Vào buổi sáng ngày 6 tháng 10 năm 1885, một thanh niên ăn mặc lịch sự đến văn phòng cảnh sát trưởng khu vực 2 của quận S., thông báo rằng chủ nhân của mình, một cựu sĩ quan cận vệ đã nghỉ hưu tên là Mark Ivanovitch Klyauzov, đã bị sát hại. Khi đưa ra thông báo này, chàng trai trông xanh xao và vô cùng hoảng loạn. Tay anh ta run rẩy và ánh lên vẻ kinh hoàng trong đáy mắt.
– Tôi đang vinh hạnh nói chuyện với ai đây? – Viên cảnh sát trưởng hỏi.
– Psyekov, quản gia của Klyauzov. Chuyên gia nông nghiệp và kỹ thuật.
Cảnh sát trưởng, sau khi đến hiện trường cùng Psyekov và những nhân chứng cần thiết, đã ghi nhận tình hình như sau.
Đông đảo người dân đang tụ tập quanh ngôi nhà nhỏ nơi Klyauzov sinh sống. Tin tức về sự việc đã lan truyền khắp vùng nhanh như chớp, và nhân ngày nghỉ lễ, người dân từ các làng lân cận đang đổ xô đến căn nhà nhỏ. Tiếng bàn tán xôn xao cả một góc. Lộ diện đây đó là những gương mặt tái nhợt và đẫm nước mắt. Cánh cửa phòng ngủ của Klyauzov bị khóa. Chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa phía bên trong.
– Rõ ràng là bọn tội phạm đã đột nhập qua cửa sổ – Psyekov nhận xét khi họ kiểm tra cánh cửa.
Họ đi ra khu vườn hướng về phía cửa sổ phòng ngủ. Cửa sổ mang một vẻ u ám, điềm gở. Nó được che bởi một tấm rèm màu xanh đã phai màu. Một góc rèm bị lật nhẹ lên, cho phép người ta nhìn trộm vào phòng ngủ.
– Có ai trong các anh nhìn vào cửa sổ chưa? – Cảnh sát trưởng hỏi.
– Dạ thưa ngài, chưa ạ – Yefrem, người làm vườn, một ông lão nhỏ người, tóc điểm bạc với gương mặt của một cựu hạ sĩ quan thưa. – Chẳng ai dám nhìn khi mà chân tay cứ run lẩy bẩy cả!
– Chà, Mark Ivanitch! Mark Ivanitch! – Cảnh sát trưởng thở dài khi nhìn vào ô cửa sổ. – Tôi đã bảo anh rồi, anh sẽ chuốc lấy một kết cục tồi tệ! Tôi đã nói với anh, tội nghiệp chưa kìa—vậy mà anh chẳng nghe! Trác táng thì chẳng đưa lại điều gì tốt đẹp đâu!
– Nhờ có Yefrem cả đấy ạ – Psyekov nói. – Chúng tôi sẽ chẳng bao giờ đoán ra nếu không có bác ấy. Chính bác ấy là người đầu tiên nghĩ rằng có điều gì đó bất thường. Sáng nay bác ấy đến gặp tôi và bảo: “Sao chủ nhân của chúng ta mãi vẫn chưa thức giấc nhỉ? Ngài ấy đã không bước ra khỏi phòng ngủ suốt cả tuần nay rồi!”. Khi bác ấy nói câu đó với tôi, tôi điếng cả người... Ý nghĩ ấy lập tức lóe lên trong đầu tôi. Ngài ấy đã không xuất hiện kể từ thứ Bảy tuần trước, và hôm nay là Chủ nhật. Bảy ngày trời chứ ít gì!
– Phải, tội nghiệp anh ấy – Cảnh sát trưởng lại thở dài. – Một kẻ thông minh, học thức, lại tốt bụng vô cùng. Có thể nói chẳng ai sánh được với anh ấy trong các buổi tiệc tùng. Nhưng lại là một kẻ phóng đãng, cầu Chúa phù hộ cho linh hồn anh ấy! Tôi chẳng thấy ngạc nhiên với bất cứ chuyện gì xảy ra cho anh ta nữa! Stepan – ông gọi, quay sang hướng một trong các nhân chứng – cậu hãy phi ngựa ngay lập tức về nhà tôi và bảo Andryushka đến chỗ quan cảnh sát trưởng, hãy để nó báo cáo với ngài ấy. Nói là Mark Ivanitch đã bị sát hại! À vắng cả thanh tra nữa – sao ông ta cứ ngồi thảnh thơi chẳng làm gì thế? Hãy bảo ông ta đến đây. Còn cậu, hãy tự mình phóng thật nhanh đến chỗ quan tòa án, Nikolay Yermolaitch, và bảo ngài ấy đến đây. Chờ một lát, tôi sẽ viết cho ngài ấy một vài chữ.
