Tuyển Tập Truyện Ngắn Project Gutenberg

Lượt đọc: 3874 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
I

❊ ❊ ❊

Tiếng móng ngựa nện um um trên sàn gỗ vang lên; người ta dắt từ trong chuồng ra con ngựa ô tên là Count Nulin, tiếp đó là con ngựa bạch Giant, rồi đến con ngựa cái Maika, chị em với nó. Con nào con nấy đều là những tuấn mã tráng kiện và đắt giá. Lão Shelestov trèo lên yên con Giant và cất tiếng gọi con gái Masha:

– Nào, Marie Godefroi, mau lên nào! Trèo lên đi em! Húp-la!

Masha Shelestov là đứa con út trong nhà; cô mới mười tám tuổi, nhưng người nhà mãi vẫn không sao quen được với ý nghĩ rằng cô chưa phải là một thiếu nữ trưởng thành, thế nên họ vẫn gọi cô là Manya và Manyusa. Rồi từ sau buổi biểu diễn xiếc ở thị trấn mà cô hăng hái đến xem, ai nấy bắt đầu gọi cô là Marie Godefroi.

– Húp-la! – cô kêu lên, đoạn phóng mình lên lưng con Giant. Chị cô là Varya trèo lên yên con Maika, Nikitin cưỡi con Count Nulin, các vị sĩ quan trên những con ngựa của họ, và đoàn kỵ mã dài trông rất nên thơ với những sĩ quan mặc áo tunik trắng cùng các tiểu thư trong trang phục cưỡi ngựa từ từ bước ra khỏi sân.

Nikitin nhận ra rằng lúc họ đang lên yên rồi sau đó thong thả đi ra phố, chẳng vì lý do gì mà Masha chẳng chú ý đến ai ngoài anh. Cô lo lắng nhìn anh, nhìn con Count Nulin và bảo:

– Anh phải luôn cầm cương phụ của nó nhé, Sergey Vassilitch. Đừng để nó chứng nào tật nấy. Nó đang giả vờ đấy.

Và có lẽ vì con Giant của cô rất thân với con Count Nulin, hoặc cũng có thể chỉ là tình cờ, suốt dọc đường cô cứ đi sát bên Nikitin y như ngày hôm qua và ngày hôm trước nữa. Còn anh thì ngắm nhìn dáng người nhỏ nhắn uyển chuyển của cô khi ngồi trên lưng chú chiến mã trắng kiêu hãnh, ngắm chiếc cằm thanh tú, ngắm chiếc mũ chóp cao chẳng hề hợp chút nào khiến cô trông già hơn tuổi – anh ngắm cô bằng niềm hân hoan, sự dịu dàng và nỗi đắm say ngây ngất; lắng nghe cô nói mà chẳng thu nạp được mấy lời, để rồi thầm nghĩ:

– Tôi xin lấy danh dự mà thề, tôi thề có Chúa trời là tôi sẽ chẳng sợ gì hết và hôm nay tôi sẽ tỏ tình với cô ấy.

Lúc đó là bảy giờ tối – thời điểm mà hương hoa keo trắng và hoa tử đinh hương tỏa ngào ngạt đến mức bầu không khí và cả những tán cây như nặng trĩu vì ngập tràn hương thơm. Ban nhạc đã bắt đầu tấu khúc trong hoa viên của thị trấn. Tiếng móng ngựa nện vang dội trên mặt đường lát đá, bốn bề rộn rã tiếng cười nói và tiếng cổng đóng sầm. Mấy người lính đi ngang giơ tay chào các sĩ quan, đám học sinh cúi đầu chào Nikitin, và tất cả những người đang hối hả đến hoa viên nghe nhạc đều cảm thấy vui lây khi ngắm nhìn nhóm kỵ mã. Trời mới ấm áp làm sao! Những đám mây bồng bềnh hững hờ trôi giữa bầu trời trông mới dịu dàng nhường nào, bóng râm của hàng cây dương và cây keo trải dài khắp mặt đường vươn tới tận ban công cùng tầng hai của những ngôi nhà bên kia đường mới hiền hòa và dễ chịu biết bao.

Họ cưỡi ngựa qua khỏi thị trấn rồi bắt đầu cất vó phi nước đại dọc theo con đường cái quan. Ở đây chẳng có hương thơm của tử đinh hương hay hoa keo, chẳng có tiếng nhạc rộn rã, mà chỉ có hương vị mọc lên từ đồng nội, có sắc xanh của lúa mạch non và lúa mì đang độ thì con gái, tiếng chuột đồng kêu chít chít và tiếng quạ kêu khản đặc. Đưa mắt nhìn đi đâu cũng thấy một màu xanh ngút ngàn, đan xen lác đác vài mảng đất trống đen sì, và xa tít tắp về phía bên trái ở khu nghĩa trang là một vệt hoa táo nở trắng xóa.

Họ đi qua khu lò mổ, rồi tới nhà máy bia, và bắt gặp một ban nhạc quân đội đang vội vã tiến về khu hoa viên vùng ngoại ô.

– Polyansky có một con ngựa rất đẹp, em không phủ nhận điều đó đâu – Masha nói với Nikitin, liếc nhìn người sĩ quan đang cưỡi ngựa sóng đôi cùng Varya. – Nhưng nó có tì vết. Vệt trắng ở chân trái của nó lẽ ra không nên có chỗ đó, và anh xem kìa, nó cứ hất đầu lên kìa. Bây giờ anh có tập cho nó cũng chẳng bỏ được thói quen ấy đâu; nó sẽ cứ hất đầu như thế cho đến hết đời.

Masha cũng là một kẻ cuồng ngựa chẳng kém gì người cha của mình. Cô cảm thấy nhói lòng mỗi khi thấy người khác có những con ngựa đẹp, và lại thấy vui mừng khi phát hiện ra khuyết điểm trên mình chúng. Nikitin chẳng biết gì về ngựa; với anh thì việc cầm cương thường hay cầm cương phụ, việc cho ngựa phi nước đại hay kiệu kiệu chẳng có gì khác biệt; anh chỉ cảm thấy vị trí của mình thật gượng gạo và bất tự nhiên, và do đó những gã sĩ quan biết cách ngồi trên yên chắc chắn sẽ làm Masha hài lòng hơn anh. Và anhâm thầm ghen tị với các sĩ quan.

