Tuyển Tập Truyện Ngắn Project Gutenberg

Lượt đọc: 3762 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tác Giả: Nikolay V. Gogol

❊ ❊ ❊

Tại một cục nọ——thôi, tốt hơn hết là không nên nhắc đến tên cục ấy. Trên đời này, không có gì nhạy cảm cho bằng các cục, các trung đoàn, các tòa án, nói tóm lại là mọi ngành công vụ. Thời buổi này, bất kỳ ai cũng coi mọi sự sỉ bỉm của xã hội đều là nhằm vào cá nhân mình. Mới đây thôi, một viên cảnh sát trưởng quận đã gửi đơn khiếu nại, trong đó ông chứng minh một cách rành mạch rằng mọi cơ quan hoàng gia đều đang rơi vào cảnh suy đồi, và tôn danh thánh thiêng của Sa hoàng đang bị lăng nhục; để làm bằng chứng, ông đính kèm theo đơn một cuốn tiểu thuyết, trong đó nhân vật cảnh sát trưởng quận xuất hiện khoảng mười trang một lần, và đôi khi trong trạng thái say khướt. Do đó, để tránh mọi rắc rối khó chịu, tốt hơn hết là ta gọi cục ấy là một cục nọ.

Thế là, trong một cục nọ có một viên chức nọ—phải thừa nhận là không mấy nổi bật—vóc người thấp lùn, mặt rỗ hoa, tóc đỏ, mắt lé, trán hói, má nhăn nheo, và làn da mang sắc thái thường gọi là hồng hào. Khí hậu Sankt-Petersburg chính là thủ phạm gây ra điều này. Về phẩm hàm công chức của ông—đối với chúng tôi những người Nga thì phẩm hàm luôn được đặt lên hàng đầu—ông chỉ là cái gọi là một tham sự viên vĩnh viễn, loại chức vị mà như ai cũng biết, một số nhà văn thường đem ra chế giễu và trêu chọc, tuân theo cái thói quen đáng khen là hay công kích những kẻ không có khả năng cắn trả.

Họ của ông là Bashmachkin. Cái tên này rõ ràng bắt nguồn từ chữ bashmak (giày); nhưng vào lúc nào, thời điểm nào và bằng cách nào, thì không ai rõ. Cha, ông nội và tất cả các thế hệ nhà Bashmachkin đều đi bốt, và những đôi bốt ấy được đóng lại đế hai hoặc ba lần một năm. Tên ông là Akaky Akakiyevich. Đọc lên có vẻ kỳ quặc và gượng gạo; nhưng độc giả có thể yên tâm rằng nó hoàn toàn không hề gượng gạo chút nào, và hoàn cảnh lúc bấy giờ đưa đẩy đến mức không thể đặt cho ông một cái tên nào khác được.

Mọi chuyện diễn ra thế này.

Akaky Akakiyevich ra đời, nếu trí nhớ của tôi không lầm, vào một buổi chiều ngày 23 tháng Ba. Mẹ ông, vợ của một viên chức chính phủ và là một phụ nữ rất đáng kính, đã sắp xếp chu toàn để làm lễ rửa tội cho đứa trẻ. Bà nằm trên chiếc giường đối diện với cửa ra vào; bên phải bà là cha đỡ đầu, Ivan Ivanovich Eroshkin, một người vô cùng đáng kính từng giữ chức chánh văn phòng thượng viện; và mẹ đỡ đầu, Arina Semyonovna Bielobrinshkova, vợ của một sĩ quan cảnh sát khu vực và là một người phụ nữ có những đức tính hiếm có. Họ đưa ra ba cái tên để người mẹ tùy ý lựa chọn cho con: Mokiya, Sossiya, hoặc đặt theo tên vị thánh tử đạo Khozdazat.

“Không,” người phụ nữ tốt bụng nói, “những cái tên đó đều nghe nghèo nàn quá.”

