Ngày 7 tháng 7 năm 1937, cuộc xung đột quân sự Trung - Nhật nổ ra tại cầu Lư Câu, Bắc Bình, Trung Quốc, Nhật Bản từ đó mở màn cho cuộc tổng tấn công toàn diện vào Trung Quốc. Trong "Sự kiện Thất Thất", Bộ tư lệnh "Quân trú đóng Trung Quốc" của Nhật Bản dưới quyền chỉ huy lữ đoàn trưởng Hà Biên Chính Tam thuộc Lữ đoàn 4, với khoảng 6.000 quân, chia nhau đóng giữ Bắc Bình, Thiên Tân, Thông Huyện, Sơn Hải Quan và các nơi khác. Trong khi đó, lực lượng đóng giữ Bình - Tân là Quân đoàn 29 của quân đội Trung Quốc. Lúc bấy giờ có 4 sư đoàn bộ binh là 37, 38, 132, 143, một sư đoàn kỵ binh số 9 và một lữ đoàn đặc vụ, cộng thêm lực lượng bảo an, tổng quân số khoảng 10 vạn người. Tỷ lệ quân lực Trung - Nhật là 17:1, ai cũng nói đại đao của Quân đoàn 29 Tây Bắc quân của Tống Triết Nguyên rất lợi hại. Nhưng 17 cây đại đao chém xuống đầu một tên quỷ Nhật cũng không ngăn nổi sự thất thủ của Bình - Tân.
Từ năm 1840 trở đi, trong quan hệ đối ngoại, Trung Quốc luôn ở vào cục diện "người là dao thớt, ta là cá thịt". Ngay cả trong Chiến tranh thế giới thứ hai cũng như vậy.
Năm 1945, cuộc chiến tranh chống phát xít thế giới giành thắng lợi toàn diện, nhưng tại Hội nghị Yalta phân chia lợi ích sau chiến tranh, Trung Quốc - quốc gia chiến thắng kiên trì chiến đấu chống Nhật lâu nhất, góp sức nhiều nhất, chịu hy sinh lớn nhất - lại hoàn toàn bị gạt ra ngoài lề, thậm chí không được phép tham dự hội nghị. Không những vậy, với tư cách là quốc gia chiến thắng, Trung Quốc còn bị ép buộc phải đồng ý cắt đi hơn 1.566.500 km vuông đất đai (Mông Cổ) để thỏa mãn điều kiện giao dịch giữa Mỹ và Liên Xô. Cả hai cuộc thế chiến, Trung Quốc đều chỉ là kẻ chiến thắng trên danh nghĩa, nhưng lần thắng sau lại nhục nhã hơn lần trước. Điều kiện của Stalin khi tuyên chiến với Nhật và xuất binh vào Đông Bắc là phải sáp nhập phần phía nam đảo Sakhalin (từng là lãnh thổ Trung Quốc) và quần đảo Kuril vào Liên Xô; đòi quyền sử dụng Đại Liên (cảng thương mại), Lữ Thuận (cảng quân sự) của Trung Quốc và quyền kinh doanh đường sắt Trung - Trường; Mông Cổ chính thức độc lập. Việc cướp bóc sạch sẽ Đông Bắc Trung Quốc là điều đương nhiên. Quyền lợi hợp pháp của Trung Quốc - một quốc gia chiến thắng - lại bị các nước đồng minh Mỹ, Xô đem ra giao dịch như vậy, thậm chí còn không bằng cả nước bại trận. Chính phủ Tưởng Giới Thạch đại diện cho Trung Quốc thậm chí còn chẳng nhận được khoản bồi thường chiến tranh tối thiểu từ Nhật Bản.
Trung Quốc bị làm sao vậy?
Phải chăng người Trung Quốc thực sự không làm được gì?
Người Trung Quốc thực sự không thể thắng trong các cuộc chiến tranh đối ngoại sao?
