Tuyển Tập Truyện Ngắn Project Gutenberg

Lượt đọc: 4164 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Nụ Hôn

❊ ❊ ❊

Vào lúc tám giờ tối ngày hai mươi tháng Năm, toàn bộ sáu khẩu đội của Lữ đoàn Pháo binh Trữ bị N—— đã dừng chân nghỉ đêm tại làng Myestetchki trên đường hành quân tới doanh trại. Khi sự hỗn độn náo nhiệt đang ở mức cao trào, lúc các sĩ quan đang bận rộn quanh những cỗ pháo, trong khi những người khác tụ tập ở quảng trường gần khuôn viên nhà thờ để nghe các sĩ quan quản lý phân công, một người đàn ông mặc thường phục, cưỡi một con ngựa lạ, từ sau nhà thờ xuất hiện. Con ngựa nhỏ màu nâu vàng có chiếc cổ đẹp và cái đuôi ngắn tiến đến, không đi thẳng tới trước mà di chuyển như đi ngang, với một dáng đi như đang nhảy múa, hệt như chân nó đang bị quất roi. Khi đến chỗ các sĩ quan, người trên ngựa ngả mũ và nói:

“Đức ông Trung tướng von Rabbek kính mời các ngài đến uống trà ngay phút này. . . .”

Con ngựa quay mình, nhún nhảy rồi lùi sang một bên; người đưa tin lại ngả mũ một lần nữa, và chỉ trong chớp mắt, cùng con ngựa lạ khuất sau nhà thờ.

“Quỷ tha bắt mấy cái chuyện này nghĩa là sao chứ?” Vài sĩ quan làu bàu tản về chỗ ở của mình. “Người ta đang buồn ngủ, thế mà cái lão Von Rabbek này lại lôi trà với cháo vào đây! Trà nước kiểu ấy thì chúng ta lạ gì.”

Các sĩ quan của cả sáu khẩu đội vẫn nhớ như in một sự cố từ năm ngoái, khi trong đợt diễn tập, họ cùng các sĩ quan của một trung đoàn Cossack cũng được mời đi uống trà theo cách tương tự bởi một vị bá tước có điền trang ở vùng lân cận và là một sĩ quan quân đội đã về hưu: vị bá tước hiếu khách và niềm nở đã tiếp đón họ nồng hậu, cho họ ăn uống thả phu, nhất quyết không để họ về chỗ ở trong làng mà bắt họ ở lại qua đêm. Tất nhiên, mọi chuyện đó đều rất tuyệt—không còn gì mong đợi hơn, nhưng ngặt nỗi là vị cựu sĩ quan quân đội ấy quá say mê bầu bạn với đám thanh niên nên cứ thế chuyện trò đến tận bình minh, kể cho các sĩ quan nghe những giai thoại về quá khứ hào hùng của mình, dẫn họ đi tham quan khắp nhà, cho xem những bức tranh đắt giá, tranh khắc cổ, những khẩu súng quý hiếm, đọc cho họ nghe những bức thư bút tích của các nhân vật lớn, trong khi những sĩ quan mệt mỏi rã rời chỉ biết nhìn và nghe, lòng thèm khát chiếc giường ngủ và ngáp ngắn ngáp dài trong tay áo; đến khi chủ nhà chịu buông tha cho họ thì trời đã quá muộn để mà ngủ.

Liệu vị Von Rabbek này có phải là một kẻ y chang như thế không? Dù phải hay không thì cũng chẳng còn cách nào khác. Các sĩ quan thay trang phục chỉnh tề, chải chuốt lại rồi cùng nhau đi tìm nhà của vị hào phú nọ. Ở quảng trường cạnh nhà thờ, họ được chỉ dẫn rằng có thể đi đến dinh thự của ngài Trung tướng bằng con đường phía dưới—đi vòng ra phía sau nhà thờ xuống bờ sông, đi dọc theo bờ sông đến khu vườn, và ở đó có một hàng cây sẽ dẫn thẳng đến nhà; hoặc đi bằng con đường phía trên—đi thẳng từ nhà thờ theo con đường cách làng nửa dặm là dẫn thẳng tới các vựa lúa của ngài Trung tướng. Các sĩ quan quyết định đi theo con đường phía trên.

“Không biết Von Rabbek nào nhỉ?” Họ vừa đi vừa tự hỏi. “Chắc không phải là vị từng chỉ huy sư đoàn kỵ binh N—— ở Plevna chứ?”

“Không, đó không phải Von Rabbek, mà chỉ là Rabbe thôi, chẳng có chữ ‘von’ giếc gì sất.”

“Thời tiết đẹp làm sao!”

Đến dãy vựa lúa đầu tiên, con đường chia làm hai ngả: một nhánh đi thẳng rồi biến mất vào màn sương tối của buổi chiều, nhánh kia dẫn đến nhà của chủ đất ở bên phía tay phải. Các sĩ quan rẽ phải và bắt đầu hạ thấp giọng nói. . . . Hai bên đường trải dài những nhà kho bằng đá lợp mái đỏ, trông nặng nề và ủ rũ, rất giống doanh trại của một thị trấn huyện lỵ. Phía trước họ, ánh đèn từ các cửa sổ ngôi nhà điền trang đang lấp lánh.

“Một điềm lành đấy, các thưa ngài,” một sĩ quan lên tiếng. “Con chó săn của chúng ta chạy đầu đàn rồi đây; chắc chắn nó ngửi thấy mùi con mồi ở phía trước rồi! . . .”

Trung úy Lobytko, người đang đi đầu, một chàng trai cao lớn vạm vỡ nhưng hoàn toàn không có ria mép (anh ta đã qua tuổi hai lăm, thế mà vì lý do nào đó trên khuôn mặt tròn trịa, phương phi lại chẳng có lấy một sợi lông tơ), nổi tiếng trong lữ đoàn vì khả năng kỳ lạ đánh hơi thấy sự hiện diện của phụ nữ từ khoảng cách xa, liền quay lại nói:

“Đúng vậy, chắc chắn ở đây có phụ nữ; tôi cảm nhận được điều đó bằng bản năng.”

Ngay bậc thềm cửa, các sĩ quan được chính Von Rabbek ra chào đón, một người đàn ông sáu mươi tuổi ưa nhìn trong bộ thường phục. Bắt tay từng vị khách, ông bày tỏ niềm vui mừng khôn tả khi được đón tiếp họ, nhưng cũng tha thiết nài xin họ vì Chúa mà lượng thứ cho việc ông không thể mời họ ở lại qua đêm; hai người chị cùng các con của họ, vài người anh em và dĩ nhiên cả một số láng giềng đã đến thăm ông, khiến ông không còn trống lấy nổi một căn phòng.

Đại tướng bắt tay từng người, nói lời xin lỗi và mỉm cười, nhưng qua nét mặt ông, người ta thấy rõ ràng là ông chẳng hề vui mừng gì cho cam như vị bá tước năm ngoái, và rằng ông mời các sĩ quan đơn giản chỉ vì, theo quan điểm của ông, đó là một nghĩa vụ xã hội phải làm. Bản thân các sĩ quan, khi bước lên những bậc thang được trải thảm êm ái, khi lắng nghe những lời ông nói, cũng cảm thấy rằng họ được mời đến ngôi nhà này chẳng qua vì nếu không mời thì sẽ rất kỳ cục; và khi nhìn thấy những tên đầy tớ đang lội bộ hối hả châm đèn ở lối vào tầng dưới cũng như ở phòng khách phía trên, họ bắt đầu có cảm giác như thể chính họ đã mang lại sự bất an và phiền toái cho ngôi nhà này. Trong một căn nhà mà có hai người chị cùng các con của họ, những người anh em và họ hàng láng giềng đang tụ hội, có lẽ nhân một dịp lễ lạt hay sự kiện gia đình nào đó, thì sự hiện diện của mười chín vị sĩ quan không quen biết làm sao có thể được chào đón cho đặng?