Cảnh sát trưởng bố trí lính canh xung quanh ngôi nhà nhỏ, rồi đi sang nhà quản gia uống trà. Mười phút sau, ông đang ngồi trên một chiếc đẩu, cẩn thận nhấm nháp từng viên đường và hớp ngụm trà nóng bỏng rẫy như than hồng.
– Đấy! ... – ông nói với Psyekov – đấy!... một quý ông, lại dư dả nữa chứ... có thể nói là đứa con cưng của các vị thần, mượn theo cách diễn đạt của Pushkin, vậy mà anh ta đã chuốc lấy cái gì chứ? Chẳng gì cả! Anh ta chìm đắm trong rượu chè và trụy lạc, rồi... để rồi giờ đây... anh ta đã bị sát hại!
Hai tiếng sau, quan tòa án đánh xe tới. Nikolay Yermolaitch Tchubikov (tên của vị quan tòa), một lão ông cao lớn, vạm vỡ ở tuổi sáu mươi, đã làm việc cật lực suốt một phần tư thế kỷ. Ông nổi tiếng khắp vùng là một người trung thực, thông minh, tháo vát và tận tụy với công việc. Người đồng hành, phụ tá kiêm thư ký bất ly thân của ông, một thanh niên cao lớn mới hai mươi sáu tuổi tên là Dyukovsky, cũng đến hiện trường cùng ông.
– Có thể thế được sao, các thưa ngài? – Tchubikov cất lời khi bước vào phòng Psyekov và nhanh chóng bắt tay mọi người. – Có thể thế được sao? Mark Ivanitch? Bị sát hại? Không, điều đó là không thể! Không-thể-nào!
– Thế đấy ạ – Cảnh sát trưởng thở dài.
– Chúa từ bi! Sao cơ chứ, tôi mới gặp anh ấy vào thứ Sáu tuần trước mà. Ở hội chợ Tarabankovo! Xin lỗi các vị, tôi đã uống với anh ấy một ly vodka đấy!
– Thế đấy – Cảnh sát trưởng lại thở dài thêm lần nữa.
Họ cùng nhau thở dài, bày tỏ sự kinh hoàng, mỗi người uống một ly trà rồi đi ra ngôi nhà nhỏ.
– Tránh đường ra! – Viên thanh tra cảnh sát quát lớn vào đám đông.
Khi bước vào ngôi nhà nhỏ, quan tòa án trước hết bắt tay vào việc kiểm tra cánh cửa dẫn vào phòng ngủ. Cánh cửa hóa ra làm bằng gỗ thông, sơn màu vàng, và hoàn toàn không có dấu hiệu bị cạy phá. Chẳng tìm thấy dấu vết đặc biệt nào có thể dùng làm bằng chứng. Họ tiến hành phá cửa.
– Xin các vị, những ai không có nhiệm vụ, vui lòng lui ra ngoài – quan tòa án nói, khi sau những tiếng đập và nứt gãy dài, cánh cửa cũng chịu khuất phục trước chiếc rìu và cái đục. – Tôi yêu cầu điều này vì lợi ích của cuộc điều tra.... Thanh tra, không cho ai vào cả!
Tchubikov, phụ tá của ông, và viên cảnh sát trưởng đẩy cửa và ngập ngừng, từng người một bước vào căn phòng. Một cảnh tượng sau đập vào mắt họ. Ngay cửa sổ đơn độc kê một chiếc giường gỗ lớn với chiếc đệm lông vũ khổng lồ. Trên chiếc đệm lông vũ nhàu nỉ nằm một chiếc chăn bông đã nhăn nhúm và nhàu nát. Một chiếc gối nằm trong vỏ gối bằng vải bông — cũng nhàu nát không kém — đang nằm dưới sàn. Trên chiếc bàn nhỏ cạnh giường đặt một chiếc đồng hồ bạc, và những đồng xu bạc trị giá hai mươi kopeck. Vài que diêm lưu huỳnh cũng nằm ở đó. Ngoại trừ chiếc giường, cái bàn và một chiếc ghế đơn độc, trong phòng chẳng còn đồ đạc nào khác. Nhìn xuống dưới gầm giường, cảnh sát trưởng thấy hai tá chai lọ rỗng, một chiếc mũ rơm cũ và một bình vodka. Dưới gầm bàn có một chiếcếc giày đắp đầy bụi bặm. Đưa mắt quan sát căn phòng, Tchubikov cau mày và đỏ bừng mặt.
– Lũ khốn kiếp! – Ông lầm bầm, siết chặt hai tay thành nắm đấm.
– Thế còn Mark Ivanitch đâu? – Dyukovsky điềm tĩnh hỏi.