Để chiều lòng bà, họ giở lịch sang trang khác; ba cái tên nữa xuất hiện: Triphily, Dula và Varakhasy.

“Thật kinh khủng,” bà cụ nói. “Tên gì thế không biết! Quả thật tôi chưa từng nghe thấy cái tên nào như vậy. Thà tôi chịu đựng cái tên Varadat hay Varukh còn hơn, chứ nhất quyết không thể là Triphily với Varakhasy!”

Họ lật sang một trang khác và tìm thấy Pavsikakhy và Vakhtisy.

“Bây giờ thì tôi thấy rõ rồi,” bà cụ bảo, “đây rõ ràng là định mệnh. Đã là số mệnh thì tốt nhất nên đặt tên nó theo tên cha nó. Cha nó tên là Akaky, vậy con trai cũng cứ gọi là Akaky đi.”

Cứ thế, ông mang tên Akaky Akakiyevich. Người ta làm lễ rửa tội cho đứa trẻ, lúc ấy chú ta bật khóc và nhăn mặt, như thể đã đoán trước được rằng sau này mình sẽ trở thành một tham sự viên.

Mọi chuyện diễn ra đúng là như vậy đấy. Chúng tôi nhắc lại điều này để độc giả thấy rõ rằng đó là một sự tình cờ tất yếu, và hoàn toàn không thể đặt cho ông bất kỳ cái tên nào khác.

Ông bước chân vào cục từ bao giờ, bằng cách nào, và do ai bổ nhiệm, chẳng một ai nhớ nổi. Dù các giám đốc và thủ lĩnh đủ mọi thể loại có thay đổi thế nào đi nữa, người ta vẫn luôn nhìn thấy ông ở nguyên một vị trí ấy, với tư thế ấy, công việc ấy—luôn luôn là một tên chuyên chép văn bản—đến nỗi mãi về sau người ta còn quả quyết rằng ông sinh ra đã mặc sẵn quân phục và mang cái đầu hói. Chẳng ai trong cục mảy may tỏ ra tôn trọng ông. Viên gác cổng không những không đứng dậy khi ông đi qua, mà thậm chí còn chẳng buồn liếc nhìn ông lấy một cái, hệt như có một con ruồi đang bay qua phòng đợi vậy. Cấp trên đối xử với ông bằng thái độ lạnh lùng độc đoán. Một tay phụ tá lóc nhóc nào đó của chánh văn phòng có thể nhét một tập tài liệu thẳng vào mũi ông mà chẳng thèm nói một câu như “Chép đi,” hay “Đây là một vụ việc hay ho đây,” hay bất cứ điều gì dễ chịu khác vốn là phép lịch sự thông thường giữa các công chức văn minh. Và ông đón lấy nó, mắt chỉ chăm chăm nhìn vào tờ giấy, chẳng thèm để ý xem ai là kẻ đã đưa cho mình, hay người đó có quyền làm thế hay không; ông cứ thế cầm lấy và cặm cụi chép.

Các công chức trẻ tuổi thường cười chê và chế giễu ông, trong giới hạn mà sự hài hước công sở cho phép; họ bịa ra đủ thứ chuyện ngay trước mặt ông về bản thân ông và bà chủ nhà trọ bảy mươi tuổi của ông, loan tin rằng bà ta hay đánh đập ông, hỏi khi nào thì ông tổ chức đám cưới, rồi rắc những mảnh giấy vụn lên đầu ông và gọi đó là tuyết. Nhưng Akaky Akakiyevich không đáp lại dù chỉ nửa lời, y như thể xung quanh chẳng có ai ngoài ông vậy. Thậm chí điều đó cũng chẳng hề ảnh hưởng đến công việc của ông. Giữa bao nhiêu là phiền toái ấy, ông chưa bao giờ chép sai dù chỉ một chữ cái. Nhưng nếu những lời trêu chọc trở nên quá sức chịu đựng, chẳng hạn như khi họ huých vào đầu khiến ông không thể tập trung làm việc, ông sẽ thốt lên:

“Xin hãy để tôi yên! Các anh sỉ nhục tôi làm gì?”

