Phi Báo Xuất Kích

Lượt đọc: 85 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 59
Trăm Năm Huyết Nhục - Phần 2

❊ ❊ ❊

Cảm ơn độc giả "Đàn Hương Sơn Đích Diệp", "Trường Tụng Hoàng Đình", "qxg", "abclong" cùng 100903212706620 đã tặng thưởng.

Cảm ơn mọi người đã quan tâm đến "Phi Báo Xuất Kích". Xin thông báo trước, "Trăm năm huyết nhục" tổng cộng có ba chương, tôi chỉ muốn làm một bản tổng kết nhỏ về ý nghĩa của một cuộc chiến tranh mà thôi. Độc giả nào không thích có thể bỏ qua. Cảm ơn! Đăng Phong.

"Đúng vậy! Lần thảm bại nhất của Trung Quốc chính là cuộc Chiến tranh Giáp Ngọ Trung-Nhật năm 1894. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn còn nhớ như in, năm đó tôi mới 8 tuổi." Năm đó là mùa hè, cha tôi khi ấy đang làm việc tại Binh bộ, ngày nào cũng sớm ra tối về. Tôi mang máng biết được là Hoàng đế Quang Tự đã tuyên chiến với Nhật Bản. Tháng 2 năm sau, trời rất lạnh, một hôm cả nhà chúng tôi đang ăn cơm tối thì người chú ba đang làm việc tại nha môn Bắc Dương Thủy Sư chạy vào, đầu bù tóc rối, quần áo rách rưới. Vừa vào cửa chú cũng chẳng nói năng gì, vồ lấy cơm thức ăn rồi ăn ngấu nghiến. Cả nhà đều ngẩn người nhìn chú. Chú ăn một hồi rồi nói với cha tôi: "Xong rồi, tất cả xong hết rồi. Quân Nhật đổ bộ lên đảo Lưu Công, căn cứ hải quân Uy Hải Vệ thất thủ, hạm đội Bắc Dương toàn quân bị tiêu diệt... Sau này tôi nghe cha và chú ba nói chuyện: Lần này lỗ nặng, chỉ riêng tiền bồi thường cho Nhật Bản đã là 230 triệu lượng bạc khố bình; cộng thêm chiến lợi phẩm như tàu chiến bị Nhật Bản tịch thu trị giá hơn 100 triệu, tổng cộng là 400 triệu lượng."

"Tôi cứ không hiểu nổi, nước ta lớn thế này, sao lại đánh không lại bọn Nhật Bản nhỏ bé đó cơ chứ?" Lý Tứ khó hiểu hỏi.

"Ai!" Kim lục gia lại thở dài một tiếng rồi nói: "Kể từ sau cuộc Minh Trị Duy Tân, bọn Nhật Bản khắp nơi học tập các liệt cường phương Tây, toàn dân chuộng võ. Nhật Hoàng trích ra 30 vạn từ ngân khố hoàng gia làm phí trợ cấp hải quân, trong khi đó Từ Hi Thái hậu, Lão Phật gia lại biển thủ kinh phí hải quân để mừng thọ, xây vườn tược. Đem ra so sánh như vậy thì còn lý do nào mà không bại trận?"

Lưu tiên sinh nói: "Một trận Giáp Ngọ đã khiến Nhật Bản vươn mình trở thành cường quốc số một châu Á, hoàn toàn thoát khỏi thân phận bán thuộc địa. Trận đánh này đã nâng cao địa vị quốc tế của Nhật Bản cũng như sự tự tin và tâm lý ưu thế của người Nhật đối với Trung Quốc lên mức cực đại. Ngược lại, địa vị quốc tế của Trung Quốc thì tụt dốc không phanh, của cải chảy máu ồ ạt, quốc thế suy vi. Sự thất bại của cuộc chiến tranh Giáp Ngọ đã tạo ra cú sốc chưa từng có đối với xã hội Trung Quốc. Bọn 'Oa khấu' vốn luôn bị người Trung Quốc coi thường, vậy mà lại tiêu diệt gọn hạm đội Bắc Dương lớn nhất châu Á, đòi được khoản tiền khổng lồ, cắt mất đất đai. Cả nước trên dưới, lòng tự tin mất sạch. Tài chính của chính phủ Mãn Thanh từ đó phá sản, chỉ biết dựa vào việc vay nợ các nước lớn phương Tây để sống qua ngày."