Khi họ đi ngang qua hoa viên ngoại ô, ai đó đề nghị ghé vào uống chút nước sô-đa. Họ liền bước vào. Trong hoa viên chỉ toàn những gốc sồi; chúng vừa mới đâm chồi nảy lộc nên qua lớp lá non, người ta vẫn có thể nhìn thấu toàn bộ khu hoa viên với chiếc bục biểu diễn, những chiếc bàn nhỏ, xích đu, và cả những chiếc tổ quạ trông hệt như mấy cái mũ chóp lớn. Cả nhóm xuống ngựa gần một chiếc bàn và gọi nước sô-đa. Những người quen biết khi đang dạo bước trong hoa viên liền tiến lại gần họ. Trong số đó có vị bác sĩ quân y đi đôi bốt cao cổ và người trưởng ban nhạc đang đứng đợi các nhạc công. Chắc vị bác sĩ đã nhầm Nikitin với một sinh viên nào đó nên mới hỏi:

– Cậu về đây nghỉ hè đấy à?

– Không ạ, tôi ở đây luôn – Nikitin đáp. – Tôi là giáo viên ở trường trung học.

– Thế cơ à? – vị bác sĩ ngạc nhiên thốt lên. – Còn trẻ thế mà đã làm thầy giáo rồi ư?

– Trẻ gì chứ! Ôi trời ơi, tôi đã hai mươi sáu tuổi rồi cơ mà!

– Cậu có râu quai nón và ria mép thật đấy, nhưng nhìn thế nào cũng chẳng ai đoán nổi cậu quá tuổi hai mươi hai hay hai mươi ba. Trông cậu trẻ quá cơ!

– Thật là một tên quái gở! – Nikitin thầm nghĩ. – Hắn ta cũng coi mình chẳng khác nào một thằng ranh con mới lớn!

Anh cực kỳ ghét việc người ta cứ nhắc đến vẻ ngoài trẻ trung của mình, nhất là khi có mặt phụ nữ hoặc đám học sinh. Kể từ khi đến thị trấn này nhận công tác làm thầy giáo, anh đã căm ghét cái vẻ mặt búng ra sữa của chính mình. Đám học trò chẳng hề sợ anh, mấy kẻ lớn tuổi thì gọi anh là “cậu thanh niên”, các tiểu thư thì thích khiêu vũ với anh hơn là lắng nghe những lời bàn luận tràng giang đại hải của anh, và anh sẵn sàng đánh đổi rất nhiều thứ để được già đi chục tuổi.

Từ hoa viên, họ tiếp tục lên đường đến trang trại của nhà Shelestov. Đến nơi, họ dừng lại trước cổng và nhờ bà quản gia là Praskovya mang ra ít sữa tươi. Chẳng ai uống giọt sữa nào cả; tất cả nhìn nhau, cười phá lên rồi lại giật cương phi ngựa về nhà. Lúc họ quay về, ban nhạc trong hoa viên ngoại ô đang tấu lên những bản nhạc; mặt trời đang lặn dần sau nghĩa trang, nhuộm đỏ một nửa bầu trời trong ánh hoàng hôn.

Masha lại sóng đôi bên cạnh Nikitin. Anh muốn nói cho cô biết anh yêu cô tha thiết nhường nào, nhưng lại sợ bị mấy vị sĩ quan và Varya nghe thấy nên đành ngậm tăm. Masha cũng lặng thinh, và anh cảm nhận được lý do vì sao cô im lặng, vì sao cô cứ đi sát bên mình, để rồi cảm thấy hạnh phúc ngập tràn đến mức mặt đất, bầu trời, những ánh đèn của thị trấn, bóng dáng đen sẫm của nhà máy bia – tất cả hòa quyện lại trong anh thành một điều gì đó vô cùng dễ chịu và ấm áp, khiến anh có cảm giác như thể con Count Nulin đang bước đi trên mây và chuẩn bị bay vút lên bầu trời đỏ rực ánh hoàng hôn.

Họ về đến nhà. Chiếc bình samôva đã sôi sùng sục trên bàn, lão Shelestov đang ngồi cùng những người bạn của mình là các quan chức tòa án phúc thẩm, và cũng như mọi khi, lão đang chê bai điều gì đó.

– Thật là thô lỗ! – lão nói. – Thô lỗ chẳng hơn chẳng kém. Phải đấy!

Từ khi đem lòng yêu Masha, cái gì ở nhà Shelestov cũng khiến anh vừa ý: ngôi nhà, khu hoa viên, buổi trà chiều, những chiếc ghế mây đan, mụ nhũ mẫu già, và thậm chí cả từ “thô lỗ” mà ông cụ rất thích dùng. Thứ duy nhất anh không tài nào ưa nổi là đám chó mèo đông đúc cùng lũ bồ câu Ai Cập cứ cất tiếng kêu rên rỉ đầy sầu não trong chiếc lồng lớn ở hiên nhà. Số lượng chó nhà và chó nuôi ngoài sân đông đến mức qua quãng thời gian quen biết gia đình Shelestov, anh mới chỉ nhớ mặt được đúng hai con: Mushka và Som.

Mushka là một con chó nhỏ bị ghẻ lở với bộ mặt xù lông, vừa hay độc lại vừa được chiều chuộng ra mặt. Nó căm ghét Nikitin: mỗi khi trông thấy anh là nó lại nghiêng đầu, nhe nanh rồi gầm gừ: “Rừ… nga-nga-nga… rừ…!”. Sau đó nó sẽ chui tọt xuống gầm ghế của anh, và khi anh định đuổi nó đi thì nó lại sủa lên những tiếng đanh nhọn hoắt, để rồi cả nhà lại trấn an: “Anh đừng sợ. Nó không cắn đâu. Nó là con chó ngoan mà.”

Som là một con chó đen cao lêu khêu với đôi chân dài ngoẵng và cái đuôi cứng đờ như gậy. Vào các bữa ăn hay bữa trà, nó thường lảng vảng dưới gầm bàn, dùng cái đuôi đập liên hồi vào bốt của mọi người và chân bàn. Đó là một con chó tốt bụng nhưng ngốc nghếch, chỉ có điều Nikitin không sao chịu đựng nổi thói quen cứ vào bữa ăn là nó lại gác đầu lên đầu gối người ta và làm dính đầy nước dãi lên quần ốc. Nikitin đã không ít lần dùng chuôi dao gõ vào đầu nó, búng vào mũi nó, mắng mỏ rồi chì chiết nó, thế nhưng chẳng đời nào cứu nổi chiếc quần của anh.