Ngay lối vào phòng khách, các sĩ quan được chào đón bởi một phu nhân lớn tuổi cao ráo, thanh lịch với đôi lông mày đen và khuôn mặt dài, trông rất giống Hoàng hậu Eugénie. Với nụ cười duyên dáng và uy nghi, bà bày tỏ niềm vui sướng khi được đón tiếp các vị khách, đồng thời cáo lỗi rằng trong dịp này vợ chồng bà không thể mời messieurs les officiers (các ngài sĩ quan) ở lại qua đêm được. Qua nụ cười đẹp đẽ và uy nghi của bà—thứ nụ cười biến mất ngay lập tức khỏi khuôn mặt mỗi khi bà quay đi chỗ khác—người ta thấy rõ rằng bà đã gặp qua vô số sĩ quan trong đời, rằng bây giờ bà chẳng có tâm trí đâu mà tiếp họ, và nếu bà mời họ đến nhà rồi xin lỗi vì không thể làm nhiều hơn, thì đó chỉ là vì phép giáo dưỡng và địa vị xã hội buộc bà phải làm thế.

Khi các sĩ quan bước vào phòng ăn lớn, có khoảng một chục người, cả nam lẫn nữ, già lẫn trẻ, đang ngồi uống trà ở phía cuối chiếc bàn dài. Một nhóm đàn ông ẩn hiện mờ ảo sau những chiếc ghế của họ, chìm trong làn khói xì gà mờ mịt; và ở giữa họ là một thanh niên cao lê khê với túm ria mép đỏ quạch, đang lớn tiếng nói oang oang bằng một thứ tiếng Anh ngọng nghịu. Qua cánh cửa phía bên kia nhóm người đó, có thể nhìn thấy một căn phòng sáng sủa với bộ sofa màu xanh nhạt.

“Thưa các ngài, có đông các ngài quá nên tôi không thể giới thiệu hết được!” Đại tướng nói lớn tiếng, cố tỏ ra thật vui vẻ. “Các ngài tự làm quen với nhau đi, xin đừng câu nệ khách sáo gì cả!”

Các sĩ quan—người thì với khuôn mặt vô cùng nghiêm nghị, thậm chí nghiêm túc, kẻ thì mang nụ cười gượng gạo, và ai nấy đều cảm thấy vô cùng lúng túng—cũng đành cúi chào và ngồi vào bàn trà.

Người cảm thấy bất an và không thoải mái nhất trong số đó chính là Ryabovitch—một sĩ quan thấp bé đeo kính, vai xuôi và có bộ ria mép hệt như mèo rừng. Trong khi một vài người đồng đội mang vẻ mặt nghiêm trang, số khác nở nụ cười gượng gạo, thì bộ mặt, chùm ria mép như mèo rừng và cặp kính cận của anh dường như đang nói lên rằng: “Tôi là viên sĩ quan nhút nhát, khiêm tốn và mờ nhạt nhất trong cả cái lữ đoàn này!” Ban đầu, khi mới bước vào phòng và ngồi xuống bàn, anh chẳng thể dán sự chú ý của mình vào bất kỳ khuôn mặt hay đồ vật nào. Những gương mặt, những bộ xiêm y, những chiếc bình đựng rượu mạnh bằng pha lê cắt gọt, làn hơi nước bốc lên từ những ly trà, những đường phào chỉ đắp nổi—tất cả hòa quyện vào nhau thành một ấn tượng chung khơi gợi trong lòng Ryabovitch sự hoảng hốt và một khao khát muốn được trốn đi đâu đó. Hệt như một diễn giả lần đầu tiên xuất hiện trước công chúng, anh nhìn thấy mọi thứ trước mắt, nhưng dường như chỉ hiểu về chúng một cách lơ mơ (trong y học, trạng thái khi chủ thể nhìn thấy nhưng không hiểu rõ này được gọi là chứng mù tâm lý). Chỉ một lát sau, khi đã quen dần với khung cảnh xung quanh, Ryabovitch mới nhìn rõ hơn và bắt đầu quan sát. Vốn là một kẻ nhút nhát, chưa từng quen với chốn phồn hoa, điều đập vào mắt anh đầu tiên lại chính là thứ mà anh vốn thiếu thốn nhất—đó là sự bạo dạn phi thường của những người quen mới. Von Rabbek, vợ ông, hai phụ nữ trung niên, một thiếu nữ mặc váy màu tử đinh hương, và chàng thanh niên trẻ tuổi có chòm râu quai nón đỏ—hóa ra là con trai út của Von Rabbek—đã rất khéo léo, tựa như họ đã tập dượt từ trước, chen vào ngồi giữa các sĩ quan và lập tức khơi mào một cuộc tranh luận sôi nổi mà các vị khách khó lòng đứng ngoài cuộc. Thiếu nữ mặc váy màu tử đinh hương khẳng định một cách hăng hái rằng phái pháo binh sướng hơn hẳn kỵ binh và bộ binh, trong khi Von Rabbek và những phụ nữ lớn tuổi thì khăng khăng bảo vệ quan điểm ngược lại. Một cuộc trao đổi lời qua tiếng lại diễn ra vô cùng sôi nổi. Ryabovitch chăm chú quan sát cô tiểu thư mặc váy tím đang tranh luận hăng say về một đề tài xa lạ và chẳng có chút thú vị gì đối với cô, đồng thời ngắm nhìn những nụ cười giả tạo cứ xuất hiện rồi vụt tắt trên khuôn mặt cô.

Von Rabbek cùng gia đình đã khéo léo lôi kéo các sĩ quan vào cuộc thảo luận, đồng thời vẫn không quên liếc mắt quan sát ly nước và miệng của từng người để xem có ai chưa được uống nước không, mọi người đã đủ đường chưa, tại sao có người lại không ăn bánh ngọt hay chẳng uống rượu mạnh. Và càng ngắm nhìn, càng lắng nghe lâu, Ryabovitch lại càng bị thu hút bởi gia đình tuy giả tạo nhưng được rèn giũa quy củ tuyệt vời này.

Dùng trà xong, các sĩ quan di chuyển sang phòng khách. Bản năng của Trung Trung úy Lobytko đã không hề đánh lừa anh. Có rất nhiều thiếu nữ và các phu nhân trẻ tuổi ở đó. Chàng trung úy “chó săn” chẳng mấy chốc đã đứng cạnh một cô tiểu thư tóc vàng rất trẻ mặc chiếc váy đen, dáng điệu nghênh ngang cúi xuống người cô như thể đang tì lên một thanh gươm vô hình, miệng mỉm cười và nhún vai đầy vẻ điệu đà. Chắc hẳn anh ta đang tuôn ra những lời vô nghĩa lý thú lắm, bởi cô gái tóc vàng chỉ liếc nhìn khuôn mặt tròn trịa của anh ta với vẻ bề trên rồi hờ hững hỏi: “Thế ạ?” Và từ câu hỏi vô cảm “Thế ạ?” đó, nếu là một kẻ thông minh, chàng chó săn lẽ ra phải kết luận được rằng cô nàng sẽ chẳng bao giờ thèm đếm xỉa đến anh ta đâu.

Tiếng đàn piano bỗng vang lên; những khúc valse sầu muộn trôi tuột ra từ những khung cửa sổ rộng mở, và vì lý do nào đó, mọi người chợt nhận ra rằng mùa xuân đã về, một buổi chiều tháng Năm đang hiện hữu. Ai nấy đều cảm nhận được hương thơm của hoa hồng, hoa tử đinh hương và những chiếc lá non của hàng cây dương. Ryabovitch, người đang ngấm men rượu mạnh đã uống từ trước, dưới ảnh hưởng của âm nhạc liền lén đưa mắt nhìn ra cửa sổ, mỉm cười và bắt đầu ngắm nhìn những chuyển động của những người phụ nữ; và anh có cảm giác như mùi thơm của hoa hồng, hoa dương và hoa tử đinh hương không phải bay ra từ khu vườn, mà xuất phát từ chính khuôn mặt và xiêm y của các quý cô.