Cái dân tộc Trung Hoa được ca tụng là cần cù, dũng cảm, chứa đựng vô vàn mưu lược chiến tranh ấy đang ở đâu?
Trong thời điểm đen tối nhất của Trung Quốc, "Đông phương hồng, thái dương thăng", từ một khe núi gọi là Thiều Sơn Xung ở Hồ Nam, đã bước ra một thanh niên - Mao Trạch Đông, ông đã gánh vác đại nghiệp chấn hưng dân tộc Trung Hoa. Ông đặt Trung Quốc đầy gian khổ đau thương này lên vai mình, dẫn dắt một nhóm thanh niên nhiệt huyết giống như ông, đưa ra tư tưởng "súng ống đẻ ra chính quyền", sáng lập căn cứ địa cách mạng Tỉnh Cương Sơn đầu tiên, nhen nhóm đốm lửa nhỏ của việc công nông vũ trang cát cứ, đưa Trung Quốc tiến tới ánh sáng. Ông đã đóng vai trò mà không ai khác có thể thay thế được. Tư tưởng Mao Trạch Đông chủ yếu là tư tưởng của Mao Trạch Đông, chúng đại diện cho tư tưởng tập thể của những người cộng sản Trung Quốc thế hệ đó. Sự vĩ đại của ông nằm ở chỗ đã giải quyết thành công những vấn đề mà những người cộng sản Trung Quốc thế hệ đó phải đối mặt, khiến nhân dân Trung Quốc đứng lên. Điều này không chỉ là thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, mà còn xây dựng trong lòng người dân Trung Quốc tinh thần Mao Trạch Đông - một tinh thần mang khí phách anh hùng vô úy, ý chí kiên cường, "dân tộc Trung Hoa có tinh thần dũng cảm tiến về phía trước, đè bẹp mọi kẻ thù, quyết không bị kẻ thù khuất phục" và chiến đấu đến cùng với kẻ thù. Tinh thần Mao Trạch Đông là hào khí đã mất từ lâu của dân tộc Trung Hoa, là tinh thần "Thiên hành kiện, tự cường bất tức" đã mất từ lâu. Tinh thần Mao Trạch Đông là tinh thần ứng chiến dũng cảm mà dân tộc Trung Hoa đã kích phát ra kể từ năm 1840 khi đối mặt với thách thức của ba cuộc khủng hoảng: bảo quốc, bảo chủng, bảo giáo.
Hơn một trăm năm qua, lý do chúng ta liên tiếp thất bại, không bại cũng như bại, chính là vì dân tộc chúng ta thiếu đi tinh thần này. Dân tộc Trung Hoa nếu không có tinh thần này, dù nghèo hay giàu, dù mạnh hay yếu, trên thế giới này chỉ có thể mặc người xâu xé. Quá khứ là vậy, hiện tại là vậy, tương lai...