Sau chuyến đi ngựa về, món trà, mứt, bánh quy khô và bơ ăn ngon tuyệt diệu. Ai nấy uống chén trà đầu tiên trong sự lặng im và thưởng thức một cách vô cùng khoan khoái; sang đến chén thứ hai thì họ bắt đầu tranh luận. Người châm ngòi cho các cuộc tranh luận bên bàn trà lúc nào cũng là Varya; cô rất xinh xắn, trông mặn mà hơn Masha, được coi là người thông minh và có học thức nhất trong nhà, đồng thời cư xử rất mực đĩnh đạc và nghiêm nghị đúng tác phong của một người chị cả gánh vác thay người mẹ quá cố để lo toan chuyện gia đình. Với tư cách là người chủ gia đình, cô cảm thấy mình có quyền mặc áo choàng đi lại trước mặt các vị khách và gọi các sĩ quan bằng họ của họ; cô coi Masha như một đứa trẻ con và nói chuyện với em cứ như thể mình là một cô giáo dạy học. Cô vẫn thường tự nhận mình là một bà cô già độc thân – và cô tin chắc là thể nào mình cũng sẽ lấy được chồng.

Mọi cuộc trò chuyện, kể cả là chuyện thời tiết đi nữa, cô cũng nhất mực lái thành một cuộc tranh luận. Cô có một niềm đam mê mãnh liệt trong việc bắt bẻ câu chữ, chộp lấy những điểm mâu thuẫn và vặn vẹo từng câu từng cú. Bạn vừa mở lời nói chuyện với cô là cô sẽ trừng mắt nhìn bạn rồi bất ngờ ngắt lời:

– Xin lỗi, xin lỗi nhé, Petrov, hôm nọ chính anh vừa mới nói điều ngược lại hoàn toàn cơ mà!

Hoặc cô sẽ mỉm cười đầy mỉa mai và bảo:

– Dù sao thì tôi cũng nhận thấy là anh bắt đầu lên tiếng ủng hộ những nguyên tắc của lực lượng cảnh sát mật rồi đấy. Xin chúc mừng anh nhé.

Nếu bạn pha trò hay chơi chữ, bạn sẽ lập tức nghe thấy giọng cô vang lên: “Xưa như trái đất,” hay “Chẳng có gì là hay ho cả.” Nếu một vị sĩ quan nào đó cả gan làm một trò đùa, cô sẽ nhăn mặt đầy khinh miệt rồi phán: “Đúng là trò đùa kiểu lính tráng!”

Và cô uốn lưỡi phát âm chữ “r” đầy vẻ kiêu kỳ đến mức con Mushka dưới gầm ghế thế nào cũng phải hùa theo đáp trả: “Rừ… nga-nga-nga…!”.

Lần uống trà này, cuộc tranh luận khởi nguồn từ việc Nikitin nhắc đến các kỳ thi ở trường.

– Xin lỗi anh nhé, Sergey Vassilitch – Varya ngắt lời anh. – Anh bảo là đề thi gây khó khăn cho lũ trẻ chứ gì. Thế xin hỏi anh ai là người gây ra chuyện đó? Lấy ví dụ như anh, anh lại giao cho học sinh lớp tám một bài luận mang tựa đề “Pushkin dưới góc độ một nhà tâm lý học”. Thứ nhất, anh không nên ra một đề bài hóc búa đến thế; và thứ hai, Pushkin vốn dĩ chẳng phải là một nhà tâm lý học. Schedrin ấy, hoặc giả như Dostoevsky chẳng hạn, thì lại là chuyện khác, chứ còn Pushkin suy cho cùng chỉ là một đại thi hào chứ chẳng gì hơn.

– Schedrin ra Schedrin, còn Pushkin ra Pushkin chứ – Nikitin hậm hực đáp.

– Tôi biết ở trường trung học các anh chẳng đánh giá cao Schedrin cho lắm, nhưng vấn đề không nằm ở đó. Anh hãy nói cho tôi nghe xem, Pushkin là nhà tâm lý học theo nghĩa nào chứ?

– Ơ hay, thế ý cô là ông ấy không phải nhà tâm lý học chắc? Nếu cô thích, tôi sẽ dẫn chứng hẳn hoi cho cô nghe.

Thế rồi Nikitin đọc dõng dạc mấy đoạn trích từ “Yevgeny Onegin” rồi đến “Boris Godunov”.

– Tôi chẳng thấy tí tâm lý học nào trong mấy vần thơ đó cả – Varya thở dài. – Nhà tâm lý học là người miêu tả những ngóc ngách sâu thẳm trong tâm hồn con người, còn dăm câu chữ ấy chẳng qua chỉ là thơ ca hay ho mà thôi.

– Tôi biết cô muốn tìm loại tâm lý học nào rồi đấy – Nikitin bực bội lên tiếng. – Cô muốn có kẻ nào đó dùng một cái cưa cùn để cưa đứt ngón tay tôi trong lúc tôi gào thét rách cổ họng lên – định nghĩa của cô về tâm lý học chính là thế chứ gì.

– Văn phong kém quá! Mà rốt cuộc thì anh vẫn chưa chứng minh được Pushkin là nhà tâm lý học theo nghĩa nào cơ mà?

Mỗi khi phải tranh cãi với những điều mà anh cho là hẹp hòi, khuôn sáo hoặc đại loại như thế, Nikitin thường vùng đứng phắt dậy, ôm chặt lấy đầu bằng cả hai tay rồi cất tiếng rên rỉ bước qua bước lại khắp phòng. Và lần này cũng vậy: anh chồm dậy, lấy hai tay ôm đầu, vừa rên rỉ vừa đi vòng quanh chiếc bàn rồi sà xuống ngồi ở một góc khuất hơn.

Đám sĩ quan liền đứng về phía anh. Đại úy Polyansky bắt đầu quả quyết với Varya rằng Pushkin quả thực là một nhà tâm lý học, và để chứng minh điều đó, hắn đã đọc liền hai câu thơ của Lermontov; Trung trung úy Gernet thì cho rằng nếu Pushkin không phải là nhà tâm lý học thì người ta đã chẳng dựng tượng vinh danh ông ở Moscow.

– Thật là thô lỗ hết chỗ nói! – tiếng vọng lên từ đầu bên kia bàn. – Chính tôi đã nói thẳng với ngài tỉnh trưởng như thế đấy: “Thưa ngài Thống đốc, đúng là đồ thô lỗ,” tôi đã bảo thế đấy.