Con trai của Von Rabbek mời một cô tiểu thư gầy gò ra khiêu vũ và dìu cô này xoay hai vòng quanh căn phòng. Lobytko, lướt đi trên sàn nhà lát ván mộc, bay vụt đến chỗ tiểu thư mặc váy tử đinh hương và ôm lấy cô nhún nhảy. Những vũ điệu chính thức bắt đầu. . . . Ryabovitch đứng nép gần cánh cửa giữa những người không khiêu vũ và ngắm nhìn. Tralam đời anh chưa từng khiêu vũ lấy một lần, và cũng chưa bao giờ vòng tay ôm lấy eo của một người phụ nữ đoan chính nào. Anh vô cùng ngưỡng mộ việc một người đàn ông có thể đường hoàng ôm eo một cô gái xa lạ trước mặt bao người và chìa vai cho cô đặt tay lên, nhưng anh không tài nào tưởng tượng nổi bản thân mình lại ở vào vị trí của một người như thế. Đã có lúc anh ghen tị với sự bạo dạn và phong thái nghênh ngang của các bạn đồng ngũ để rồi tự dằn vặt nội tâm; ý thức về việc bản thân mình rụt rè, gù lưng và nhàm chán, rằng mình có chiếc lưng dài và bộ ria mèo rừng đã từng khoét sâu vào lòng anh niềm cay đắng tột cùng, nhưng theo năm tháng, anh cũng đã quen dần với cảm giác ấy, và giờ đây, khi nhìn những đồng đội đang khiêu vũ hay lớn tiếng cười nói, anh không còn ghen tị với họ nữa, mà chỉ cảm thấy chạnh lòng và bùi ngùi.

Khi điệu quadrille bắt đầu, chàng trai trẻ Von Rabbek tiến đến chỗ những người không khiêu vũ và mời hai sĩ quan đi đánh bi-a. Các sĩ quan nhận lời và cùng anh ta bước ra khỏi phòng khách. Ryabovitch chẳng có việc gì làm lại muốn hòa mình vào không khí chung nên lủi thủi bước theo sau họ. Từ phòng khách lớn, họ đi qua phòng khách nhỏ, rồi vào một hành lang hẹp có mái kính, và từ đó tiếp tục dẫn vào một căn phòng mà khi họ vừa bước vào, ba tên đầy tớ trông có vẻ ngái ngủ đã nhanh giật mình chồm dậy từ chiếc ghế sofa. Cuối cùng, sau khi băng qua một dãy phòng dài dằng dặc, chàng trai nhà Von Rabbek cùng các sĩ quan cũng đến được căn phòng nhỏ đặt bàn bi-a. Trò chơi bắt đầu.

Ryabovitch, người chưa từng chơi bất kỳ trò gì ngoài bài bạc, đứng cạnh bàn bi-a và thờ ơ ngắm nhìn những người chơi. Trong khi đó, họ với những chiếc áo khoác phanh ngực, tay cầm cơ, đi lại quanh bàn, bắn những câu nói đùa và liên tục hô lên những từ ngữ khó hiểu.

Những người chơi chẳng mảy quan tâm đến anh, và đôi khi chỉ có một người trong số họ, khi huých cùi chỏ vào anh hoặc vô tình chạm vào người anh bằng đầu gậy cơ, sẽ quay lại và nói “Pardon!” (Xin lỗi!). Chưa hết ván đầu tiên anh đã cảm thấy chán ngấy, rồi đâm ra bứt rứt vì thấy mình thừa thãi và vướng víu. . . . Anh thèm được quay lại phòng khách, thế là anh bước ra ngoài.

Trên đường quay trở lại, anh vấp phải một sự cố nho nhỏ. Khi đi được nửa đường, anh nhận ra mình đã rẽ nhầm hướng. Anh nhớ rất rõ là trên đường đi mình phải chạm mặt ba tên đầy tớ ngái ngủ, thế nhưng anh đã đi qua năm sáu căn phòng mà chẳng bóng dáng mấy kẻ buồn ngủ ấy đâu cả, tựa như chúng đã bị mặt đất nuốt chửng. Nhận ra sự nhầm lẫn của mình, anh quay bước lại một quãng rồi rẽ phải; và thế là anh lọt vào một căn phòng tối om mà anh chưa hề nhìn thấy trên đường đi tới phòng bi-a. Đứng đó một lát, anh quả quyết vặn nắm cửa căn phòng đầu tiên đập vào mắt mình và bước vào một không gian tối như hũ nút. Ngay phía trước mặt, người ta có thể nhìn thấy một khe cửa hẹp hắt ra thứ ánh sáng chói lọi; từ bên kia cánh cửa vọng lại âm thanh nhè nhẹ của một khúc mazurka sầu muộn. Ở đây, cũng giống như trong phòng khách, các cửa sổ đều mở rộng toang hoác và thoang thoảng mùi hoa dương, hoa tử đinh hương và hoa hồng. . . .

Ryabovitch đứng sững lại do dự. . . . Đúng lúc ấy, thật ngạc nhiên, anh nghe thấy những bước chân vội vã cùng tiếng xiêm y sột soạt, một giọng nữ đứt quãng thì thầm: “Cuối cùng thì anh cũng đến!” Và hai vòng tay mềm mại, thơm ngát, đích thực là của phụ nữ ôm chầm lấy cổ anh; một má ấm áp áp sát vào má anh, và đồng thời vang lên tiếng chu môi hôn. Thế nhưng ngay lập tức, kẻ ban tặng nụ hôn thốt lên một tiếng kêu khẽ rồi lùi phắt lại, theo cảm nhận của Ryabovitch, là với vẻ đầy ghê tởm. Bản thân anh cũng suýt thét lên và lao bổ về phía khe sáng ở cửa. . . .

Khi bước trở lại phòng khách, tim anh đập loạn nhịp và đôi tay run lẩy bẩy đến mức anh phải vội vàng giấu phắt chúng ra sau lưng. Ban đầu, anh bị dằn vặt bởi sự hổ thẹn và nỗi sợ hãi rằng cả phòng khách đều biết chuyện anh vừa được một người phụ nữ ôm hôn. Anh co rút người lại và lo lắng nhìn quanh, nhưng khi nhận ra mọi người vẫn đang khiêu vũ và trò chuyện bình tĩnh như không có chuyện gì xảy ra, anh hoàn toàn đắm chìm vào cảm giác mới mẻ chưa từng có trong đời này. Có cái gì đó kỳ lạ đang diễn ra với anh. . . . Cổ anh, nơi đôi vòng tay mềm mại thơm ngát vừa ôm lấy lúc nãy, dường như vừa được xức dầu thơm; trên má trái cạnh mép, chỗ người lạ mặt đã hôn, có một cảm giác tê tê lạnh giá thoảng qua hệt như ngậm kẹo bạc hà, và anh càng chà xát vào chỗ đó thì cảm giác lạnh giá lại càng rõ rệt hơn; toàn thân anh, từ đầu đến chân, tràn ngập một thứ cảm xúc mới mẻ kỳ lạ cứ lớn dần lên từng phút. . . . Anh muốn được khiêu vũ, muốn được trò chuyện, muốn chạy ào ra vườn, muốn cười vang lên. . . . Anh quên bẵng đi mất chuyện mình bị gù lưng và nhàm chán, quên cả cái lưng dài và chòm ria mép mèo rừng cùng cái “vẻ ngoài tầm thường” (đó là cách ngoại hình của anh bị miêu tả bởi mấy bà cô mà anh vô tình nghe trộm được câu chuyện). Khi vợ của Von Rabbek vô tình đi ngang qua, anh liền nở một nụ cười thật tươi và thân thiện đến mức bà phải khựng lại ngước nhìn anh đầy vẻ dò hỏi.

“Tôi thích ngôi nhà của ngài quá đi mất!” anh vừa nói vừa chỉnh lại cặp kính.

Phu nhân Đại tướng mỉm cười cho biết ngôi nhà này vốn là của cha bà; đoạn bà hỏi thăm xem cha mẹ anh còn sống không, anh vào quân ngũ lâu chưa, tại sao lại gầy thế, v.v. . . . Sau khi nhận được những câu trả lời, bà tiếp tục bước đi, và sau cuộc trò chuyện ấy, nụ cười của anh càng trở nên thân thiện hơn bao giờ hết, và anh thầm nghĩ xung quanh mình toàn là những con người tuyệt vời. . . .