– Tôi yêu cầu anh đừng có xen mỏ vào – Tchubikov cộc cằn đáp. – Xin vui lòng kiểm tra sàn nhà đi. Đây là vụ thứ hai trong đời làm án của tôi, Yevgraf Kuzmitch – ông nói thêm với viên cảnh sát trưởng, hạ thấp giọng xuống. – Năm 1870 tôi đã gặp một vụ tương tự. Nhưng chắc chắn anh còn nhớ... Vụ sát hại thương gia Portretov. Nó y hệt như thế này. Bọn khốn đã sát hại ông ta, rồi lôi cái xác ra khỏi cửa sổ.
Tchubikov tiến lại phía cửa sổ, kéo tấm rèm sang một bên và thận trọng đẩy cửa sổ ra. Cửa sổ bật mở.
– Nó mở được, vậy là không cài then... Hừm, có dấu vết trên bệ cửa sổ. Anh thấy không? Đây là vết của đầu gối... Ai đó đã trèo ra ngoài... Chúng ta sẽ phải kiểm tra thật kỹ cửa sổ này.
– Chẳng có gì đặc biệt trên sàn nhà cả – Dyukovsky nói. – Không có vết bẩn, cũng chẳng có vết trầy xước nào. Thứ duy nhất tôi tìm thấy là một que diêm Thụy Điển đã qua sử dụng. Nó đây. Theo tôi nhớ thì Mark Ivanitch không hút thuốc; nhìn chung ngài ấy dùng diêm lưu huỳnh, chứ không bao giờ dùng diêm Thụy Điển. Que diêm này có thể dùng làm manh mối đấy...
– Ôi, làm ơn im miệng đi! – Tchubikov kêu lên, xua tay một cái. – Cậu ta cứ lải nhải mãi về que diêm của mình! Tôi không thể chịu nổi những kẻ dễ kích động này! Thay vì đi tìm diêm, tốt hơn là cậu nên kiểm tra cái giường đi!
Khi kiểm tra chiếc giường, Dyukovsky báo cáo:
– Không có vết máu hay vết gì khác trên này cả... Cũng chẳng có chỗ nào bị rách mới. Trên gối có dấu răng. Một chất lỏng có mùi bia và cả vị của nó nữa đã bị đổ lên chăn bông... Diện mạo chung của chiếc giường cho căn cứ để cho rằng đã có một cuộc giằng co xảy ra ở đây.
– Tôi thừa biết có cuộc giằng co mà chẳng cần cậu phải nhắc! Chẳng ai hỏi cậu xem có cuộc giằng co nào hay không. Thay vì đi tìm kiếm mấy thứ giằng co, tốt hơn là cậu nên...
– Một chiếc giày ở đây, chiếc kia không có mặt tại hiện trường.
– Chà, thì sao chứ?
– Chà, chắc chắn chúng đã siết cổ ông ấy trong lúc ông ấy đang cởi giày. Ông ấy chưa kịp cởi chiếc giày thứ hai thì...
– Lại bắt đầu nữa rồi!... Và làm sao mà cậu biết được là ông ấy bị siết cổ?
– Có dấu răng trên gối. Bản thân chiếc gối rất nhàu nát và đã bị văng ra cách giường tới sáu bước chân.
– Hắn ta lại tranh luận kìa, cái đồ nhiều chuyện! Chúng ta ra vườn thì hơn. Cậu nên ra vườn tìm kiếm thì hơn là cứ lục lọi ở đây... Tôi có thể làm việc đó mà không cần sự trợ giúp của cậu.
Khi họ bước ra vườn, việc đầu tiên cần làm là kiểm tra thảm cỏ. Bãi cỏ đã bị giẫm nát dưới các khung cửa sổ. Bụi cây ngưu bàng mọc áp vào tường ngay dưới cửa sổ hóa ra cũng bị giẫm đạp lên. Dyukovsky đã tìm thấy trên đó một vài chồi cây bị gãy và một nhúm bông gòn nhỏ. Trên những quả ngưu bàng cao nhất, một vài sợi chỉ màu xanh đậm đã được tìm thấy.
– Bộ đồ cuối cùng của ông ấy màu gì vậy? – Dyukovsky hỏi Psyekov.
– Màu vàng, làm bằng vải bạt ạ.
– Tuyệt! Vậy chính là bọn chúng, những kẻ mặc đồ xanh đậm rồi...
Vài quả ngưu bàng được cắt ra và bọc cẩn thận trong giấy. Đúng lúc đó, Artsybashev-Svistakovsky, quan cảnh sát trưởng, và Tyutyuev, viên bác sĩ, đã tới nơi. Viên cảnh sát trưởng chào mọi người và ngay lập tức tiến hành thỏa mãn sự tò mò của mình; còn viên bác sĩ, một người đàn ông cao và gầy đét với đôi mắt trũng sâu, chiếc mũi dài và cái cằm nhọn, chẳng chào ai cũng chẳng hỏi han gì, liền ngồi xuống một khúc gỗ mục, thở dài rồi nói:
– Người Serbia lại đang náo loạn lên rồi! Tôi không tài nào hiểu nổi họ muốn gì nữa! Ái chà, Áo với chả Áo! Tất cả là do các anh gây ra cả đấy!