– Tôi chẳng thèm tranh cãi với cô nữa đâu! – Nikitin kêu lên. – Chuyện này kéo dài bất tận… Thôi đủ lắm rồi! Ái chà, cút đi, con chó chết tiệt này! – anh quát lớn vào mặt con Som đang gác đầu và chân trước lên đầu gối mình.

– Rừ… nga-nga-nga! – âm thanh ấy lại phát ra từ dưới gầm bàn.

– Anh hãy thừa nhận là mình đã sai đi! – Varya giục giã. – Nhận lỗi đi chứ lị!

Nhưng đúng lúc đó mấy tiểu thư bước vào, thế là cuộc tranh luận tự khắc chìm xuồng. Cả bọn dắt díu nhau vào phòng khách. Varya ngồi vào đàn piano và bắt đầu tấu nhạc khiêu vũ. Họ nhảy mở màn bằng một điệu waltz, tiếp đến là polka, rồi quadrille với vòng xích lớn do Đại úy Polyansky dẫn dắt đi qua tất cả các phòng, và cuối cùng lại quay về với vũ điệu waltz.

Trong lúc mọi người đang khiêu vũ, mấy ông già ngồi thừ trong phòng khách hút thuốc và ngắm nhìn đám trẻ. Trong số đó có Shebaldin, giám đốc ngân hàng thành phố, nổi tiếng gần xa vì niềm đam mê văn chương và nghệ thuật kịch. Ông chính là người thành lập Hội Âm nhạc và Kịch nghệ địa phương, bản thân ông cũng tham gia diễn xuất, nhưng vì lý do nào đó mà ông chỉ đóng độc những vai gia nhân hề hoặc ngâm nga đọc sảng bài thơ “Người đàn bà tội lỗi” theo cái giọng đều đều như tụng kinh. Biệt danh của ông ở thị trấn này là “xác ướp”, bởi ông cao lêu khêu, gầy giơ xương và lúc nào ra điều nghiêm nghị cùng ánh mắt đờ đẫn, vô hồn. Ông đam mê nghệ thuật kịch đến mức cạo sạch cả ria lẫn râu, khiến cho diện mạo của ông càng trông giống hệt một cỗ xác ướp thật sự.

Sau màn xích đại, ông lết đến chỗ Nikitin với dáng đi nghiêng ngó, ho khan một tiếng rồi lên tiếng:

– Tôi có vinh dự được có mặt trong cuộc tranh luận bên bàn trà lúc nãy. Tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm của anh. Chúng ta cùng chí hướng, và sẽ là một niềm vinh hạnh lớn lao cho tôi nếu được chuyện trò với anh. Anh đã đọc tác phẩm bàn về nghệ thuật kịch Hamburg của Lessing chưa?

– Chưa, tôi chưa đọc.

Shebaldin vô cùng kinh hãi, xua tay rối rít cứ như thể vừa bị bỏng tay, và chẳng thốt thêm lời nào nữa, ông lủi thủi lùi xa Nikitin. Ngoại hình, câu hỏi cùng vẻ kinh ngạc của Shebaldin khiến Nikitin thấy buồn cười chết đi được, nhưng ngẫm lại anh vẫn tự nhủ:

– Quả thật là bất tiện thật đấy. Mình là giáo viên văn học mà cho đến tận hôm nay vẫn chưa hề đọc Lessing. Nhất định mình phải đọc mới được.

Trước bữa tối, toàn bộ hội đồng lớn bé quây quần lại chơi trò “số phận”. Họ dùng hai bộ bài: một bộ được phát đều cho mọi người, bộ còn lại úp mặt xuống đặt lên bàn.

– Kẻ nào cầm trên tay lá bài này – lão Shelestov bắt đầu với giọng điệu trang nghiêm, lật ngửa lá bài trên cùng của bộ thứ hai lên – sẽ có số phận phải đi vào phòng nhũ mẫu và hôn mụ một cái.

Vinh dự được hôn nhũ mẫu rơi trúng đầu Shebaldin. Tất cả xúm lại vây quanh ông, lôi ông vào phòng nhũ mẫu, vừa cười phá lên vừa vỗ tay rầm trời để ép ông phải hôn bà ta. Cả căn phòng chìm trong tiếng hô hoán và náo loạn tưng bừng.

– Đừng có nồng nhiệt quá thế chứ! – lão Shelestov cười đến chảy cả nước mắt la lên. – Đừng có cuồng nhiệt quá thế chứ lị!

Còn “số phận” của Nikitin là phải lắng nghe lời thổ lộ tâm sự từ tất cả mọi người. Anh ngồi trên một chiếc ghế đặt giữa phòng khách. Một chiếc khăn choàng được mang tới trùm kín lên đầu anh. Người đầu tiên bước đến để thổ lộ chính là Varya.

– Tôi thừa biết những tội lỗi của cô rồi – Nikitin cất lời, xuyên qua lớp bóng tối để nhìn vào gương mặt cương nghị của cô. – Xin hỏi thưa quý cô, cô giải thích thế nào về chuyện ngày nào cũng đi dạo cùng gã Polyansky thế hả? Ồ, chắc chắn chẳng phải tự dưng mà một tiểu thư lại chịu khó đi kè kè bên một tên kị binh hussar như thế đâu nhé!

– Văn phong kém quá – Varya phán một câu cụt lủn rồi bỏ đi.

Ngay sau đó, bên dưới tấm khăn choàng, anh thoáng thấy ánh lên đôi mắt to tròn bất động, bắt gặp những đường nét quen thuộc của một gương mặt thanh tú trong bóng tối, kèm theo thứ hương thơm thân thương quý giá gợi cho Nikitin nhớ đến căn phòng của Masha.

– Marie Godefroi – anh thì thầm, đến cả giọng mình mà anh cũng chẳng nhận ra nữa, sao mà dịu dàng và ngọt ngào đến thế – tội lỗi của em là gì nào?

Masha nheo nheo đôi mắt lại, lè chiếc lưỡi xinh xắn ra trêu anh rồi bụm miệng cười khà khà rồi chạy biến đi. Chỉ một phút sau, cô đã đứng ngay giữa căn phòng, vỗ tay reo hò inh ỏi:

– Dọn sơi thôi, dọn sơi thôi, ăn tối nào!