Khi các thỏa thuận của Hội nghị Yalta được đặt trên bàn làm việc của Mao Trạch Đông trong hang đá Diên An, đối mặt với sự bất công đó, Mao Trạch Đông quyết tâm thay đổi vận mệnh Trung Quốc bị các cường quốc tùy ý điều khiển. Những người cộng sản Trung Quốc tuyệt đối không nhìn sắc mặt người khác mà làm việc. Ông không tiếc vứt bỏ tất cả các căn cứ địa, quyết tâm chiếm lĩnh Đông Bắc. Ông đã triệu tập các đồng chí của mình như Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Chu Đức... khẩn cấp bố trí, cấp tốc phái các tướng lĩnh nguyên là của Đông Bắc quân như Lữ Chính Thao, Vạn Nghị, Trương Học Tư... dẫn quân hỏa tốc tới Đông Bắc! Điều động cả Ủy viên dự khuyết như Bành Chân, Trần Vân và 30% Ủy viên Trung ương đi. Điều động ái tướng Lâm Bưu của mình nhậm chức Chỉ huy trưởng quân sự tối cao. Bát lộ quân, Tân tứ quân các chiến khu tích cực hưởng ứng, người đi thì ngày đêm lên đường, không quản ngại khó khăn, người không đi thì tích cực phối hợp. Điều động mười vạn tinh binh mãnh tướng của các lộ quân tiến vào Quan Đông. Ban đầu mang danh nghĩa Nhân dân Tự vệ quân, sau lại gọi là Dân chủ Liên quân. Vũ khí trang bị thu được bao nhiêu thì thu, vật tư chiến lược chiếm được bao nhiêu thì chiếm. Stalin rất tức giận trước việc Mao Trạch Đông dám thách thức, coi thường sự phân chia phạm vi thế lực của các nước lớn tại hiệp định Yalta, và việc chiếm giữ Đông Bắc, vùng đất vốn thuộc phạm vi thế lực của Liên Xô! Khi Chủ tịch Mao Trạch Đông tới Trùng Khánh đàm phán, Tưởng Giới Thạch bắt ông phải giao nộp quân đội để ra làm quan cho Chính phủ Quốc dân. Mao Trạch Đông đáp trả đanh thép: "Vũ trang của nhân dân, một khẩu súng một viên đạn cũng không được giao nộp; quan làm với tay chân bị trói thì không làm."
Năm 1949, khi Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc với thế như chẻ tre, chuyển từ phòng ngự chiến lược sang phản công chiến lược, việc giải phóng toàn Trung Quốc đã sắp thành hiện thực. Trong thời khắc quyết định này, Stalin phản đối việc Quân Giải phóng vượt sông Dương Tử, cực lực chủ trương Quốc - Cộng hai đảng chia sông mà trị, tạo thành cục diện Nam - Bắc triều. Mao Trạch Đông hoàn toàn không đếm xỉa đến sự phản đối của Stalin, lập tức ban bố "Lệnh tiến quân toàn quốc", răn dạy toàn đảng: "Nên đem dũng khí còn lại đuổi cùng giết tận, chớ học kiểu Hạng Vũ cầu danh hão", đưa cách mạng đi đến cùng.
Hai tháng sau khi nước Trung Hoa mới thành lập, gác lại mọi công việc trong tay, tháng 12 năm 1949, ông đã sang Liên Xô. Thu hồi quyền sử dụng Đại Liên, Lữ Thuận và quyền kinh doanh đường sắt Trung - Trường từ tay Liên Xô; bãi bỏ "Hiệp ước hữu nghị đồng minh Trung - Xô" bất bình đẳng mà Liên Xô đã ký kết với Chính phủ Quốc dân năm 1945. Bảo vệ chủ quyền và tôn nghiêm quốc gia, đồng thời đề nghị với Stalin rằng chúng ta muốn thu hồi Ngoại Mông.
Năm 1950, Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, khi sự sinh tồn của dân tộc Trung Hoa một lần nữa gặp thách thức nghiêm trọng. Đối mặt với đất nước trăm sự phế bỏ cần chấn hưng, Mao Trạch Đông đã nỗ lực bác bỏ các ý kiến khác, khẩn cấp tập hợp Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc - đội quân mang đặc sắc riêng của mình - từ các cánh đồng rau, nông trường, công trường thủy lợi, hiện trường sửa đường, cầm lấy vũ khí Nhật Bản thời Thế chiến thứ hai, không chút do dự lao ra chiến trường Triều Tiên, nghênh chiến với liên quân mười sáu nước do Mỹ đứng đầu, được vũ trang đến tận răng. Đánh bại kẻ địch cường mạnh số một thế giới là Mỹ. Giành được thắng lợi huy hoàng trong cuộc chiến tranh chống Mỹ viện Triều, khiến toàn thế giới phải nhìn Trung Quốc bằng con mắt khác, từ đó Trung Quốc trở thành cường quốc quân sự thế giới được công nhận rộng rãi. Điều này về mặt chính trị đã nâng cao đáng kể vị thế quốc tế của Trung Quốc mới. Trong phe xã hội chủ nghĩa, Trung Quốc và Liên Xô thực sự đã hình thành quan hệ anh em về cơ bản là bình đẳng, Mỹ cũng buộc phải thừa nhận Trung Quốc mới là một đối thủ bình đẳng.
