàu khác. Chỉ mất mười hai phút để anh ta biến một kiệt tác thành đồ bỏ đi.
Thùng cuối cùng chứa một chiếc bánh lái lớn bằng gỗ sồi thếp đồng thau và được làm ở Dorset, thứ mà bất cứ thuyền trưởng nào cũng sẽ tự hào được đứng sau nó trong đài chỉ huy của con tàu. Gã thanh niên mỉm cười. Vì không còn thời gian, vả lại chiếc bánh lái cũng không phải là thứ quá quan trọng, gã quyết định không làm tổn hại đến món đồ đẹp đẽ đó.
Ngay khi đồng bọn của gã gắn lại những cái nan gỗ cuối cùng vào chỗ cũ, hai gã quay lại khoang trên cùng. Nếu có ai không may làm phiền họ trong suốt giờ đồng hồ vừa qua, người đó sẽ biết lí do vì sao mà tay cựu võ sĩ có biệt danh là “Kẻ hủy diệt”.
Chỉ chờ bọn họ xuất hiện lại, tên đồng bọn ngay lập tức trở lại theo lối câu thang xoắn ốc. Thời gian đang chống lại hắn ta.
Với sự trợ giúp của một chiếc khăn tay và một chiếc búa, hắn cẩn thận đóng một trăm mười sáu chiếc đinh về lại chỗ cũ. Hắn đang đóng lại đinh ở chiếc thùng cuối cùng thì nghe thấy hai hồi tù và của con tàu.
Khi phà đậu dọc cảng Donegall ở Belfast, ba người đàn ông đó lên bờ, cách nhau khoảng mười lăm phút một lần, vẫn không biết tên nhau và không định gặp lại nhau lần nào nữa.