Thế là tất cả ùa cả vào phòng ăn. Vào bữa tối, Varya lại lôi bố ra tranh luận thêm một trận nữa. Polyansky điềm tĩnh cặm cụi ăn, uống rượu vang đỏ và kể lể cho Nikitin nghe về một lần trong chiến dịch mùa đông, hắn đã phải đứng ngâm mình suốt đêm dưới đầm lầy giá lạnh ngập tới đầu gối; quân địch đóng quân sát rạt đến mức họ không được phép cất tiếng nói hay châm thuốc hút, đêm hôm ấy vừa lạnh vừa tối đen như mực, từng cơn gió buốt thấu xương cứ thế rít lên từng hồi. Nikitin vừa lắng nghe vừa lén lút đưa mắt liếc sang Masha. Cô đang đăm đăm nhìn anh không chớp mắt, hệt như đang trầm ngâm suy tính điều gì hay chìm đắm trong cõi mộng mơ… Cảm giác ấy vừa mang lại cho anh niềm khoái cảm ngất ngây lại vừa đày ải anh trong sự dằn vặt khôn cùng.

– Sao em ấy cứ nhìn mình chằm chằm thế nhỉ? – câu hỏi ấy cứ dằn vặt tâm trí anh. – Kỳ cục thật đấy. Người ta nhìn thấy thì ngượng chết đi được. Ôi, sao mà ngây thơ, sao mà trẻ con đến thế cơ chứ!

Buổi tiệc tan lúc nửa đêm. Khi Nikitin bước ra đến cổng, một khung cửa sổ ở tầng trên bật mở, và Masha ló đầu ra ngoài gọi.

– Sergey Vassilitch ơi!

– Gì thế em?

– Em bảo cái này nhé… – Masha nói, có vẻ như đang cố vắt óc nghĩ xem nên nói gì. – Em bảo cái này nhé… Polyansky bảo là chỉ một hai ngày nữa hắn sẽ mang máy ảnh sang để chụp ảnh tất cả chúng ta đấy. Chúng ta phải tụ tập ở đây nhé.

– Được rồi em.

Masha biến khuất vào bên trong, khung cửa sổ sập lại đánh rầm một cái, và ngay lập tức có ai đó trong nhà lại bắt đầu dạo đàn piano.

– Quả là một cái nhà đúng nghĩa! – Nikitin thầm nghĩ trong lúc bước qua đường. – Một ngôi nhà chẳng có tiếng thở dài nào ngoại trừ tiếng rên rỉ từ lũ bồ câu Ai Cập, mà chúng kêu rên chẳng qua cũng chỉ vì chẳng còn cách nào khác để bày tỏ niềm vui sướng tột độ của mình đấy thôi!

Nhưng nhà Shelestov không phải là gia đình duy nhất ngập tràn không khí vui tươi hội hè. Nikitin chưa đi được hai trăm bước thì lại nghe thấy tiếng dương cầm vọng ra từ một ngôi nhà khác. Đi thêm một đoạn nữa, anh bắt gặp một bác nông dân đang ngồi gảy đàn balalaika ngay trước cổng. Từ phía hoa viên, ban nhạc lại bắt đầu tấu lên liên khúc những giai điệu Nga rộn rã.

Nhà Nikitin cách nhà Shelestov gần nửa dặm, ở một căn hộ rộng tám phòng với giá thuê ba trăm rúp một năm mà anh ở chung với đồng nghiệp của mình là Ippolit Ippolititch, một giáo viên dạy địa lý kiêm lịch sử. Khi Nikitin bước vào, gã Ippolit Ippolititch này – một kẻ trung niên mũi tẹt, râu ria hung đỏ, với gương mặt thô kệch, hiền lành nhưng đần độn chẳng khác nào một gã thợ thủ công – đang ngồi ì bên bàn để chấm bài vẽ bản đồ cho học sinh. Lão ta đinh ninh rằng phần quan trọng và cốt yếu nhất của việc học địa lý chính là vẽ bản đồ, còn môn lịch sử thì phải học thuộc lòng các niên đại: lão có thể ngồi thâu đêm suốt sáng để dùng bút chì xanh sửa mấy tấm bản đồ do lũ học trò nam nữ vẽ, hoặc ngồi cặm cụi kẻ các bảng niên biểu.

– Hôm nay thời tiết đẹp thật đấy anh nhỉ! – Nikitin bước vào và cất lời. – Tôi thật phục anh đấy – sao mà cứ ngồi lỳ trong nhà mãi được cơ chứ?

Ippolit Ippolititch vốn chẳng phải là người giỏi chuyện trò; lão ta hoặc là câm như hến, hoặc chỉ nói về những chuyện mà ai ai cũng đã biết rõ mười mươi. Và câu trả lời của lão lúc này cũng rập khuôn như thế:

– Vâng, thời tiết rất đẹp. Bây giờ đã là tháng năm rồi; chẳng mấy chốc chúng ta sẽ bước vào mùa hè chính thức. Mà mùa hè thì khác hẳn mùa đông chứ. Mùa đông thì phải đốt lò sưởi, còn mùa hè thì chẳng cần sưởi vẫn ấm. Mùa hè ban đêm cứ mở toang cửa sổ ra mà vẫn thấy ấm áp, chứ mùa đông thì dù có lắp hai lớp cửa kính vẫn lạnh thấu xương.

Nikitin ngồi xuống bàn chưa đầy một phút đã thấy chán ngấy đến tận cổ.

– Chúc anh ngủ ngon nhé! – anh vừa đứng dậy vừa ngáp dài ngáp ngắn. – Tôi vốn định kể cho anh nghe đôi chút chuyện lãng mạn của riêng tôi, ngặt nỗi anh lại mang cái đầu óc… địa lý khô khan quá! Cứ hễ nói chuyện yêu đương với anh là thế nào anh cũng chém bổ ngay câu: “Trận chiến sông Kalka diễn ra vào năm nào thế?”. Tiên sư cái bộ dạng suốt ngày chỉ biết chiến tranh với các mũi đất ở Siberia của anh!

– Cậu nổi sùng lên vì chuyện gì thế nhỉ?

– Hừ, bực mình lắm chứ lị!

Và vì quá bực bội vì chuyện mình vẫn chưa mở lời với Masha, lại chẳng có ai để bầu bạn giãi bày tâm sự chuyện tình yêu, anh bước thẳng vào phòng làm việc rồi ngã người nằm dài lên chiếc ghế sofa. Căn phòng tối mò và tĩnh lặng. Nằm trân trân nhìn vào bóng tối, chẳng hiểu sao Nikitin lại bắt đầu tưởng tượng ra cảnh độ hai ba năm nữa mình sẽ lên đường đi Petersburg, Masha sẽ ra tận nhà ga tiễn anh và khóc nghẹn ngào; khi đến Petersburg anh sẽ nhận được một bức thư dài to oạch của cô, trong đó cô nài nỉ anh hãy mau chóng trở về nhà. Rồi anh sẽ viết thư hồi âm cho cô… Anh sẽ mở đầu bức thư thế này: “Con chuột nhắt yêu quý của anh ơi!”