Ở Trung Quốc cũ, 4 ngàn quân Anh có thể đánh cho chính phủ Mãn Thanh phải cắt đất bồi thường; chưa đầy 2 vạn quân Liên quân tám nước có thể trực tiếp tiến vào chiếm đóng thủ đô Bắc Kinh của Trung Quốc; hơn 1 vạn quân Nhật có thể khiến Trương Học Lương dẫn theo 20 vạn quân Đông Bắc ôm đầu tháo chạy; 60 vạn quân Nhật có thể chiếm đóng hơn một nửa Trung Quốc. Mà ngày nay, Trung Quốc mới do Mao Trạch Đông lãnh đạo, trên chiến trường Triều Tiên, Chí nguyện quân Nhân dân Trung Quốc đã "quét sạch vạn quân như cuốn chiếu". Trận chiến này đã trở thành cuộc chiến tranh đối ngoại nở mày nở mặt nhất trong lịch sử cận đại Trung Quốc. Rửa sạch mối nhục trăm năm, khiến Trung Quốc đạt được vị thế cường quốc chưa từng có trong thời cận đại.
Trải qua trận chiến chống Mỹ viện Triều, Trung Quốc đã giải cứu chính quyền Triều Tiên đang trong tình trạng khủng hoảng. Bất kể diễn biến tình hình bán đảo sau này ra sao, trung tâm công nghiệp Đông Bắc của nước ta từ đó đã có được một lá chắn an ninh đối ngoại quan trọng, uy lực mà nước ta thể hiện cũng làm cho môi trường an ninh xung quanh trở nên tốt hơn. Thành quả lớn nhất của cuộc chiến tranh chống Mỹ viện Triều là đánh đổi được môi trường xây dựng hòa bình trong mấy chục năm, đánh đổi được vị thế cường quốc của Trung Quốc, đánh đổi được sự tự tin của dân tộc Trung Hoa. Trung Quốc về mặt quân sự đã giành được thắng lợi huy hoàng chưa từng có trong các cuộc chiến tranh đối ngoại suốt một trăm năm qua, đồng thời tăng cường đáng kể lòng tự tin dân tộc và sự gắn kết của Đảng. Lòng tự trọng dân tộc và tự tin đã mất đi suốt trăm năm kể từ sau Chiến tranh Nha phiến từ đó đã được khôi phục. Cuộc chiến tranh chống Mỹ viện Triều xứng đáng trở thành điểm tựa tâm lý quan trọng để dân tộc Trung Hoa tiến tới phục hưng lịch sử. Người Trung Quốc tiến tới phục hưng dân tộc, bắt đầu từ khoảnh khắc vượt qua sông Áp Lục đó.
Chiến tranh Triều Tiên là lần đầu tiên kể từ thời cận đại, dân tộc Trung Hoa đã lựa chọn quyết không lùi bước, chủ động tấn công trước mối đe dọa lớn từ bên ngoài đối với quốc gia! Sau khi Chí nguyện quân Nhân dân Trung Quốc giành thắng lợi trong trận phản công phía Tây Triều Tiên, Tư lệnh Chí nguyện quân Nhân dân Trung Quốc Bành Đức Hoài đã đưa ra lời nhận định đanh thép, vang dội: "Thời đại mà những kẻ xâm lược phương Tây chỉ cần đặt vài khẩu đại bác lên một bờ biển ở phương Đông là có thể chiếm đoạt một quốc gia đã vĩnh viễn không bao giờ trở lại nữa."