Việc kiểm tra cửa sổ từ bên ngoài hoàn toàn không đem lại kết quả gì; việc kiểm tra thảm cỏ và các bụi cây xung quanh lại cung cấp rất nhiều manh mối giá trị. Chẳng hạn, Dyukovsky đã phát hiện ra một vệt dài sẫm màu trên thảm cỏ, bao gồm các vết bẩn, kéo dài từ cửa sổ ra sâu trong vườn tới vài yard. Vệt dài kết thúc dưới một trong những bụi tử đinh hương bằng một vết bẩn lớn ngả màu nâu. Ngay dưới bụi cây đó, người ta tìm thấy một chiếc giày, hóa ra chính là chiếc đôi với chiếc được tìm thấy trong phòng ngủ.
– Đây là một vết máu cũ – Dyukovsky nói khi kiểm tra vết bẩn.
Vừa nghe đến từ “máu”, vị bác sĩ liền đứng dậy và lười biếng liếc qua vết bẩn một cách hời hợt.
– Phải, đúng là máu rồi – ông lẩm bẩm.
– Vậy thì hắn không bị siết cổ rồi, vì đã có máu cơ mà – Tchubikov nói, liếc nhìn Dyukovsky đầy ác ý.
– Hắn bị siết cổ trong phòng ngủ, còn ở đây, vì sợ hắn tỉnh lại nên chúng đã đâm hắn bằng một vật sắc nhọn. Vết bẩn dưới bụi cây cho thấy hắn đã nằm ở đó một khoảng thời gian tương đối lâu, trong lúc chúng đang cố tìm cách mang hắn đi, hoặc tìm thứ gì đó để chở hắn ra khỏi khu vườn.
– Ồ thế còn chiếc giày thì sao?
– Chiếc giày đó củng cố cho lập luận của tôi rằng ông ấy đã bị sát hại trong lúc đang cởi giày trước khi đi ngủ. Ông ấy đã cởi xong một chiếc, còn chiếc kia, tức là chiếc giày này, ông ấy mới chỉ kịp cởi được một nửa. Trong lúc bị lôi đi và xốc lên, chiếc giày mới chỉ tuột được một nửa ấy đã tự rơi ra...
– Khả năng suy luận gớm thật nhỉ! Cứ nhìn hắn ta kìa! – Tchubikov châm chọc. – Hắn ta tuôn ra một mạch trôi chảy thế cơ chứ! Và bao giờ thì cậu mới học được cách đừng có đem mấy cái lý thuyết của mình ra khoe khoang thế hả? Tốt hơn là cậu nên lấy một ít cỏ đi phân tích thay vì cứ cãi cùn ở đây!
Sau khi tiến hành kiểm tra và vẽ sơ đồ hiện trường, họ kéo nhau sang nhà quản gia để viết báo cáo và ăn trưa. Trong bữa trưa, họ trò chuyện.
– Đồng hồ, tiền nong và mọi thứ khác... đều không hề suy suyển – Tchubikov bắt đầu câu chuyện. – Rõ như ban ngày rằng vụ án mạng không được thực hiện vì động cơ vụ lợi.
– Nó được thực hiện bởi một kẻ có học thức – Dyukovsky chen vào.
– Cậu rút ra kết luận đó từ đâu cơ chứ?
– Tôi dựa vào que diêm Thụy Điển mà nông dân quanh đây vẫn chưa học được cách sử dụng. Loại diêm đó chỉ được dùng bởi các địa chủ chứ không phải ai cũng dùng. Nhân tiện thì, ông ấy không bị sát hại bởi một kẻ mà ít nhất là ba kẻ: hai kẻ giữ ông ta trong khi kẻ thứ ba siết cổ. Klyauzov rất khỏe và bọn sát nhân chắc chắn phải biết điều đó.
– Sức khỏe thì giúp được gì cho ông ta, giả sử như ông ta đang ngủ say?
– Bọn sát nhân ra tay lúc ông ta đang cởi giày. Ông ta đang cởi giày, vậy tức là ông ta không hề ngủ.
– Cậu đừng có bịa đặt nữa! Tốt hơn là lo ăn trưa đi!
– Theo ý kiến của con, thưa ngài – Yefrem, người làm vườn lên tiếng khi dọn chiếc ấm samovar lên bàn – hành động đê tiện này chẳng phải do ai khác gây ra ngoài Nikolashka.
– Hoàn toàn có thể lắm chứ – Psyekov nói.
– Nikolashka này là ai?