– Đúng thế, con chuột nhắt yêu quý của anh! – anh lẩm bẩm rồi bật cười.

Tư thế nằm lúc đó thật chẳng thoải mái chút nào. Anh luồn tay ra sau gáy để gối đầu và gác thòng chân trái lên tựa lưng ghế sofa. Thế này thì dễ chịu hơn rồi. Trong khi đó, ánh sáng mờ ảo ngoài cửa sổ ngày một rõ rệt hơn, tiếng những con gà trống ngái ngủ bắt đầu gáy vang ngoài sân. Nikitin lại miên man nghĩ tiếp cảnh mình trở về từ Petersburg, Masha sẽ ra ga đón anh và thét lên vì sung sướng rồi ôm chầm lấy cổ anh; hoặc hay hơn nữa là anh sẽ chơi trò đánh lừa cô, cứ lén lút trở về nhà vào lúc nửa đêm muộn: mụ đầu bếp mở cửa cho anh, rồi anh sẽ nhón chân rón rén bước vào phòng ngủ, lặng lẽ cởi đồ rồi nhảy phắt lên giường! Để rồi khi cô tỉnh giấc sẽ vỡ òa trong niềm hạnh phúc khôn tả.

Trời đã bắt đầu hửng sáng hẳn. Quanh đây chẳng còn khung cửa sổ hay phòng làm việc nào nữa. Trên bậc thềm nhà máy bia mà họ đã cưỡi ngựa ngang qua hôm ấy, Masha đang ngồi đó và nói năng gì không rõ. Rồi cô nắm lấy tay Nikitin dẫn đi đến khu hoa viên ngoại ô. Ở đó anh lại nhìn thấy những tán sồi và những cái tổ quạ trông hệt như mấy chiếc mũ chóp. Một chiếc tổ bỗng lắc lư chao đảo; từ trong đó Shebaldin ngó đầu ra, dõng dạc thét lớn: “Anh vẫn chưa đọc Lessing!”

Nikitin giật nảy cả mình và bừng mắt tỉnh giấc. Ippolit Ippolititch đang đứng ngay trước chiếc ghế sofa, ngửa cổ chỉnh lại chiếc cà vạt.

– Dậy đi thôi, đến giờ đến trường rồi đấy – lão ta cất giọng. – Cậu không nên cứ mặc nguyên quần áo mà ngủ thế này; hỏng hết quần áo đấy. Phải cởi đồ ra rồi ngủ trên giường cơ.

Và cũng như mọi khi, lão bắt đầu chậm rãi và nhấn mạnh từng tiếng để nhắc lại những điều mà ai ai cũng đã quá rõ.

Tiết học đầu tiên của Nikitin là môn Ngữ văn Nga lớp hai. Khi đồng hồ điểm đúng chín giờ cũng là lúc anh bước vào lớp, đập vào mắt anh trên tấm bảng đen là hai chữ cái viết hoa to đùng: M. S. Điều đó chẳng cần phải bàn cãi gì thêm, chính là Masha Shelestov.

– Mấy thày ranh con này thính mũi thật đấy… – Nikitin thầm nghĩ. – Sao mà chúng nó cái gì cũng hóng hớt được thế không biết?

Tiết học thứ hai diễn ra ở lớp năm. Và ngay trên tấm bảng đen ấy, hai chữ cái M. S. lại hiện lù lù; để rồi khi chuông reo báo hiệu kết thúc tiết học và anh vừa bước chân ra khỏi cửa lớp, từ phía sau lưng vang lên tiếng hò reo inh ỏi hệt như ở trên khán đài nhà hát:

– Hoan hô Masha Shelestov!

Cơn buồn ngủ do mặc nguyên quần áo đi ngủ khiến đầu óc anh nặng trĩu, chân tay rã rời chẳng muốn nhấc. Lũ học trò đang đếm ngược từng ngày chờ đến kỳ nghỉ hè trước thềm thi cử nên chẳng thiết tha học hành gì, đứa nào đứa nấy bứt rứt không yên và buồn chán đến mức giở trò phá phách. Bản thân Nikitin cũng trong trạng thái bứt rứt khôn tả, anh chẳng màng để mắt đến những trò đùa nghịch của chúng mà cứ liên tục hướng mắt ra ngoài cửa sổ. Từ đây có thể nhìn thấy con đường ngập tràn ánh nắng rực rỡ; bầu trời xanh trong vắt trải rộng trên những mái nhà, đàn chim chóc bay lượn, và xa tít tắp tận chân trời đằng sau những khu hoa viên và dãy nhà là một khoảng không gian mênh mông vô định, những cánh rừng mờ ảo trong làn sương lam, cùng làn khói tàu hỏa đang lướt qua…

Kìa hai vị sĩ quan mặc áo tunik trắng, vừa vung vẩy roi ngựa vừa thong thả bước đi trên phố dưới bóng râm của hàng cây keo. Kìa một đám người Do Thái với bộ râu muối tiêu và đội mũ trùm đầu đang ngồi trên chiếc xe ngựa chở hàng chạy qua… Nữ gia sư đang dắt cháu gái vị giám đốc đi dạo. Con Som lướt qua cùng hai con chó khác… Và rồi Varya mặc chiếc váy xám giản dị đi đôi tất đỏ, tay cầm cuốn tạp chí “Vyestnik Evropi”, cũng thong thả bước ngang qua. Chắc hẳn cô vừa đi thư viện thành phố về…

Cho đến tận ba giờ chiều thì bao giờ mới tan lớp cho được! Mà ngặt nỗi tan trường rồi anh cũng chẳng được về nhà hay sang nhà Shelestov ngay đâu nhé, vì còn phải đếnạy gia sư cho nhà Wolf. Hắn ta là một tay tỷ phú người Do Thái đã cải đạo sang phu-tin-lăng, không cho con cái theo học trường công mà thuê hẳn các giáo viên trường trung học về nhà kèm cặp, trả mức thù lao hậu hĩnh năm rúp cho một buổi dạy.

Anh thấy chán, chán ngắt và chán đến tột cùng.