Và trong những lời đó, trong giọng nói ấy phát ra có một điều gì đó kỳ lạ. Nó mang một âm hưởng khiến người ta phải chạnh lòng thương xót; đến mức một thanh niên trẻ tuổi, một kẻ mới chân ướt chân ráo vào làm và bắt chước đám đông hùa vào trêu chọc Akaky, bỗng khựng lại ngẩn ngơ, như thể vạn vật xung quanh vừa trải qua một cuộc biến đổi và hiện lên dưới một lăng kính hoàn toàn khác. Một sức mạnh vô hình nào đó đã tách cậu ta ra khỏi những kẻ mà cậu ta từng tưởng lầm là bạn bè tử tế, lịch thiệp. Mãi về sau này, trong những khoảnh khắc vui vẻ nhất, trong đầu cậu ta vẫn văng vẳng hình ảnh viên chức nhỏ bé với chiếc trán hói cùng câu nói xé lòng: “Xin hãy để tôi yên! Các anh sỉ nhục tôi làm gì?” Đằng sau những lời đầy xót xa ấy, vang lên một âm hưởng khác—“Ta là anh em của ngươi.” Và chàng thanh niên lấy tay che mặt lại; để rồi nhiều lần trong suốt cuộc đời sau đó, cậu vẫn phải rùng mình khi nhận ra sự bất nhân tiềm ẩn sâu trong con người ta, sự thô bạo dã man ẩn giấu sau vẻ lịch lãm, văn minh, từng trải của xã hội thượng lưu, và thậm chí—lạy Chúa!—cả ở những kẻ mà thế giới vẫn ca tụng là lương thiện, chính trực.

Thật khó lòng tìm được một con người nào khác sống toàn tâm toàn ý vì bổn phận đến thế. Nói Akaky làm việc với sự nhiệt thành là chưa đủ; không, ông làm việc bằng cả tình yêu. Trong công việc chép văn bản, ông tìm thấy niềm vui phong phú và thú vị. Nét mặt ông rạng ngời vẻ sung sướng; có những con chữ được ông vô cùng yêu quý; và khi gặp chúng, ông mỉm cười, nháy mắt, và cử động đôi môi đến mức tưởng như người ta có thể đọc được từng con chữ ngay trên nét mặt ông khi ngòi bút đang lướt đi. Nếu tiền lương của ông tương xứng với sự nhiệt tình ấy, thì có lẽ, đến cả bản thân ông cũng phải ngạc nhiên khi thấy mình được thăng làm cố vấn nhà nước. Nhưng ông vẫn làm việc, theo cách nói của đám đồng nghiệp ưa châm chọc, như một con ngựa kéo cối xay.

Tuy nhiên, nếu nói chẳng ai mảy may quan tâm đến ông thì lại không đúng. Có một viên giám đốc vốn là người tốt bụng, muốn thưởng cho ông vì thâm niên công tác lâu năm, đã ra lệnh giao cho ông một công việc quan trọng hơn là những bản chép tay thuần tuý. Thế là ông được giao nhiệm vụ soạn một bản báo cáo về một vụ việc đã được giải quyết từ trước gửi sang một cục khác; công việc thực ra chỉ đơn giản là đổi phần tiêu đề và sửa một vài từ từ ngôi thứ nhất sang ngôi thứ ba. Việc này khiến ông vất vả đến mức mồ hôi vã ra như tắm, trán bứt rứt không yên, và cuối cùng ông phải thốt lên: “Không, thưa ngài, xin hãy cho tôi việc chép tay thì hơn.” Từ đó về sau, người ta để mặc ông cặm cụi chép thuê suốt đời.