Đến bữa tối, Ryabovitch máy móc ăn tất cả những gì được dọn ra, uống rượu, và chẳng buồn lắng nghe chuyện gì, chỉ mải cố gắng lý giải xem điều gì vừa xảy ra với mình. . . . Cuộc phiêu lưu mang một sắc thái huyền bí và lãng mạn, nhưng cũng không khó để giải thích. Chắc hẳn cô thiếu nữ hay phu nhân trẻ nào đó đã hẹn hò với ai trong căn phòng tối; đã chờ đợi suốt một thời gian dài, rồi vì căng thẳng và kích động nên đã nhận nhầm Ryabovitch thành người trong mộng của cô ta; điều này càng dễ xảy ra hơn khi Ryabovitch đã đứng ngập ngừng ở căn phòng tối đó, khiến anh trông cũng giống như một kẻ đang mỏi mòn chờ đợi điều gì. . . . Ryabovitch tự giải thích về nụ hôn mình vừa nhận được như thế đấy.

“Và nàng là ai nhỉ?” anh tự hỏi, đảo mắt nhìn khuôn mặt những người phụ nữ. “Nàng hẳn phải còn trẻ, chứ phụ nữ lớn tuổi thì đâu có đi hẹn hò kiểu đó. Rằng nàng là một tiểu thư khuê các, người ta có thể nhận ra qua tiếng xé lụa của xiêm y, qua làn nước hoa, qua giọng nói. . . .”

Ánh mắt anh dừng lại ở tiểu thư mặc váy tử đinh hương, và anh thấy cô ta vô cùng quyến rũ; cô có đôi vai và cánh tay đẹp, khuôn mặt thông minh và giọng nói mê hồn. Nhìn cô, Ryabovitch thầm mong chính cô chứ không phải ai khác là người bí ẩn của đời mình. . . . Thế nhưng cô ta lại cười bằng một cách thức giả tạo nào đó và nhăn nhún chiếc mũi dài, điều mà theo anh làm cô trông già đi. Rồi anh chuyển hướng nhìn sang cô tiểu thư tóc vàng mặc váy đen. Cô bé trẻ hơn, giản dị và chân chất hơn, có chiếc trán duy đáng yêu và uống rượu từ ly vô cùng thanh tao. Lúc này Ryabovitch lại hy vọng đó chính là cô. Nhưng chẳng mấy chốc anh lại thấy khuôn mặt ấy hơi phẳng lặng, và lại chuyển ánh mắt sang người ngồi bên cạnh cô ấy.

“Thật khó mà đoán nổi,” anh thầm nghĩ, ngẫm ngợi. “Nếu ta lấy phần vai và tay của cô mặc váy tím, cộng thêm trán của cô tóc vàng và đôi mắt của người ngồi bên trái Lobytko, thì . . .”

Anh nhào nặn những mảnh ghép đó trong trí tưởng tượng để tạo nên hình ảnh của cô gái đã hôn mình, một hình ảnh mà anh ao ước nhưng lại chẳng thể tìm thấy quanh bàn tiệc. . . .

Sau bữa tối, khi đã no nê và phấn chấn, các sĩ quan bắt đầu chào từ biệt và nói lời cảm ơn. Von Rabbek cùng vợ lại tiếp tục xin lỗi vì không thể giữ họ ở lại qua đêm.

“Rất, rất vui được gặp các ngài,” Von Rabbek nói, và lần này thì thật lòng (có lẽ bởi vì con người ta thường thành thật và hòa nhã hơn rất nhiều lúc tiễn đưa khách khứa so với khi đón chào họ). “Thật là vinh hạnh. Hy vọng lúc quay về các ngài sẽ ghé lại nhé! Đừng khách sáo! Các ngài đi hướng nào thế? Có muốn đi đường phía trên không? Không, hãy đi xuyên qua vườn ấy; đi đường phía dưới gần hơn.”

Các sĩ quan bước ra vườn. Sau bầu không khí rực rỡ ánh đèn và ồn ào náo nhiệt, khu vườn bỗng trở nên tối mò và tĩnh lặng. Họ cứ thế im lặng bước đi cho đến tận cổng. Ai nấy đều hơi ngà ngà say, vui vẻ và phấn chấn, nhưng màn đêm cùng sự tĩnh mịch đã khiến họ chìm vào suy tư trong chốc lát. Có lẽ cùng một ý nghĩ đã xuất hiện trong đầu mỗi người giống như Ryabovitch: liệu rồi sẽ có lúc nào đó họ cũng có một cơ ngơi lớn lao, một mái ấm gia đình, một khu vườn giống như Von Rabbek—khi mà chính họ cũng có thể chào đón mọi người, dẫu có phần giả tạo đi chăng nữa, thiết đãi họ đồ ăn, chuốc cho họ say mèm và mãn nguyện?

Bước qua cổng vườn, họ bắt đầu đồng loạt lên tiếng và lớn tiếng cười đùa chẳng vì chuyện gì cả. Lúc này họ đang đi dọc theo con đường nhỏ dẫn xuống sông, rồi chạy dọc theo mép nước, uốn lượn quanh những bụi cây ven bờ, những vũng nước và những rặng liễu rủ bóng xuống mặt sông. Lối đi và bờ cỏ hầu như không thể nhìn rõ, còn bờ bên kia thì chìm hẳn trong bóng tối mịt mùng. Đâu đó trên mặt nước tối thẫm phản chiếu ánh sao; chúng lấp lánh và vỡ vụn trên bề mặt—và chỉ từ điều đó mới nhận ra dòng sông đang chảy xiết biết bao. Mọi thứ thật tĩnh lặng. Những con chim côi cút buồn ngủ kêu rên rỉ ở bờ bên kia, và trong một bụi cây bên bờ này, một chú sơn ca đang hót vang lừng, chẳng buồn đếm xỉa gì đến đám đông các sĩ quan. Các sĩ quan đứng vây quanh bụi cây, chạm vào nó, nhưng chú sơn ca vẫn miệt mài cất tiếng ca.

“Cái giống gì thế không biết!” họ tấm tắc tán thưởng. “Chúng ta đứng ngay cạnh mà nó chẳng thèm đếm xỉa gì đến! Đồ ranh con!”

Đến cuối đoạn đường, con đường nhỏ ngược dốc, và lướt qua khuôn viên nhà thờ, hòa vào đường cái lớn. Tại đây, các sĩ quan vì mệt mỏi sau quãng đường lên dốc nên đã ngồi xuống và châm thuốc hút. Phía bên kia sông, một đốm lửa đỏ đục ngầu hiện lên, và vì chẳng có việc gì làm, họ đã mất khối thời gian để tranh cãi xem đó là lửa trại hay ánh đèn từ một cửa sổ nào đó, hay một thứ gì khác. . . . Ryabovitch cũng nhìn đốm lửa, và anh có cảm giác như ánh sáng ấy đang nhìn và nháy mắt với mình, hệt như nó biết rõ về nụ hôn vậy.

Về đến chỗ ở, Ryabovitch cởi quần áo nhanh nhất có thể rồi chui ngay vào giường. Lobytko và Trung úy Merzlyakov—một kẻ điềm tĩnh, ít nói, được coi là một sĩ quan có học thức cao trong nhóm của anh ta và lúc nào cũng kè kè đọc tờ “Vyestnik Evropi” mang theo khắp mọi nơi—ở cùng lúp lều với Ryabovitch. Lobytko cởi đồ, cứ đi qua đi lại trong phòng với dáng điệu của một kẻ chưa được thỏa mãn, rồi sai lính tráng đi mua bia. Merzlyakov lên giường, đặt một ngọn nến bên gối và cắm cổ đọc tờ “Vyestnik Evropi”.

“Nàng là ai nhỉ?” Ryabovitch thầm nghĩ, ngước nhìn trần nhà đầy khói.