"Đúng là thành toàn cho lũ Nhật Bản, cái thằng nghèo kiết xác đến mức không còn một xu dính túi ấy, trong phút chốc đã biến thành kẻ trọc phú của châu Á." Kim lục gia nói: "Ngay cả vị ngoại trưởng Nhật Bản lúc bấy giờ cũng không kìm lòng được mà nói: Trước khoản tiền bồi thường này, vốn chẳng hề dự đoán được sẽ có hàng trăm triệu, thu nhập cả nước Nhật chỉ có 80 triệu yên. Cho nên, vừa nghĩ tới việc bây giờ có 350 triệu yên cuồn cuộn đổ về, dù là chính phủ hay cá nhân đều thấy mình giàu có vô cùng."

Lưu tiên sinh đặt mạnh bát trà lên bàn rồi nói: "Nếu tiêu tiền mà mua được bình an thì cũng đáng. Nhưng Trung Quốc lại dùng số tiền này để nuôi dưỡng một kẻ thù hung tàn nhất cho mình. Sau khi chiếm đóng Triều Tiên, Đài Loan, Nhật Bản đã đặt nền móng cho việc tấn công đại lục Trung Quốc sau này. Nhật Bản lần đầu nếm được vị ngọt của việc xâm lược, càng kích thích dã tâm bành trướng xâm lược của chúng."

"Chẳng phải vậy sao, mẹ tôi nói năm sinh tôi đúng lúc Liên quân tám nước đánh vào Bắc Kinh. Cái lũ Nhật Bản lùn tịt mới là ác nhất, cướp mất hai cửa hiệu đồ cổ nhà ta, còn đánh chết một tên nhân viên trong tiệm." Lý Tứ nói.

"Năm đó cũng là lũ chúng nó đông nhất, Liên quân tám nước vào Bắc Kinh, tổng cộng lên tới hơn 18.000 người. Riêng Nhật Bản đã chiếm 8.000 rồi. Nếu nói về sự hung tàn trong xâm lược và cướp bóc thì đúng là phải kể đến lũ Nhật Bản này và bọn Nga ngố."

"Chỉ đến có chừng ấy người thôi sao! Vậy thì người Trung Quốc mỗi người nhổ một bãi nước miếng cũng dìm chết chúng nó rồi. Kim lục gia, ông nói xem tại sao lúc đó lại để chúng đánh vào Bắc Kinh được chứ?" Lý Tứ nghi hoặc hỏi.

Kim lục gia nhấp một ngụm trà, chậm rãi nói: "Khi đó, triều đình tập trung tại khu vực kinh kỳ khoảng 150.000 - 160.000 quân, cộng thêm 500.000 - 600.000 đoàn dân Nghĩa Hòa Đoàn, chiếm trọn thiên thời, địa lợi, nhân hòa, tỷ lệ binh lực giữa Trung Quốc và nước ngoài là 40:1. Cũng đã đánh được mười mấy ngày, nhưng không thắng nổi. Liên quân tám nước sau khi trả giá bằng cái chết của vài trăm người đã công phá Bắc Kinh. Cuối cùng không còn cách nào khác, Lý Hồng Chương đại diện cho chính phủ Thanh ký kết 'Tân Sửu điều ước' với tổng cộng 11 nước. Triều đình lại phải bồi thường 450 triệu lượng bạc, mỗi người Trung Quốc một lượng, ngụ ý làm nhục người Trung Quốc."

"Chính phủ Mãn Thanh đúng là lũ vô dụng..." Lý Tứ thất vọng chửi thề một câu.