Ngoài việc chép văn bản ra, dường như chẳng còn thứ gì tồn tại đối với ông nữa. Ông chẳng hề bận tâm đến y phục của mình. Chiếc áo quân phục của ông không có màu xanh lá, mà ngả sang một thứ màu cháo lòng hoen gỉ. Cổ áo thì thấp tẹt, khiến cho chiếc cổ của ông, dù vốn dĩ chẳng dài cho lắm, nay lại cứ vươn dài một cách bất thường từ đó thò lên, hệt như cổ của những con mèo thạch cao mà những kẻ bán dạo thường đội trên đầu. Và trên bộ quân phục ấy lúc nào cũng vương vãi thứ gì đó, hoặc là một cọng cỏ khô, hoặc dăm mảnh vụn vặt vãnh. Hơn nữa, ông lại có một tài năng kỳ lạ là cứ mỗi khi đi trên phố, ông lại bước đúng vào ngay bên dưới khung cửa sổ vừa lúc người ta hất tung đủ thứ rác rưởi ra ngoài; thế nên trên vành mũ của ông lúc nào cũng bám đầy vỏ dưa hấu cùng những thứ rác rưởi tương tự. Chưa một lần nào trong đời ông ngó ngàng xem ngoài đường phố người ta đang làm gì, trong khi ai cũng biết rõ là đám đồng nghiệp trẻ tuổi của ông thường luyện tập nhãn lực tinh đời đến mức có thể nhìn thấy quai dép của bất kỳ ai tuột ra ở vỉa hè bên kia đường, để rồi nở nụ cười đầy ác ý. Còn Akaky Akakiyevich thì trong mọi hoàn cảnh, trước mắt ông chỉ có những nét chữ ngay ngắn, sạch sẽ của mình; và chỉ đến khi có một con ngựa từ xó xỉnh nào đó thò cái mõm qua vai ông, khịt một luồng gió mạnh từ hai cánh mũi phả thẳng vào gáy, ông mới sực tỉnh và nhận ra rằng mình không đang đi giữa dòng chữ, mà là đang đứng giữa lòng đường.

Về đến nhà, ông lập tức ngồi vào bàn, húp vội bát súp bắp cải, nuốt chửng miếng thịt bò hầm hành mà chẳng hề cảm nhận được hương vị, cứ thế tống tất cả vào bụng cùng với ruồi nhặng hay bất cứ thứ gì Chúa ban cho lúc ấy. Khi thấy dạ dày bắt đầu căng lên, ông đứng dậy khỏi bàn và lôi đống tài liệu mang từ cơ quan về nhà ra chép tiếp. Nếu không có việc mang về, ông sẽ tự chép cho mình vài bản để giải trí, nhất là khi tìm được tài liệu nào đáng chú ý, không phải vì văn phong của nó, mà vì nó được gửi cho một nhân vật tầm cỡ nào đó.