Cổ anh vẫn mang cảm giác như vừa được xức dầu, và quanh miệng vẫn vương lại cái lạnh tê tê như ngậm kẹo bạc hà. Bờ vai và cánh tay của tiểu thư mặc váy tử đinh hương, chiếc trán và đôi mắt chân thành của cô gái tóc vàng mặc váy đen, những chiếc eo, những tà váy và cài áo cứ chập chờn trôi nổi trong tâm trí anh. Anh cố gắng dồn sự chú ý vào những hình ảnh ấy, nhưng chúng cứ nhảy nhót, vỡ vụn và chớp tắt. Khi những hình ảnh đó hoàn toàn biến mất trên tấm phông nền đen thui rộng lớn mà bất cứ ai cũng nhìn thấy khi nhắm mắt lại, anh bắt đầu nghe thấy những bước chân vội vã, tiếng xiêm y sột soạt, âm thanh của nụ hôn và—một niềm vui sướng dữ dội, vô cớ tràn ngập tâm hồn anh . . . . Buông xuôi cho niềm vui sướng ấy, anh nghe tiếng người lính hầu quay về báo cáo rằng đã hết bia. Lobytko tức lộn ruột, lại bắt đầu cất bước đi qua đi lại.

“Chứ không phải nó là thằng đần thì là gì?” hắn cứ lải nhải, dừng chân hết trước mặt Ryabovitch rồi lại sang Merzlyakov. “Một thằng ngốc và cái thây gỗ mới đi đời nhà ma nào mới không kiếm nổi lấy một cốc bia cơ chứ? Hả? Nó không phải là một thằng khốn nạn thì là gì?”

“Cậu thì lúc nào chẳng thế, ở đây làm sao kiếm đâu ra bia,” Merzlyakov điềm tĩnh nói, mắt không rời tờ “Vyestnik Evropi”.

“Ối dào! Ý kiến của cậu đấy phỏng? Lạy Chúa trên cao, nếu cậu thả tôi lên mặt trăng thì tôi cũng moi ra bia và gái cho cậu ngay lập tức ấy chứ! Tôi đi kiếm vài chai đây. . . . Cứ gọi tôi là quân bịp bợm nếu tôi không làm được!”

Hắn mất khối thời gian để mặc quần áo và xỏ ủng, rồi đứng im lặng hút nốt điếu thuốc xong xuôi mới bước ra ngoài.

“Rabbek, Grabbek, Labbek,” hắn lầm bầm, dừng lại ở căn phòng ngoài. “Mẹ kiếp, tôi chẳng thèm đi một mình đâu! Ryabovitch, cậu có muốn đi dạo không nào? Hả?”

Chẳng nhận được câu trả lời nào, hắn quay lại, chậm rãi cởi đồ rồi chui lên giường. Merzlyakov thở dài, cất tờ “Vyestnik Evropi” đi và thổi tắt ngọn đèn.

“Hừm! . . .” Lobytko lầm bầm, châm điếu thuốc trong bóng tối.

Ryabovitch trùm chăn kín đầu, co quắp người lại trên giường và cố gắng gom nhặt những hình ảnh đang trôi nổi trong tâm trí để ráp chúng lại thành một khối hoàn chỉnh. Thế nhưng chẳng có tích sự gì. Anh chìm vào giấc ngủ lúc nào không hay, và ý nghĩ cuối cùng đọng lại trong đầu anh là có ai đó đã vuốt ve và mang lại hạnh phúc cho anh—rằng một điều gì đó phi thường, ngốc nghếch nhưng đầy niềm vui và sự tuyệt diệu đã bước vào cuộc đời anh. Ý nghĩ đó không buông tha anh ngay cả trong giấc ngủ.

Khi tỉnh dậy, những cảm giác về lớp dầu trên cổ và hơi lạnh bạc hà quanh môi đã biến mất, nhưng niềm vui vẫn tràn ngập trái tim anh y như ngày hôm trước. Anh đầy hứng khởi ngắm nhìn những khung cửa sổ được mạ vàng bởi ánh mặt trời mọc và lắng nghe tiếng động của những người qua lại trên đường phố. Mọi người đang lớn tiếng trò chuyện ngay sát cửa sổ. Lebedetsky, vị tiểu đoàn trưởng pháo binh của Ryabovitch—người vừa mới bắt kịp lữ đoàn—đang nói chuyện với gã hạ sĩ quan bằng cái giọng oang oang, vốn là thói quen hét to của hắn.

“Còn gì nữa không?” viên chỉ huy gầm lên.

“Hôm qua lúc đóng móng đấy thưa đại nhân, chúng nó đã đóng một chiếc đinh vào móng con Bồ Câu. Quân y đã đắp đất sét và giấm; giờ chúng đang dắt nó đi riêng rồi. Thêm nữa thưa ngài, hôm qua thằng Artemyev say khướt, và ngài trung úy đã ra lệnh nhốt nó vào thùng xe của một cỗ pháo dự phòng.”

Gã trung sĩ báo cáo rằng Karpov đã quên mang theo những sợi dây mới cho kèn đồng và vòng đệm cho lều trại, và rằng các ngài sĩ quan đã dành trọn buổi tối hôm qua để đến thăm Đại tướng Von Rabbek. Giữa cuộc trò chuyện đó, khuôn mặt râu đỏ quạch của Lebedetsky xuất hiện ở cửa sổ. Hắn nheo đôi mắt cận thị lại, nhìn vào những gương mặt ngái ngủ của các sĩ quan và cất tiếng chào buổi sáng.

“Mọi chuyện đều ổn cả chứ?” hắn hỏi.

“Có một con ngựa bị trầy cổ vì cái vòng cổ mới,” Lobytko ngáp dài đáp.

Viên chỉ huy thở dài, ngẫm nghĩ một lát rồi cất giọng oang oang:

“Tôi định tạt sang thăm Alexandra Yevgrafovna đây. Tôi phải ghé qua chỗ bà ấy. Thôi, chào các cậu nhé. Tối nay tôi sẽ đuổi theo kịp các cậu.”

Mười lăm phút sau, lữ đoàn lên đường hành quân. Khi tiến dọc theo con đường đi qua các vựa lúa, Ryabovitch liếc nhìn ngôi nhà bên phía tay phải. Tất cả các cửa sổ đều buông rèm. Hiển nhiên là mọi người trong nhà vẫn còn đang say ngủ. Người đã hôn Ryabovitch ngày hôm qua chắc cũng đang ngủ. Anh cố tưởng tượng cảnh cô đang chìm vào giấc ngủ. Những khung cửa sổ phòng ngủ mở toang, những cành lá xanh thò vào, sự tươi mát của buổi sớm mai, hương thơm của hoa dương, tử đinh hương và hoa hồng, chiếc giường, một chiếc ghế và trên đó là tà váy đã sột soạt ngày hôm qua, đôi giày nhỏ xíu, chiếc đồng hồ bé xíu trên bàn—tất cả những điều đó anh đều hình dung ra một cách rõ mồn một, thế nhưng những nét trên khuôn mặt, nụ cười ngọt ngào lúc ngái ngủ, chính là cái nét đặc trưng và quan trọng nhất ấy lại tuột khỏi trí tưởng tượng của anh hệt như giọt thủy ngân trôi qua kẽ tay. Khi đã đi được nửa dặm đường, anh ngoái đầu nhìn lại: ngôi nhà thờ màu vàng, dinh thự và dòng sông đều đẫm trong ánh sáng; dòng sông với những bờ cỏ xanh ngời, với bầu trời xanh thẳm phản chiếu xuống mặt nước và những tia lấp lánh bạc dưới ánh nắng mặt trời trông mới đẹp làm sao. Ryabovitch đắm chìm ngắm nhìn Myestetchki lần cuối, và anh cảm thấy bùi ngùi xiết bao như thể đang phải chia tay với một thứ gì đó vô cùng thân thuộc và quý giá.