– Dạ thưa ngài, là gia bộc của chủ nhân ạ – Yefrem đáp. – Còn ai vào đây nữa nếu không phải hắn? Hắn là một tên du côn, thưa ngài! Một kẻ nát rượu, lại vô cùng trác táng! Cầu xin Đức Mẹ đừng bao giờ sinh ra kẻ nào giống thế nữa! Hắn luôn là kẻ đi mua vodka cho chủ nhân, hắn luôn là kẻ đưa chủ nhân lên giường... Còn ai vào đây nữa nếu không phải hắn? Hơn nữa, con xin mạn phép bẩm báo với ngài, thưa ngài, có lần ở quán rượu, tên khốn này từng khoác lác rằng hắn sẽ giết chết chủ nhân. Tất cả cũng chỉ vì con Akulka, vì một người đàn bà... Hắn có một người vợ lính... Chủ nhân để mắt tới ả ta và có tư tình với ả, còn hắn... chắc chắn là đã nổi giận vì chuyện đó. Bây giờ hắn đang nằm bẹp trong bếp, say mèm. Hắn đang khóc lóc... làm như thể hắn đang đau buồn vì chủ nhân lắm ấy...
– Và quả thực bất cứ ai cũng có thể nổi giận vì Akulka – Psyekov nói. – Ả ta là vợ lính, một phụ nữ nhà quê, nhưng... Mark Ivanitch hoàn toàn có quyền gọi ả là Nana. Ở ả có điều gì đó thực sự gợi nhớ đến Nana... rất quyến rũ...
– Tôi đã gặp ả... Tôi biết... – quan tòa án nói, xì mũi vào một chiếc khăn tay màu đỏ.
Dyukovsky đỏ bừng mặt và hạ mắt xuống. Viên cảnh sát trưởng lấy ngón tay gõ gõ lên đĩa lót tách. Viên thanh tra cảnh sát ho khan và lục lọi trong cặp tài liệu tìm thứ gì đó. Chỉ có mỗi viên bác sĩ là việc nhắc đến Akulka và Nana dường như chẳng gây ra chút ấn tượng nào. Tchubikov ra lệnh gọi Nikolashka tới. Nikolashka, một thanh niên cao lênh khênh với chiếc mũi dài rỗ hoa và lồng ngực lép kẹp, mặc chiếc áo khoác ngắn từng là của chủ nhân, bước vào phòng Psyekov và cúi rạp người sát đất trước mặt Tchubikov. Gác vẻ mặt ngái ngủ, hắn vẫn còn vương những giọt nước mắt. Hắn đang say và hầu như chẳng đứng vững nổi.
– Chủ nhân của mày đâu? – Tchubikov hỏi hắn.
– Ngài ấy bị sát hại rồi ạ, thưa ngài.
Vừa nói, Nikolashka vừa chớp mắt và bắt đầu khóc.
– Bọn tao biết ngài ấy bị sát hại rồi. Nhưng bây giờ ngài ấy ở đâu? Xác ngài ấy đâu?
– Người ta bảo ngài ấy bị lôi ra khỏi cửa sổ và chôn trong vườn ạ.
– Hừm... kết quả điều tra đã loan ra tận nhà bếp rồi sao... Thật tệ hại. Này anh bạn, mày đã ở đâu vào đêm chủ nhân mày bị sát hại? Tức là đêm thứ Bảy ấy?
Nikolashka ngẩng đầu lên, rướn cổ và trầm ngâm suy nghĩ.
– Con không nhớ nổi, thưa ngài – hắn nói. – Con say khướt và chẳng nhớ gì cả.
– Lời ngoại phạm đấy! – Dyukovsky thì thầm, cười toe toét và xoa tay vào nhau.
– À ha! Thế tại sao lại có máu dưới cửa sổ phòng chủ nhân mày?
Nikolashka ngẩng phắt đầu lên và suy ngẫm.
– Nghĩ nhanh lên một chút – quan cảnh sát trưởng giục.
– Chút xíu là ra ngay ạ. Vết máu đó là từ một chuyện cỏn con thôi, thưa ngài. Con làm thịt một con gà mái; con cắt cổ nó rất đơn giản theo cách thông thường, thế rồi nó vùng vẫy thoát khỏi tay con và chạy mất... Vết máu đó là từ đấy mà ra ạ.
Yefrem làm chứng rằng Nikolashka quả thực vẫn làm thịt một con gà mái vào mỗi buổi tối và làm thịt ở đủ mọi xó xỉnh, và chẳng ai nhìn thấy con gà mái bị cắt tiết dở dang đó chạy lung tung trong vườn cả, mặc dù tất nhiên cũng không thể phủ nhận hoàn toàn rằng điều đó đã xảy ra.
– Một lời ngoại phạm – Dyukovsky cười lớn – lại còn là một lời ngoại phạm ngớ ngẩn làm sao.
– Mày có quan hệ tình ái với Akulka không?
– Vâng, con đã lầm lỡ.
– Và chủ nhân của mày đã cướp ả khỏi tay mày chứ?
– Không, hoàn toàn không phải ạ. Chính vị quý ông này, ngài Psyekov, Ivan Mihalitch, mới là kẻ quyến rũ ả khỏi tay con, rồi chủ nhân mới cướp ả từ tay Ivan Mihalitch. Sự tình là thế đấy ạ.