Ngay cả vào cái giờ mà bầu trời xám xịt ở Sankt-Petersburg đã hoàn toàn biến mất, và toàn bộ giới công chức đã dùng bữa tối xong xuôi, mỗi người một kiểu tùy theo đồng lương nhận được và sở thích cá nhân; khi tất cả đã được nghỉ ngơi sau tiếng cọ xát của ngòi bút, sau những bận rộn chạy đôn chạy đáo vì công việc của mình lẫn của người khác, và sau bao nỗ lực mà một kẻ bồn chồn luôn tự chuốc lấy một cách tự nguyện thay vì những việc thực sự cần thiết; khi các công chức vội vã dâng hiến khoảng thời gian rảnh rỗi ít ỏi còn lại cho những cuộc vui chơi—kẻ mạnh bạo hơn thì đến nhà hát; người thì lang thang ngoài phố ngắm nghía những chiếc mũ bonnet; kẻ khác thì nướng buổi tối bằng những lời tán tỉnh ngọt ngào dành cho một cô tiểu thư xinh đẹp nào đó, ngôi sao trong vòng tròn công chức nhỏ hẹp; kẻ khác nữa—và đây là trường hợp phổ biến nhất—thì đến thăm những người đồng nghiệp ở tầng ba hoặc tầng bốn, trong những căn hộ chật hẹp gồm hai phòng và một gian bếp, bày đặt ra vẻ thời trang với một chiếc đèn bàn hay dăm món đồ vặt vãnh đổi lấy bằng sự hy sinh biết bao bữa tối hay những chuyến dã ngoại; tóm lại, vào cái giờ mà mọi công chức tản mát vào những chốn ở chật chội của bạn bè để đánh bài whist, nhấp từng ngụm trà rót từ ly có bỏ cục đường trị giá một xu, rít những tẩu thuốc dài, râm ran dăm mẩu chuyện phiếm mà một người Nga trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không thể nhịn được, và khi chẳng còn chuyện gì để bàn thì lại lặp đi lặp lại những giai thoại muôn thuở về viên chỉ huy từng được báo tin là đuôi của những con ngựa trên Đài tưởng niệm Falconet đã bị cắt trụi; khi tất cả mọi người đều tìm cách giải trí, thì Akaky Akakiyevich lại chẳng hề tham gia bất kỳ cuộc vui nào. Chẳng một ai có thể nói rằng họ từng nhìn thấy ông xuất hiện ở một buổi tụ tập buổi tối nào. Sau khi viết lách thỏa thuê theo sở thích, ông lên giường đi ngủ, miệngmỉm cười khi nghĩ đến ngày mai—không biết ngày mai Chúa sẽ giao cho mình chép văn bản gì.

Cứ thế, cuộc đời bình lặng của con người ấy trôi đi, một kẻ với mức lương bốn trăm rúp mà vẫn biết cách mãn nguyện với số phận; và có lẽ nó cứ thế trôi mãi cho đến tận tuổi xế chiều, ngặt một nỗi là dọc theo con đường đời luôn rải rác đủ thứ tai ương, không chỉ giáng xuống đầu các tham sự viên mà còn cho cả các cố vấn cơ mật, cố vấn triều đình, và đủ mọi thể loại cố vấn khác, thậm chí cho cả những kẻ chẳng bao giờ đưa ra lời khuyên hay tiếp nhận lời khuyên từ ai.

Ở Sankt-Petersburg tồn tại một kẻ thù hùng mạnh của tất cả những ai nhận mức lương khoảng bốn trăm rúp một năm. Kẻ thù ấy không ai khác chính là cái lạnh phương Bắc, dẫu người ta vẫn đồn rằng nó rất có lợi cho sức khỏe. Cứ vào lúc chín giờ sáng, đúng thời điểm đường phố chật kín những người đang đổ về các cơ quan công sở, thứ khí trời ấy bắt đầu tung ra những cú véo buốt thấu xương nhắm vào mọi chiếc mũi một cách vô phân biệt, khiến cho những viên công chức tội nghiệp thực sự chẳng biết phải xử lý cái mũi của mình thế nào. Vào cái giờ mà trán của ngay cả những kẻ nắm giữ chức vị cao sang cũng phải nhức nhối vì giá rét và nước mắt ràn rụa khóe mi, thì những tham sự viên khốn khổ đôi khi lại hoàn toàn trần trụi trước thiên nhiên. Cứu cánh duy nhất của họ là cố gắng sải bước thật nhanh trong chiếc áo choàng mỏng manh qua năm sáu con phố, rồi vào phòng gác cổng sưởi ấm đôi chân, nhờ thế mà rã đông được toàn bộ tài năng và năng lực công vụ đã bị đóng băng dọc đường.