Và trước mắt anh trên con đường ấy chẳng còn gì ngoài những hình ảnh quen thuộc và tẻ nhạt kéo dài lê thê. . . . Phía bên phải và bên trái là những cánh đồng lúa mạch đen non và kiều mạch với những chú quạ đang nhảy nhợt trên đó. Nếu nhìn về phía trước, người ta chỉ thấy bụi mù và những cái gáy của đám đàn ông; nếu ngoái lại phía sau, người ta cũng chỉ thấy bấy nhiêu bụi bặm và những gương mặt ấy. . . . Đi đầu tiên là bốn người lính mang gươm—đó là đội tiên phong. Kế đó, ngay phía sau, là đám đông những người hát hợp xướng, và sau họ là đội kèn cưỡi ngựa. Đội tiên phong và dàn đồng ca, giống như những kẻ cầm đuốc trong một đám tang, thường hay quên mất khoảng cách quy định và cứ thế chồm lên một quãng thật xa phía trước. . . . Ryabovitch đi cùng khẩu pháo đầu tiên của khẩu đội năm. Anh có thể nhìn thấy cả bốn khẩu đội đang di chuyển phía trước mình. Đối với một người không phải dân quân sự thì đoàn ngũ dài dòng tẻ nhạt của một lữ đoàn đang hành quân này trông giống như một mớ bòng bong phức tạp và khó hiểu; người ta không thể hiểu nổi tại sao lại có quá nhiều người vây quanh một khẩu pháo, và tại sao nó lại được kéo bởi ngần ấy con ngựa trong một mạng lưới dây cương kỳ lạ đến thế, cứ như thể nó thực sự khủng khiếp và nặng nề lắm vậy. Đối với Ryabovitch thì tất cả những điều đó đều hoàn toàn dễ hiểu và vì thế nên chẳng có gì là thú vị. Anh đã thừa biết từ lâu lý do vì sao ở đầu mỗi khẩu đội lại có một tên pháo thủ kỳ cựu cưỡi ngựa, và vì sao hắn được gọi là pháo thủ; ngay phía sau pháo thủ ấy là những kỵ sĩ của đơn vị thứ nhất rồi đến đơn vị trung tâm. Ryabovitch biết rằng những con ngựa họ cưỡi, những con bên trái được gọi bằng một cái tên, trong khi những con bên phải lại mang tên khác—điều đó thật vô cùng nhàm chướng. Theo sau đám kỵ sĩ là hai con ngựa kéo trục. Trên lưng một con ngồi một gã kỵ sĩ với lớp bụi ngày hôm qua bám đầy trên lưng cùng một khúc gỗ trông vừa vụng về vừa buồn cười buộc ở chân. Ryabovitch hiểu rõ mục đích của khúc gỗ ấy, và chẳng thấy nó buồn cười chút nào. Tất cả các kỵ sĩ đều máy móc vung roi và thỉnh thoảng lại gào lên vài tiếng. Bản thân cỗ pháo trông thật thô kệch. Phía phần đầu xe là những bao yến mạch được phủ vải bạt, và chính cỗ pháo thì được treo lủng lẳng đủ thứ ấm đun nước, ba lô lính, túi xách, trông giống như một loài động vật nhỏ bé vô hại nào đó bị vây quanh bởi người và ngựa chẳng vì mục đích gì. Hướng xuôi chiều gió đi bên cạnh nó là sáu người lính pháo binh đang vung vẩy cánh tay. Tiếp sau cỗ pháo lại là những pháo thủ, kỵ sĩ, ngựa kéo trục, và sau họ lại là một cỗ pháo khác, cũng thô kệch và tẻ nhạt hệt như cỗ pháo đầu tiên. Theo sau cỗ thứ hai là cỗ thứ ba, thứ tư; gần cỗ thứ tư là một viên sĩ quan, cứ thế tiếp diễn. Lữ đoàn có tổng cộng sáu khẩu đội, và mỗi khẩu đội có bốn cỗ pháo. Đoàn quân kéo dài nửa dặm; kết thúc bằng một chuỗi những chiếc xe wagon mà bên cạnh đó một sinh vật vô cùng đáng yêu—con lừa Magar, được một vị tiểu đoàn trưởng mang từ Thổ Nhĩ Kỳ về—đang thẫn thờ bước đi với cái đầu dài tai cụp xuống.

Ryabovitch thờ ơ nhìn về phía trước và phía sau, nhìn những cái gáy và những gương mặt; nếu vào lúc khác thì có lẽ anh đã ngủ gật từ lâu rồi, nhưng lúc này anh hoàn toàn bị cuốn hút vào những suy nghĩ mới mẻ dễ chịu của mình. Ban đầu khi lữ đoàn mới lên đường, anh còn cố tự nhủ rằng sự cố về nụ hôn chỉ thú vị như một cuộc phiêu lưu nhỏ đầy bí ẩn, rằng thực chất nó rất tầm thường, và việc suy nghĩ nghiêm túc về nó, nói giảm nói tránh đi thì ít nhất cũng là một hành động ngốc nghếch; thế nhưng giờ đây anh từ giã lô-gích và buông xuôi cho những giấc mộng tưởng. . . . Có lúc anh tưởng tượng mình đang ở trong phòng khách của Von Rabbek cạnh một cô gái giống hệt thiếu nữ mặc váy tím và cô gái tóc vàng mặc váy đen; rồi anh nhắm mắt lại và thấy mình bên cạnh một cô gái hoàn toàn xa lạ khác, người mà các nét trên khuôn mặt vô cùng mơ hồ. Trong trí tưởng tượng, anh trò chuyện, vuốt ve nàng, tựa vào vai nàng, mường tượng ra chiến tranh, sự chia ly, rồi ngày hội ngộ, bữa tối cùng vợ và các con. . . .

“Siết phanh!” khẩu lệnh vang lên mỗi khi họ xuống dốc.

Anh cũng hét lên “Siết phanh!” và thầm sợ rằng tiếng hét này sẽ làm gián đoạn cơn mơ màng và kéo anh trở về với thực tại. . . .

Khi đi qua điền trang của một điền chủ nào đó, Ryabovitch liếc qua hàng rào vào khu vườn. Một lối đi dài thẳng tắp như kẻ chỉ, rải cát vàng và viền xung quanh là những hàng cây bạch dương non đập vào mắt anh. . . . Với sự khao khát của một kẻ đắm chìm trong mộng tưởng, anh tự họa ra trong đầu những bước chân nhỏ nhắn của phụ nữ đang rón rén bước trên lớp cát vàng, và hoàn toàn bất ngờ khi nhìn thấy rõ mồn một trong tâm trí hình ảnh cô gái đã hôn mình và người mà anh đã cố gắng mường tượng cho bằng được vào buổi tối hôm trước bên bàn tiệc. Hình ảnh ấy cứ bám rễ trong đại não và chẳng bao giờ rời bỏ anh nữa.

Vào giữa trưa, có tiếng hét vang lên từ phía sau đoạn chuỗi xe wagon:

“Đi lùi lại! Mắt nhìn sang trái! Chào sĩ quan!”

Vị tướng lữ đoàn đi ngang qua trên một chiếc xe ngựa kéo bởi đôi ngựa bạch. Ông dừng lại gần khẩu đội thứ hai và hét lên điều gì đó chẳng ai hiểu nổi. Vài sĩ quan, trong đó có Ryabovitch, liền phi ngựa lao đến.

“Sao rồi?” viên tướng hỏi, chớp chớp đôi mắt đỏ ngầu. “Có ai đau ốm gì không?”

Sau khi nhận được câu trả lời, viên tướng, một lão gầy gò thấp bé, nhai trầu mỏm mẻm, ngẫm nghĩ một lát rồi cất giọng hướng về phía một sĩ quan:

“Một trong những gã đánh xe của cỗ pháo thứ ba đã tháo miếng bảo vệ chân ra và treo nó lên phần đầu cỗ pháo, cái đồ ranh con này. Kỷ luật hắn đi.”

Ông ngước mắt nhìn Ryabovitch và nói tiếp:

“Tôi thấy phần quai dây trước của cậu hơi bị dài đấy.”

Đưa ra thêm vài lời nhận xét tẻ nhạt khác, viên tướng nhìn Lobytko và cười toe toét.

“Hôm nay trông cậu có vẻ u sầu thế, Trung úy Lobytko,” ông nói. “Đang tương tư Madame Lopuhov phỏng? Hả? Các ngài xem kìa, hắn ta đang ôm tương tư Madame Lopuhov đấy.”