Lưu tiên sinh nói: "Kể từ năm 1840, Trung Quốc là bại hết lần này đến lần khác, lần sau thảm hơn lần trước, thiệt hại nặng hơn lần trước, quy mô cắt đất bồi thường ngày càng lớn! Chính phủ Mãn Thanh thống trị Trung Quốc trong vòng 60 năm ngắn ngủi liên tục diễn đi diễn lại bi kịch với kịch bản không hề thay đổi: Tuyên chiến - Bị đánh - Cầu hòa - Cắt đất bồi thường."

"Ai nói không phải chứ, từ năm Đạo Quang thứ 20, Trung Quốc cứ như một kẻ bại liệt canh giữ kho báu khổng lồ vậy. Chỉ cần mấy tên người Tây Dương, Đông Dương kia muốn là lại kéo đến vài người, đánh cho kẻ canh gác bại liệt kia một trận, rồi bắt nó dâng tiền lên. Trung Quốc, cái đất nước giàu có nhất này, cứ thế bị bọn chúng cướp sạch. Bị nuôi béo lũ người Tây Dương này. Ai..." Kim lục gia lại thở dài một tiếng, uống một ngụm trà. Ông nhìn Lưu tiên sinh nói: "Tính ra thì tôi cũng đã trải qua ba triều đại, nếu nói về đối ngoại thì thật sự phải công nhận là người ta giỏi thật." Nói đoạn, ông giơ ngón tay cái lên.

"Đúng là vậy, ông xem người ta kìa, một trận đánh ở Triều Tiên đã tiêu diệt hơn 100.000 quân của liên quân 16 nước. Thật sự quá là hả hê! Lần này chúng ta cũng phải bắt chúng cắt đất bồi thường." Lý Tứ không kìm được mà đổi từ "người ta" thành "chúng ta".

Kết luận của Kim lục gia, hậu duệ của Mãn Thanh, rằng "nếu nói về đối ngoại thì thật sự phải công nhận là người ta giỏi thật", chắc chắn là rất chính xác.

Ngày 10 tháng 10 năm 1911, Khởi nghĩa Vũ Xương bùng nổ, lật đổ sự thống trị của vương triều Mãn Thanh - cái triều đại đứng trước kẻ thù ngoại bang mà không thể bảo vệ hữu hiệu sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền và lòng tự tôn dân tộc của quốc gia - thành lập nên Trung Hoa Dân Quốc. Thế nhưng, thảm họa của dân tộc Trung Hoa và sự bất lực không hề chấm dứt cùng với sự ra đời của chính phủ Dân Quốc. Trung Hoa Dân Quốc so với chính phủ Mãn Thanh cũng chẳng khá hơn là bao, thậm chí còn tệ hại hơn.

Ngày 18 tháng 9 năm 1931, hơn 10.000 quân Quan Đông Nhật Bản phát động "Sự biến 9-18" tại Thẩm Dương. Hơn vạn quân Đông Bắc tại Bắc Đại Doanh bị quân Nhật chỉ có hơn 500 tên đánh tan tác. Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch khi ấy đang bận bịu với đại sự "nhương ngoại tất tiên an nội" (muốn chống ngoại xâm phải bình định nội loạn trước). Đối với hành vi xâm lược của quân Nhật, ông ta chỉ thị cho quân Đông Bắc: "Hành động của quân Nhật tại Thẩm Dương có thể coi là sự kiện địa phương, mong cố gắng tránh xung đột để không làm sự việc mở rộng. Mọi việc giao thiệp với Nhật Bản, chờ sau khi trung ương xử lý là được."