Đúng ba giờ, anh lê bước sang nhà Wolf và trải qua ở đó khoảng thời gian dài đằng đẵng như cả một cõi vĩnh hằng. Tới năm giờ anh mới lết được cái thân xác ra về, để rồi chưa đầy bảy giờ tối lại phải quay lại trường trung học họp hội đồng giáo viên nhằm lên kế hoạch cho kỳ thi vấn đáp của các khối lớp bốn và lớp sáu.

Khi buổi họp muộn màng kết thúc và Nikitin rảo bước hướng về nhà Shelestov, tim anh đập thình thịch và gương mặt đỏ bừng lên vì hồi hộp. Cách đây một tháng, thậm chí chỉ mới tuần trước thôi, cứ mỗi lần hạ quyết tâm ngỏ lời với cô là anh lại chuẩn bị sẵn sàng một bài văn dài dằng dặc có cả phần mở đầu lẫn kết luận. Thế mà lúc này, trong đầu anh chẳng còn sót lại nổi một chữ bẻ đôi; mọi thứ cứ lẫn lộn tung beng cả lên, và điều duy nhất anh nhận thức rõ là ngày hôm nay anh nhất định phải tỏ tình cho bằng được, bởi chẳng thể nào chần chừ thêm được nữa rồi.

– Mình sẽ bảo cô ấy ra hoa viên – anh thầm nghĩ – hai đứa sẽ đi dạo một lát rồi mình sẽ nói chuyện chính sự.

Sảnh ngoài vắng tanh vắng ngắt chẳng một bóng người; anh bước thẳng vào phòng ăn rồi tiến sang phòng khách… Ở đó cũng chẳng có lấy một mống. Anh chỉ nghe văng vẳng tiếng Varya đang đôi co tranh luận với ai đó ở trên lầu cùng tiếng kéo cắt vải lách cách của thợ may phát ra từ phòng nhũ mẫu.

Trong nhà có một căn phòng nhỏ mang tới ba cái tên lóng: phòng nhỏ, phòng thông phỏng, và phòng tối. Nơi đó kê một chiếc tủ lớn chuyên dùng để chứa thuốc men, thuốc súng cùng dụng cụ săn bắn. Nối từ căn phòng này lên tầng hai là một chiếc cầu thang gỗ chật hẹp, nơi lũ mèo vẫn thường hay nằm ngủ cuộn tròn. Phòng có hai cánh cửa – một cửa dẫn vào phòng nhũ mẫu, cửa kia dẫn ra phòng khách. Khi Nikitin vừa bước vào căn phòng này để chuẩn bị lên lầu, cánh cửa thông từ phòng nhũ mẫu bỗng mở tung rồi sập lại đánh rầm một phát làm rung chuyển cả cầu thang lẫn chiếc tủ đựng đồ; Masha mặc chiếc váy sẫm màu, tay cầm khúc vải xanh sải bước chạy vào, và vì không để ý có Nikitin đang đứng đó, cô lao thốc lao tháo về phía cầu thang.

– Khoan đã nào… – Nikitin cất tiếng chặn cô lại. – Chào em, Godefroi… Cho phép anh… nhé.

Anh thở dốc, chẳng biết phải mở lời thế nào cho phải; một tay anh tóm lấy bàn tay cô, tay kia giữ lấy súc vải xanh. Còn cô thì vừa sợ hãi lại vừa ngạc nhiên tột độ, trân trân mở to đôi mắt nhìn anh.

– Cho phép anh… – Nikitin tiếp tục nói, nỗi sợ cô bỏ chạy lấn át cả tâm trí. – Anh có chuyện bắt buộc phải nói với em… Chỉ có điều… ở đây bất tiện quá. Anh không thể nói được, lực bất tòng tâm… Em hiểu chứ Godefroi, anh chịu chết không thể nói nổi thế thôi…

Súc vải xanh tuột khỏi tay rơi uỵch xuống sàn, và Nikitin chộp nốt bàn tay bên kia của Masha. Cô tái mặt đi, đôi môi mím chặt rồi lùi phắt lại phía sau, để rồi lưng dán vào góc kẹt giữa bức tường và chiếc tủ lớn.

– Anh lấy danh dự ra thề với em đấy… – anh thì thầm. – Masha à, xin lấy danh dự của anh… tề…

Cô ngửa phắt đầu ra sau và anh cúi xuống đặt lên môi cô một nụ hôn, và để nụ hôn ấy kéo dài thêm chút nữa, anh luồn những ngón tay áp sát vào hai gò má cô; để rồi chẳng biết từ lúc nào chính thân hình anh cũng lọt thỏm vào góc tường chật hẹp giữa chiếc tủ và vách nhà, còn cô thì vòng tay ôm chặt lấy cổ anh, áp sát trán vào cằm anh.

Đoạn cả hai dắt tay nhau chạy ào ra khu hoa viên. Khu hoa viên nhà Shelestov rộng tới chín mẫu đất lận. Trong đó mọc khoảng chừng hai mươi gốc phong và cây đoạn cổ thụ; chỉ có duy nhất một cây thông, còn lại toàn là cây ăn quả: anh đào, táo, lê, dẻ ngựa, và cả những rặng ô-liu bạc lá… Khắp nơi ngập tràn những khóm hoa rực rỡ.

Nikitin và Masha cứ thế im lặng rảo bước dọc theo các lối đi ngập bóng cây, thỉnh thoảng họ lại nhìn nhau cười khúc khích, buông ra những câu hỏi lơ lửng chẳng đầu chẳng cuối rồi cũng chẳng thèm đợi người kia đáp lời. Ánh trăng lưỡi liềm bàng bạc chiếu rọi khắp khu hoa viên, đánh thức những đóa tulip và diên vĩ đang ngái ngủ vươn mình dậy từ thảm cỏ tối sẫm trong thứ ánh sáng mờ ảo, hệt như đang khẩn khoản cầu xin những lời tình tứ dịu ngọt dành riêng cho chúng.

Lúc Nikitin và Masha quay trở vào nhà, đám sĩ quan cùng các tiểu thư đã tề tựu đông đủ và đang nhún nhảy điệu mazurka. Lại một lần nữa Polyansky dẫn đầu đoàn người thực hiện vòng xích lớn qua khắp các gian phòng, và sau màn khiêu vũ họ lại tiếp tục trò chơi “số phận”. Trước bữa tối, khi các vị khách đã kéo nhau sang phòng ăn, Masha đứng ở lại một mình với Nikitin, cô nép sát vào người anh và thì thầm:

– Anh phải tự mình thưa chuyện với bố và chị Varya đấy nhé; em ngượng lắm.