Psyekov tỏ vẻ bối rối và bắt đầu dụi mắt trái. Dyukovsky dán chặt mắt vào hắn, phát hiện ra sự bối rối đó và giật mình. Anh ta nhìn thấy trên chân vị quản gia chiếc quần dài màu xanh đậm mà trước đó anh ta không hề chú ý tới. Chiếc quần gợi anh ta nhớ đến những sợi chỉ màu xanh tìm thấy trên cây ngưu bàng. Tchubikov cũng quay sang nhìn Psyekov đầy ngờ vực.
– Mày có thể đi được rồi! – Ông bảo Nikolashka. – Và bây giờ, xin cho phép tôi được đặt một câu hỏi với ngài Psyekov. Chắc chắn ngài đã có mặt ở đây vào ngày thứ Bảy tuần trước chứ?
– Vâng, lúc mười giờ tôi có ăn tối với Mark Ivanitch.
– Thế còn sau đó thì sao?
Psyekov lúng túng, đứng phắt dậy khỏi bàn.
– Sau đó... sau đó... thực tình tôi không nhớ nổi – hắn lầm bầm. – Hôm đó tôi uống khá nhiều... Tôi không tài nào nhớ nổi mình đã đi ngủ ở đâu và lúc nào... Sao tất cả các người lại nhìn tôi thế kia? Cứ như thể chính tôi đã giết ngài ấy vậy!
– Ngài tỉnh dậy ở đâu?
– Tôi tỉnh dậy trên chiếc lò sưởi trong phòng bếp của gia nhân... Mọi người ở đó đều có thể làm chứng cho điều đó. Làm sao mà tôi leo lên được cái lò sưởi đó thì tôi chịu không biết nổi...
– Xin ngài cứ bình tĩnh... Ngài có quen Akulina không?
– Ờ thì, cũng không hẳn là thân thiết lắm.
– Ả ta đã bỏ ngài để theo Klyauzov phải không?
– Vâng... Yefrem, mang thêm nấm ra đây! Yevgraf Kuzmitch, ngài dùng chút trà chứ?
Một sự im lặng nặng nề và đầy căng thẳng kéo dài chừng năm phút. Dyukovsky im thin thít, dán đôi mắt sắc bén vào khuôn mặt Psyekov đang dần tái đi. Sự im lặng bị phá vỡ bởi tiếng của Tchubikov.
– Chúng ta phải sang ngôi nhà lớn thôi – ông nói – và nói chuyện với em gái của người quá cố, Marya Ivanovna. Cô ấy có thể cung cấp cho chúng ta vài bằng chứng nào đó.
Tchubikov và phụ tá gửi lời cảm ơn Psyekov vì bữa trưa, rồi kéo nhau sang ngôi nhà lớn. Họ tìm thấy em gái của Klyauzov, một trinh nữ đã ở tuổi bốn mươi lăm, đang quỳ gối trước một góc bàn thờ gia tiên rực rỡ tượng thánh icon. Khi nhìn thấy cặp tài liệu và những chiếc mũ gắn huy hiệu lông chim trên tay các vị khách, cô ta tái mặt đi.
– Trước hết, tôi phải xin lỗi vì đã làm phiền đến sự tĩnh tâm của tiểu thư, có thể nói là như vậy – viên quan tòa lịch thiệp cất lời bằng một cúi chào sát đất. – Chúng tôi đến gặp cô với một thỉnh cầu. Chắc hẳn cô đã nghe thấy rồi... Có sự nghi ngờ rằng anh trai cô đã bị sát hại bằng cách nào đó. Ý Chúa mà, cô biết đấy... Cái chết thì chẳng ai trốn tránh được, dù là Sa hoàng hay kẻ cày cuốc. Cô không thể giúp chúng tôi bằng một sự thật nào đó, một điều gì đó có thể làm sáng tỏ vụ việc sao?
– Ồ, xin đừng hỏi tôi! – Marya Ivanovna nói, khuôn mặt càng thêm trắng bệch và giấu mặt vào hai bàn tay. – Tôi không thể nói gì với các ông cả! Không gì cả! Tôi cầu xin các ông! Tôi chẳng thể nói gì được... Tôi có thể làm gì cơ chứ? Ôi, không, không... nửa lời cũng không... về anh trai tôi! Tôi thà chết còn hơn là mở miệng!
Marya Ivanovnaòa khóc nức nở và bỏ chạy sang phòng khác. Các quan chức nhìn nhau, nhún vai và đành rút lui.
– Đúng là một mụ quỷ cái! – Dyukovsky thề thốt khi bước ra khỏi ngôi nhà lớn. – Rõ ràng mụ ta biết điều gì đó và đang che giấu nó. Mà biểu cảm của cô hầu gái cũng có gì đó rất kỳ lạ... Cứ chờ đấy, lũ quỷ các người! Rồi chúng ta sẽ lật tẩy đến cùng cho mà xem!