Vị thiếu soái được tôn xưng là "tướng lĩnh yêu nước" kia, bất chấp mối thù giết cha, hận mất nhà, đã ra lệnh cho gần 20 vạn quân Đông Bắc được trang bị tốt nhất cả nước lúc bấy giờ phải bỏ lại giang sơn gấm vóc vùng Đông Bắc, bỏ mặc hàng chục triệu đồng bào thân thích cùng toàn bộ vũ khí hạng nặng và các thiết bị công nghiệp hoàn chỉnh nhất cả nước, hơn 200 máy bay, không đánh mà lui. Quân Quan Đông chỉ mất 3 ngày chiếm Thẩm Dương, một tuần kiểm soát Liêu Ninh, 3 tháng kiểm soát trọn vẹn ba tỉnh Đông Bắc. Vị "tướng lĩnh yêu nước" này ở ba tỉnh Đông Bắc không phá hỏng một cái ốc vít, không đốt cháy một hạt lương thực, không lấy đi một đồng tiền. Ông ta dâng trọn ba tỉnh Đông Bắc cho quân Nhật. Hành vi của ông ta và Tưởng Giới Thạch còn tệ hơn cả Quang Tự khi ký "Hiệp ước Mã Quan" với Nhật Bản. Nếu nói "Hiệp ước Mã Quan" đã làm sâu sắc thêm mức độ bán thuộc địa của xã hội Trung Quốc, thì Tưởng Giới Thạch và vị "tướng lĩnh yêu nước" này đã biến Trung Quốc Đông Bắc hoàn toàn thành thuộc địa của Nhật Bản, khiến nhân dân Đông Bắc trở thành vong quốc nô, và làm trầm trọng thêm thảm họa của toàn thể dân tộc Trung Hoa. Nếu Nhật Bản không có Đông Bắc Trung Quốc làm kho lương thực, nguyên liệu công nghiệp và căn cứ sản xuất công nghiệp; nếu 20 vạn quân Đông Bắc chiến đấu một mất một còn với mấy vạn quân Quan Đông Nhật Bản giữa núi trắng sông đen; nếu không có được khí phách ấy thì ít nhất khi rút lui cũng nên thực hiện chính sách tiêu thổ chứ; nếu... chỉ cần một trong vô vàn cái "nếu" kia được thực hiện... thì liệu Nhật Bản có đủ sức mạnh và thực lực để tấn công Trung Quốc hay không? Sau này mọi người đều nói là do một tờ lệnh "không kháng cự" của Tưởng Giới Thạch mà làm mất cả vùng Đông Bắc, chưa bàn tới việc tờ lệnh này có tồn tại hay không, Tưởng Giới Thạch chắc chắn phải chịu trách nhiệm lớn nhất. Nhưng vị "tướng lĩnh yêu nước" kia, với tư cách là một quân nhân, một người đàn ông, không đánh mà chạy, vứt bỏ lãnh thổ, bỏ nhà tháo chạy, để lại hàng chục triệu đồng bào Đông Bắc từng nuôi nấng họ cho người Nhật làm vong quốc nô, thì dù ông ta có ngàn lời giải thích, vạn lý do cũng không thể chối cãi được. Tạm chưa bàn tới việc ông ta là tội nhân thiên cổ của dân tộc Trung Hoa, phạm tội tiếp tay cho địch, nhưng việc ông ta là người đứng đầu chính quyền quân sự địa phương cao nhất mà không hành động khi tổ quốc lâm nguy là điều không thể bàn cãi. Còn nói ông ta là tướng lĩnh yêu nước thì lại càng không hề xứng đáng.

Tháng 5 năm 1991, tại New York, vị "tướng lĩnh yêu nước" đó khi hồi tưởng lại đoạn lịch sử ấy đã nói bằng giọng quê không chút thay đổi: "Chính quân Đông Bắc chúng tôi chọn không kháng cự. Lúc đó tôi phán đoán, người Nhật sẽ không chiếm cả Trung Quốc, tôi không nhìn rõ ý đồ xâm lược của chúng, cho nên cố gắng tránh kích động người Nhật, không cho chúng cái cớ để mở rộng chiến tranh. Đánh không trả đòn, mắng không cãi lại, đó là lệnh tôi hạ xuống."

Cuối cùng chết nơi đất khách quê người, ông ta quả thực không còn mặt mũi nào để trở về vùng đất đen Đông Bắc đã sinh dưỡng mình, không dám đối diện với những người thân ở quê hương Đông Bắc mà ông ta từng ruồng bỏ.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 17 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.