Xong bữa tối, anh tìm gặp ông bố già để giãi bày sự việc. Sau khi lắng nghe mọi chuyện, lão Shelestov trầm ngâm suy nghĩ một lát rồi cất giọng:

– Tôi rất lấy làm cảm kích trước vinh dự mà anh dành cho tôi cũng như con gái tôi, nhưng xin phép cho tôi được trao đổi với anh như những người bạn nhé. Tôi sẽ nói chuyện với anh không phải với tư cách một người cha, mà là một người đàn ông nói chuyện với một người đàn ông. Nói cho tôi nghe xem nào, tại sao ở độ tuổi trẻ măng thế này mà anh đã vội lấy vợ làm gì? Chỉ có mấy tay nông dân mới cưới vợ sớm như thế, và chuyện đó dĩ nhiên là thứ thái độ thô lỗ chẳng ra gì. Thế nhưng anh thì dựa vào đâu? Khoái thú gì cái việc tự tròng chiếc vòng xiềng xích vào cổ khi tuổi đời còn trẻ thế hả cậu?

– Cháu đâu còn trẻ nữa ạ! – Nikitin bị chạm tự ái nên lên tiếng cự nự. – Cháu đang bước sang tuổi hai mươi bảy cơ mà.

– Bố ơi, thợ đóng móng ngựa tới rồi kìa! – tiếng Varya vọng ra từ căn phòng bên cạnh.

Thế là câu chuyện đành phải ngắt quãng giữa chừng. Varya, Masha và Polyansky là những người tiễn Nikitin ra tận cửa về. Khi họ vừa đặt chân đến cổng nhà anh, Varya cất giọng hỏi:

– Sao cái gã Metropolit Metropolititch bí ẩn nhà anh chẳng bao giờ chịu xuất hiện ở đâu thế hả? Lâu lâu gã cũng phải ghé sang chơi nhà tôi chứ lị.

Gã Ippolit Ippolititch bí ẩn lúc bấy giờ đang ngồi ngay trên mép giường cởi chiếc quần dài ra thì Nikitin bước vào.

– Anh đừng vội đi ngủ nhé, bạn tôi ơi! – Nikitin thở hổn hển lên tiếng. – Dừng lại một lát đã, đừng vội leo lên giường đi ngủ!

Ippolit Ippolititch cuống cuồng mặc vội chiếc quần vào rồi hốt hoảng hỏi:

– Có chuyện gì thế hả cậu?

– Tôi sắp lấy vợ rồi.

Nikitin sà xuống ngồi phịch bên cạnh bạn mình, đưa mắt nhìn lão với vẻ kinh ngạc tột độ hệt như chính bản thân anh cũng không thể tin nổi, rồi thốt lên:

– Cậu có tượng tượng nổi không cơ chứ, tôi sắp lấy vợ rồi đấy! Lấy Masha Shelestov cơ đấy! Hôm nay tôi vừa mới ngỏ lời xong.

– Thế à? Con bé trông cũng có vẻ ngoan ngoãn tử tế đấy chứ. Chỉ có điều còn trẻ người non dạ quá.

– Vâng, em ấy còn trẻ lắm – Nikitin thở dài thườn thượt, nhún vai ra chiều lo lắng thái quá. – Trẻ lắm, trẻ lắm cơ!

– Hồi xưa con bé từng là học sinh trường tôi mà. Tôi lạ gì nó nữa. Môn địa lý thì học cũng khá, nhưng môn lịch sử thì lẹt đẹt chẳng ra gì. Lên lớp lại hay mất tập trung nữa chứ.

Chẳng hiểu sao lúc đó Nikitin lại đâm ra thương hại người bạn cùng phòng của mình đến thế, anh thầm khao khát được thốt lên một lời nào đó thật tử tế và an ủi lão.

– Này anh bạn, sao anh không chịu lấy vợ đi cơ chứ? – anh cất tiếng hỏi. – Lấy Varya chẳng hạn này? Cô ấy là một cô gái tuyệt vời, hạng nhất đấy chứ bộ! Dù rằng đúng là cô ấy rất hay tranh luận cãi vã, nhưng trái tim… ôi chao cái trái tim ấy! Vừa nãy cô ấy mới nhắc hỏi về anh đấy. Cưới xừ cô ấy đi cậu bạn trẻ ạ! Thế nào?

Anh thừa biết tỏng là Varya đời nào thèm lấy cái gã mặt mũi tẹt ngơ ngẩn này, thế mà anh vẫn cứ gạ gẫm lão lấy cho bằng được – hà cớ làm sao chứ?

– Hôn nhân là một bước ngoặt hệ trọng – Ippolit Ippolititch ngẫm nghĩ một hồi lâu rồi mới điềm đạm đáp. – Người ta cần phải nhìn nhận vấn đề dưới mọi góc độ và cân nhắc thật thấu đáo mọi bề; chứ không thể làm bừa theo kiểu dốc túi hành động được. Sự thận trọng luôn là điều hữu ích, nhất là trong chuyện vợ chồng, khi một người giã từ cuộc sống độc thân để bước sang một trang đời hoàn toàn mới.

Và lão lại bắt đầu huyên thuyên về những điều mà thiên hạ đã nhẵn mặt từ thủa đời nào. Nikitin chẳng buồn lắng nghe nữa, cất tiếng chúc ngủ ngon rồi lủi thủi bước về phòng riêng. Anh nhanh chóng cởi bỏ y phục trèo lên giường để có thể sớm thả hồn suy tưởng về niềm hạnh phúc của mình, về Masha, về tương lai ngời sáng; miệng anh nhoẻn cười, để rồi ngay khoảnh khắc tiếp theo chợt sực nhớ ra là mình vẫn chưa đọc Lessing.

– Nhất định mình phải đọc lão ta mới được – anh thầm nhủ. – Mà suy cho cùng thì… sao cứ phải khổ sở thế nhỉ? Mặc xác lão đi!

Và kiệt sức vì niềm hạnh phúc ngập tràn, anh chìm ngay vào giấc ngủ sâu và cứ giữ nguyên nụ cười trên môi cho đến tận sáng hôm sau.

Trong giấc mơ, anh lại nghe thấy tiếng móng ngựa nện um um trên sàn gỗ; anh mơ thấy con ngựa ô Count Nulin, rồi con ngựa bạch Giant cùng cô em gái Maika của nó lần lượt được dắt ra khỏi chuồng.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Anton Pavlovich Chekhov

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.