Vào buổi tối, Tchubikov và phụ tá đánh xe trở về dưới ánh trăng nhợt nhạt; họ ngồi trên chiếc xe ngựa mui trần, trong đầu tổng kết lại những sự kiện trong ngày. Cả hai đều kiệt sức và ngồi im lặng. Tchubikov chưa bao giờ thích trò chuyện trên đường đi. Bất chấp bản tính hay nói, Dyukovsky cũng đành ngậm miệng để bày tỏ sự kính trọng đối với ông lão. Tuy nhiên, tới cuối chặng đường, chàng thanh niên không thể chịu đựng thêm sự im lặng đó nữa và cất lời:
– Tên Nikolashka đó chắc chắn dính líu đến vụ việc này, non dubitandum est (chắc chắn là thế). Nhìn cái mặt hắn là đủ biết hắn là loại người gì rồi... Lời ngoại phạm của hắn đã tố cáo hắn phơi phới ra đấy. Cũng không còn nghi ngờ gì nữa, hắn không phải kẻ chủ mưu của tội ác. Hắn chỉ là một công cụ ngu ngốc được thuê mướn mà thôi. Anh có đồng ý không? Tên Psyekov kín đáo kia cũng đóng một vai trò không nhỏ trong vụ án này đâu. Chiếc quần màu xanh của hắn, sự bối rối của hắn, việc hắn nằm lì trên lò sưởi vì sợ hãi sau vụ án mạng, lời ngoại phạm của hắn, và cả con Akulka nữa.
– Cứ tiếp tục đi, cậu đang phô trương phong độ đấy nhỉ! Theo ý cậu thì, cứ hễ ai biết Akulka là kẻ giết người á? À này, cái đồ nóng nảy kia! Cậu nên về bú bình thay vì đi điều tra các vụ án! Cậu cũng từng tươm tẻ theo đuổi Akulka cơ mà, thế nghĩa là cậu cũng dính líu đến vụ này chắc?
– Akulka từng làm đầu bếp nhà anh suốt một tháng trời, nhưng... tôi có nói gì đâu. Đêm thứ Bảy đó tôi đánh bài với anh, tôi thấy anh, nếu không thì tôi cũng truy lùng cả anh rồi đấy. Vấn đề không phải là người đàn bà đó, thưa ngài. Vấn đề nằm ở chỗ cảm giác tồi tệ, ghê tởm và đê tiện... Cựu thanh niên kín đáo nọ không thích bị hất cẳng, anh thấy đấy. Sự kiêu hãnh đấy, anh thấy đấy... Hắn khao khát được trả thù. Sau đó... đôi môi dày của hắn là một dấu hiệu rõ mồn một của tính ham muốn dục vọng. Anh còn nhớ cách hắn chép miệng khi so sánh Akulka với Nana chứ? Rằng hắn đang cháy bỏng vì đam mê, đồ khốn kiếp đó, là điều không phải bàn cãi! Và thế là anh có sự kiêu hãnh bị tổn thương cùng khao khát xác thịt chưa được thỏa mãn. Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ dẫn đến án mạng rồi. Hai kẻ đã nằm trong tay chúng ta, nhưng kẻ thứ ba là ai? Nikolashka và Psyekov giữ ông ta. Ai là kẻ đã bóp nghẹt ông ta? Psyekov thì nhút nhát, dễ lúng túng, nói chung là một kẻ hèn nhát. Những kẻ như Nikolashka không đủ khả năng để bóp chết ai đó bằng gối, chúng sẽ ra tay bằng rìu hoặc búa tạ... Phải có một bên thứ ba nào đó đã ra tay bóp cổ ông ta, nhưng là ai chứ?
Dyukovsky sụp chiếc mũ xuống tận mắt và trầm ngâm suy nghĩ. Anh ta im lặng cho đến tận khi chiếc xe ngựa dừng trước cửa nhà vị quan tòa án.
– Eureka! – Anh ta thốt lên khi bước vào nhà và cởi áo choàng ra. – Eureka, Nikolay Yermolaitch! Tôi không tài nào hiểu nổi sao trước đó mình lại không nghĩ ra cơ chứ. Anh có biết kẻ thứ ba là ai không?
– Thôi xin cậu đấy! Đã dọn bữa tối rồi kìa. Ngồi xuống ăn tối đi!
Tchubikov và Dyukovsky ngồi vào bàn ăn tối. Dyukovsky tự rót cho mình một ly rượu vodka, đứng dậy, vươn vai và với đôi mắt ánh lên rạng rỡ, nói:
– Vậy để tôi nói cho anh hay, kẻ thứ ba đã đồng lõa với tên khốn Psyekov và ra tay bóp cổ ông ta chính là một người phụ nữ! Vâng! Tôi đang muốn nói tới người em gái của nạn nhân, Marya Ivanovna!