Nhân vật nữ được nhắc tới là một mụ đàn bà vô cùng béo và cao lớn đã bước qua tuổi bốn mươi từ lâu. Viên tướng, vốn có sự thiên vị đặc biệt dành cho những phụ nữ đẫy đà bất chấp tuổi tác, bèn nghi ngờ các sĩ quan của mình cũng có gu thẩm mỹ tương tự. Các sĩ quan mỉm cười kính cẩn. Vị tướng, vô cùng đắc ý vì vừa thốt ra được câu nói gì đó rất hay ho và cay độc, cười lớn, khua lưng gã đánh xe và giơ tay chào. Chiếc xe ngựa lăn bánh đi mất. . . .

“Tất cả những gì tôi đang mơ mộng nãy giờ, thứ mà có vẻ vô cùng bất khả thi và phi thực tế đối với tôi, thực ra lại là một chuyện vô cùng bình thường,” Ryabovitch tự nhủ, nhìn theo những đám bụi cuốn mù mịt phía sau chiếc xe ngựa của vị tướng. “Tất cả đều rất bình thường, và ai rồi cũng phải trải qua nó thôi. . . . Ví dụ như vị tướng quân kia, ngài ấy cũng từng yêu đương; giờ thì đã kết hôn và có con cái. Đại úy Vahter cũng thế, đã lập gia đình và được yêu thương, dẫu cho phần gáy của ông ta đỏ kè trông rất xấu xí và chẳng có lấy một vòng eo. . . . Salmanov thì thô lỗ và đậm chất Tatar, thế nhưng hắn cũng có một mối tình kết thúc bằng hôn nhân đấy thôi. . . . Tôi cũng giống như bao người khác, và sớm muộn gì tôi cũng sẽ trải qua những điều y hệt như họ mà thôi. . . .”

Và ý nghĩ rằng mình cũng chỉ là một con người bình thường, rằng cuộc đời mình cũng bình thường nốt, đã khiến anh cảm thấy vô cùng thích thú và tiếp thêm cho anh lòng dũng cảm. Anh thỏa sức mường tượng về nàng và về hạnh phúc theo cách mình muốn, chẳng thèm kìm hãm trí tưởng tượng lại làm gì.

Khi lữ đoàn đến điểm dừng chân vào buổi chiều tối, các sĩ quan đang nghỉ ngơi trong lều, Ryabovitch, Merzlyakov và Lobytko quây quần quanh một chiếc thùng gỗ để ăn tối. Merzlyakov thong thả thưởng thức thức ăn, vừa nhai từ tốn vừa đọc tờ “Vyestnik Evropi” đặt trên đùi. Lobytko thì huyên náo không ngớt, liên tục rót đầy bia vào cốc, còn Ryabovitch, người đang chế choáng vì mơ mộng suốt cả ngày dài, chỉ uống chứ chẳng nói năng gì. Sau ba cốc, anh bắt đầu hơi ngà ngà say, cảm thấy mềm nhũn người ra và nảy sinh một khao khát mãnh liệt muốn chia sẻ những cảm xúc mới mẻ của mình cho đám bạn đồng ngũ.

“Có một chuyện kỳ lạ đã xảy ra với tôi ở nhà bọn Von Rabbek ấy,” anh bắt đầu, cố ném một giọng điệu dửng dưng và châm biếm vào lời nói của mình. “Cậu biết không, tôi đã đi vào phòng bi-a. . . .”

Anh bắt đầu miêu tả một cách cực kỳ chi tiết về sự cố nụ hôn, rồi chỉ một lát sau lại im bặt. . . . Trong khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, anh đã kể tuốt tuồn tuột mọi chuyện, và điều đó khiến anh vô cùng ngạc nhiên khi thấy mình mất ít thời gian để kể nó đến thế nào. Anh từng tưởng tượng rằng mình có thể kể câu chuyện về nụ hôn ấy kéo dài cho đến tận sáng hôm sau cơ chứ. Lắng nghe anh, Lobytko, kẻ vốn là một gã chuyên bốcét và hậu quả là chẳng tin bố con thằng nào, liền liếc nhìn anh đầy vẻ hoài nghi và cười khẩy. Merzlyakov giật giật lông mày và mắt vẫn không rời tờ “Vyestnik Evropi”, cất tiếng:

Nôm na là chuyện quái gở gì thế! Kỳ quặc thật đấy! . . . lao đầu vào cổ một gã đàn ông mà chẳng thèm gọi tên tuổi gì sất. .. . Chắc lại là thể loại thần kinh hưng cảm nào rồi đây.”

“Ừ, chắc là thế thật,” Ryabovitch phụ họa.

“Tôi cũng từng gặp một chuyện tương tự thế này rồi,” Lobytko lên tiếng, trưng ra cái bộ mặt sợ hãi. “Năm ngoái tôi đi Kovno. . . . Tôi mua vé hạng nhì. Tàu đông nghẹt, đố mà ngủ được ấy chứ. Tôi dúi cho gã nhân viên đường sắt nửa rúp; hắn cầm lấy hành lý và dẫn tôi sang một khoang khác. . . . Tôi nằm xuống và đắp chăn lại. . . . Trời tối om, các cậu hiểu chứ. Bất chợt tôi thấy ai đó chạm vào vai mình và phả hơi thở vào mặt. Tôi khua tay và chạm phải khuỷu tay của ai đó. . . . Tôi mở mắt ra và các cậu tưởng tượng xem—một người phụ nữ. Mắt đen láy, môi đỏ mọng như cá hồi loại ngon, cánh mũi phập phồng hơi thở nồng nàn—cái ngực thì cứ gọi là nở nang như đệm giảm xóc. . . .”

“Xin lỗi cậu nhé,” Merzlyakov điềm tĩnh cắt ngang, “tôi hiểu được phần ngực rồi đấy, nhưng trời tối thui như thế thì làm sao mà cậu thấy được đôi môi cơ chứ?”

Lobytko bắt đầu bẽn lẽn tìm cách chữa thẹn rồi cười trừ trước sự thiếu trí tưởng tượng của Merzlyakov. Điều đó làm Ryabovitch chạnh lòng nhăn mặt. Anh đứng phắt dậy khỏi thùng gỗ, chui vào giường và thề non hẹn biển sẽ không bao giờ tâm sự với ai nữa.

Cuộc sống trong trại binh bắt đầu. . . . Những ngày tháng cứ thế trôi đi, ngày này giống hệt ngày nào. Suốt những ngày đó, Ryabovitch cảm nhận, suy nghĩ và hành xử hệt như một kẻ đang yêu. Mỗi buổi sáng khi người lính hầu đưa nước cho anh rửa mặt, và anh vốc nước lạnh xối lên đầu, anh lại thầm nghĩ có một điều gì đó thật ấm áp và tuyệt diệu đang tồn tại trong cuộc đời mình.

Vào những buổi chiều khi các đồng đội bắt đầu bàn chuyện yêu đương và phụ nữ, anh thường lắng nghe rồi xích lại gần hơn; và anh mang cái biểu cảm của một người lính khi nghe kể về một trận đánh mà chính anh từng tham gia. Và vào những buổi tối khi các đám sĩ quan, với kẻ dẫn đầu là gã chó săn Lobytko, thực hiện những chuyến du ngoạn kiểu Don Juan tới khu “ngoại ô”, và Ryabovitch cũng tham gia vào những chuyến đi chơi ấy, anh lúc nào cũng cảm thấy buồn bã, day dứt khôn nguôi vì tội lỗi và trong lòng thầm cầu xin nàng tha thứ. . . . Trong những giờ phút rảnh rỗi hoặc những đêm mất ngủ, khi tâm tư xui khiến anh nhớ về tuổi thơ, về cha mẹ—nói tóm lại là mọi thứ thân thương ruột thịt—anh không sao kìm được mà cứ nhớ mãi về Myestetchki, con ngựa lạ, Von Rabbek, người vợ trông giống Hoàng hậu Eugénie, căn phòng tối, khe sáng ở cánh cửa. . . .

Ngày ba mươi mốt tháng Tám, anh quay về từ doanh trại, không đi cùng toàn bộ lữ đoàn mà chỉ với hai khẩu đội của nó. Suốt dọc đường anh cứ mơ mộng và phấn khích hệt như đang trên đường về quê hương xứ sở. Anh khao khát đến cháy bỏng được tận mắt nhìn thấy lại con ngựa lạ, ngôi nhà thờ, gia đình giả tạo của Von Rabbek, căn phòng tối. “Tiếng nói bên trong”, thứ thường hay đánh lừa những kẻ đang yêu, cứ thầm thì vào tai anh bằng một lý do nào đó rằng thế nào anh cũng sẽ gặp lại nàng . . . và anh bị dằn vặt bởi hàng loạt câu hỏi, Rằng anh sẽ gặp nàng ra sao nhỉ? Anh sẽ trò chuyện với nàng về điều gì? Liệu nàng đã quên mất nụ hôn ấy chưa? Tệ hại nhất đi chăng nữa, anh nghĩ, dù có không gặp được nàng đi nữa, thì việc chỉ được bước qua căn phòng tối đó và hoài niệm về quá khứ thôi cũng đã là một niềm hạnh phúc rồi. . . .

Chiều buông, từ đường chân trời xuất hiện bóng dáng ngôi nhà thờ quen thuộc và những dãy nhà kho màu trắng. Trái tim Ryabovitch đập thình thịch. . . . Anh chẳng thèm nghe vị sĩ quan đang cưỡi ngựa bên cạnh đang nói gì với mình nữa, anh quên sạch sành sanh mọi thứ, và dán chặt ánh mắt đầy khao khát vào dòng sông đang lấp lánh ở đằng xa, vào mái nhà, vào cái chuồng bồ câu nơi những chú chim đang lượn lờ trong ánh hoàng hôn.

Khi họ đến nhà thờ và đang lắng nghe lệnh phân chia chỗ ở, giây nào anh cũng chờ đợi có một gã cưỡi ngựa phóng qua khuôn viên nhà thờ để mời các sĩ quan đi uống trà, thế nhưng . . . mệnh lệnh điểm danh chỗ ở đã được đọc xong, các sĩ quan vội vã tản về làng, và người cưỡi ngựa hoàn toàn chẳng xuất hiện.

“Von Rabbek thế nào cũng nghe bọn nông dân mách nước là chúng ta đã đến và sẽ sai người tới đón chúng ta ngay thôi,” Ryabovitch thầm nghĩ khi bước vào túp lều, chẳng hiểu tại sao một người đồng đội lại đang châm nến và tại sao lính tráng lại đang hì hục bắc ấm samovar. . . .

Một nỗi bất an đau đớn bủa vây lấy anh. Anh nằm xuống, rồi lại vùng dậy nhìn ra ngoài cửa sổ để xem người đưa tin đã tới chưa. Thế nhưng chẳng có bóng dáng ai.

Anh lại nằm xuống, nhưng nửa tiếng sau lại chồm dậy, và không thể kìm nén được sự bồn chồn trong lòng, anh bước ra đường rồi sải bước hướng thẳng về phía nhà thờ. Quảng trường gần nhà thờ tối thom thỏi và vắng ngắt. . . . Ba người lính đang đứng nghiêm im lìm ở chỗ con đường bắt đầu đổ dốc. Nhận ra Ryabovitch, họ bừng tỉnh và giơ tay chào. Anh đáp lễ và bắt đầu bước xuống con đường quen thuộc.

Bờ bên kia sông, cả bầu trời nhuốm một màu đỏ rực: trăng đang mọc; hai người phụ nữ nhà quê lớn tiếng trò chuyện trong lúc đang hái bắp cải ở vườn rau; đằng sau khu vườn rau là những túp lều tối om. . . . Và mọi thứ ở bờ bên này con sông vẫn y hệt như hồi tháng Năm: lối mòn, những bụi cây, những rặng liễu rủ bóng mặt nước . . . thế nhưng chẳng có lấy một tiếng hót lừng lững của chú sơn ca dũng cảm, và cũng chẳng vương chút hương thơm nào của hoa dương lẫn cỏ tươi.

Đến được khu vườn, Ryabovitch ghé mắt nhìn qua cổng. Khu vườn tối mịt và tĩnh mịch. . . . Anh chẳng thể thấy gì ngoài những thân cây bạch dương trắng phau ở phía gần nhất và một góc nhỏ của lối đi; tất cả những thứ còn lại nhòe nhoẹt hòa quyện vào một mảng tối đặc quánh. Ryabovitch dỏng tai lắng nghe và trừng mắt nhìn chăm chú, nhưng sau khi kiên nhẫn chờ đợi suốt một phần tư tiếng đồng hồ mà chẳng nghe thấy một âm thanh hay bắt gặp một tia sáng nào, anh đành lủi thủi lê bước quay về. . . .

Anh đi xuống mép sông. Nhà tắm của viên đại tướng và những chiếc khăn tắm vắt trên lan can cây cầu nhỏ hiện lên trắng xóa trước mắt anh. . . . Anh bước lên cầu, đứng ngây ra một lát, và chẳng vì lý do gì, lại đưa tay chạm vào những chiếc khăn. Chúng thô ráp và lạnh ngắt. Anh cúi xuống nhìn dòng nước. . . . Dòng sông chảy xiết phát ra tiếng róc rách nhè nhẹ quanh những chiếc cọc của nhà tắm. Ánh trăng đỏ au phản chiếu gần bờ bên trái; những gợn sóng lăn tăn chạy qua lớp ảnh phản chiếu, kéo dài nó ra, xé vụn nó thành từng mảnh, và dường như đang cố tình cuốn phăng nó đi.

“Mới ngốc nghếch làm sao, thật quá ngốc nghếch!” Ryabovitch thầm nghĩ, nhìn dòng nước đang cuồn cuộn chảy. “Mọi chuyện mới vô lý làm sao!”

Giờ đây, khi chẳng còn mong đợi điều gì nữa, sự cố nụ hôn, sự nôn nóng bồn chồn, những hy vọng mơ hồ và cả nỗi thất vọng bỗng hiện lên một cách vô cùng rõ rệt dưới ánh sáng thực tại. Anh không còn thấy lạ lùng khi mình không gặp được người đưa tin của vị đại tướng, và rằng mình sẽ chẳng bao giờ gặp lại cô gái vô tình trao nụ hôn cho anh thay vì một kẻ khác; trái lại, nếu gặp được nàng thì mới là chuyện lạ. . . .

Dòng nước vẫn đang cuồn cuộn trôi, chẳng biết đi đâu về đâu và vì mục đích gì, y như hồi tháng Năm. Hồi tháng Năm nó đã đổ ra con sông lớn, từ sông lớn chảy ra đại dương; rồi nó bốc hơi thành mây, biến thành những giọt mưa, và có lẽ chính giọt nước đó giờ đây lại đang chảy trước mắt Ryabovitch một lần nữa. . . . Để làm gì cơ chứ? Tại sao thế?

Và cả thế giới này, toàn bộ cuộc đời này, bỗng hiển hiện trong mắt Ryabovitch như một trò đùa không mục đích và khó lòng tài nào hiểu nổi. . . . Và dời ánh mắt khỏi mặt nước để ngước nhìn bầu trời, anh lại nhớ đến cách mà định mệnh dưới hình hài một người phụ nữ vô danh đã tình cờ vuốt ve mình, anh nhớ lại những giấc mộng và mường tượng mùa hè của bản thân, để rồi cuộc đời anh bỗng hiện lên vô cùng cộc cằn, nghèo nàn và nhạt nhẽo đến tội nghiệp. . . .

Khi quay trở lại túp lều, anh chẳng thấy bóng dáng một người đồng đội nào. Người lính hầu báo rằng tất cả bọn họ đều đã kéo sang “nhà Đại tướng von Rabbek, người vừa sai một gã đưa tin cưỡi ngựa đến để mời họ. . . .”

Trong chốc lát, một tia sáng vui mừng lóe lên trong tim Ryabovitch, nhưng anh dập tắt nó ngay lập tức, chui tọt vào giường, và trong cơn tức giận với số phận, như để cố tình chọc tức nó, anh đã từ chối không sang nhà Đại tướng.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Anton Pavlovich Chekhov

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.