Tchubikov sặc rượu và dán chặt mắt vào Dyukovsky.
– Cậu... không ổn lắm à? Đầu óc cậu... có vấn đề gì không? Nó đau à?
– Tôi hoàn toàn khỏe mạnh. Rất tốt, cứ cho là tôi bị điên đi, nhưng anh giải thích thế nào về sự bối rối của mụ ta lúc chúng ta tới nơi? Anh giải thích thế nào về việc mụ ta từ chối cung cấp thông tin? Cứ cho là điều đó tầm thường đi – rất tốt! Thôi được rồi! – nhưng hãy nghĩ về mối quan hệ giữa họ xem! Mụ ta căm ghét anh trai mình! Mụ ta là một tín đồ Cổ tín ngưỡng, còn hắn ta lại là một kẻ phóng đãng, một kẻ vô thần... đó chính là thứ đã nuôi dưỡng mối thù hằn giữa họ! Người ta bảo rằng hắn đã thuyết phục được mụ ta rằng hắn chính là sứ giả của Satan! Hắn từng thực hành các buổi hầu đồng ngay trước mặt mụ ta cơ mà!
– Ờ rồi sao nữa?
– Anh không hiểu à? Mụ ta là một tín đồ Cổ tín ngưỡng, mụ ta đã giết hắn vì chủ nghĩa cuồng tín! Mụ ta không đơn thuần chỉ tước đoạt mạng sống của một kẻ đồi bại, một tên phóng đãng, mụ ta đã giải phóng thế giới khỏi Kẻ phản Kitô – và mụ ta tưởng tượng đó chính là công trạng của mình, là thành tựu tôn giáo của mụ! Ồ, các anh làm sao mà hiểu được mấy bà cô già, mấy tín đồ Cổ tín ngưỡng này cơ chứ! Anh phải đọc Dostoevsky vào! Và Lyeskov nói gì cơ chứ... rồi Petchersky nữa! Chính mụ ta, chính là mụ ta, tôi dám cá bằng cả mạng sống của mình. Mụ ta đã bóp nghẹt hắn! Ôi, người phụ nữ độc ác tột cùng! Chẳng phải mụ ta đang đứng trước các bức tượng thánh khi chúng ta bước vào để đánh lạc hướng chúng ta hay sao? “Ta sẽ đứng đọc kinh”, mụ ta tự nhủ với bản thân, “chúng sẽ nghĩ rằng ta bình tĩnh và chẳng hề mong đợi sự xuất hiện của chúng đâu”. Đó là chiêu trò của mọi kẻ mới bước chân vào con đường tội ác. Nikolay Yermolaitch kính yêu của tôi! Người anh em thân mến của tôi ơi! Hãy giao vụ án này lại cho tôi đi! Hãy để tôi làm nó đến cùng đi! Anh bạn thân mến! Tôi đã bắt đầu nó, và tôi sẽ đưa nó đến đích cuối cùng.
Tchubikov lắc đầu, cau mày lại.
– Tự thân tôi cũng đủ khả năng sàng lọc những vụ án hóc búa rồi – ông nói. – Và phận sự của cậu không phải là cứ chường mặt ra phía trước. Cứ viết những gì người ta đọc cho cậu chép đi, đó mới là việc của cậu!
Dyukovsky đỏ bừng mặt, bước ra ngoài và sập cửa rầm một tiếng.
– Thằng bé láu cá thật đấy – Tchubikov lầm bầm nhìn theo bóng anh ta. – Rất-rất láu cá! Chỉ có điều hơi bốc đồng không đúng lúc. Chắc tôi phải mua tặng nó một cái hộp đựng xì gà ở hội chợ làm quà thôi.
Sáng hôm sau, một cậu thiếu niên đầu to sứt môi từ Klyauzovka tới. Cậu ta xưng tên là Danilko, kẻ chăn cừu, và cung cấp một thông tin vô cùng thú vị.
– Hôm đấy con có uống hơi quá chén – cậu ta kể. – Con ở lại nhà bạn nhậu tới tận nửa đêm. Lúc đang đi về nhà, vì say quá nên con nhảy xuống sông tắm. Con đang tắm thì thấy gì chứ! Hai kẻ đang đi dọc theo con đập khiêng cái gì mà đen thui ấy. “Tyoo!”, con hét vào mặt chúng. Bọn chúng hoảng hồn, chuồn thẳng một mạch nhanh hết mức có thể vào vườn rau Makarev. Có mà sét đánh chết tươi nếu thứ chúng đang khiêng không phải là ngài chủ nhân!
Tới chiều tối cùng ngày, Psyekov và Nikolashka bị bắt giữ và áp giải dưới sự giám sát chặt chẽ về thị trấn của huyện. Tại thị trấn, họ bị tống giam vào ngọn tháp nhà tù.