Akaky Akakiyevich từ lâu đã cảm thấy phần lưng và vai của mình đau nhức một cách buốt giá, mặc dù ông đã cố gắng rảo bước thật nhanh hết sức có thể. Cuối cùng, ông bắt đầu tự hỏi liệu lỗi có phải nằm ở chiếc áo choàng của mình hay không. Ông đem nó ra săm soi kỹ càng ngay tại nhà, và phát hiện ra rằng ở hai chỗ, cụ thể là ở lưng và vai, vải đã mỏng tang như miếng gạc. Vải đã mòn rách đến mức nhìn xuyên qua được, và lớp lót bên trong thì tả tơi từng mảnh. Phải biết rằng chiếc áo choàng của Akaky Akakiyevich vẫn luôn là vật tiêu khiển cho đám đồng nghiệp chế giễu. Họ thậm chí còn từ chối gọi nó bằng cái tên cao quý là áo choàng, mà gọi là áo ngắn. Thực ra, nó có kiểu dáng kỳ lạ, phần cổ áo cứ nhỏ dần đi qua từng năm để cắt ra vá víu cho các phần khác của áo. Mấy miếng vá chẳng hề cho thấy chút tay nghề khéo léo nào từ phía người thợ may, trái lại chúng phồng rộp và trông vô cùng kệch cỡm. Nhận thức được tình hình, Akaky Akakiyevich quyết định rằng buộc phải mang áo đến chỗ Petrovich, người thợ may sống ở đâu đó trên tầng bốn qua một cầu thang tối tăm, dù chột một mắt và mặt rỗ chằng chịt, nhưng vẫn hành nghề sửa chữa quần tây và áo khoác cho các công chức và nhiều người khác với mức độ thành công đáng kể; nghĩa là vào những lúc ông ta tỉnh táo và không đang ấp ủ một mưu đồ nào khác trong đầu.

Không cần phải kể quá nhiều về người thợ may này, nhưng theo thói quen trong tiểu thuyết là mỗi nhân vật đều phải được khắc họa rõ nét, nên chẳng còn cách nào khác, đây là Petrovich thợ may. Thuở ban đầu ông ta chỉ được gọi là Grigory, và là nông nô của một quý tộc nào đó. Ông ta bắt đầu tự xưng là Petrovich kể từ khi nhận được giấy chứng nhận tự do, và hơn thế nữa, ông ta bắt đầu uống rượu say mèm trong mọi dịp lễ tết, thoạt đầu là những ngày đại lễ, rồi sau đó là tất cả các ngày lễ nhà thờ không phân biệt lớn nhỏ, miễn là có hình chữ thập trong lịch. Về điểm này, ông ta rất trung thành với phong tục của tổ tiên; và mỗi khi cãi nhau với vợ, ông ta thường gọi mụ là ả đàn bà hạ tiện và là giống Đức cái. Đã nhắc đến vợ ông ta, thiết tưởng cũng cần nói đôi lời về mụ. Đáng tiếc là người ta chẳng biết gì nhiều về mụ ngoài việc Petrovich có một người vợ chuyên đội mũ trùm và mặc váy, nhưng chẳng có nổi nhan sắc để mà khoe mẽ, chí ít thì chẳng ai ngoài đám lính cận vệ buồn liếc mắt dưới vành mũ của mụ mỗi khi chạm mặt.

Bước lên cầu thang dẫn đến căn phòng của Petrovich—cầu thang đẫm nước rửa bát và nồng nặc mùi rượu mạnh cay xộc cả mắt, một thứ đặc sản không thể thiếu ở mọi cầu thang tối tăm trong các tòa nhà tại Sankt-Petersburg—bước lên những bậc thang ấy, Akaky Akakiyevich thầm tính toán xem Petrovich sẽ đòi bao nhiêu tiền, và tự nhủ lòng quyết không trả quá hai rúp. Cửa đang mở toang, bởi vì mụ vợ đang nấu cá, khói bốc ngút ngàn trong bếp đến mức chẳng thấy bóng dáng cả lũ gián đâu. Akaky Akakiyevich bước qua căn bếp mà không bị mụ chủ nhà phát hiện, và cuối cùng tiến vào phòng trong, nơi ông nhìn thấy Petrovich đang ngồi trên một chiếc bàn lớn chưa sơn, hai chân khoèo lại dưới thân hệt như một ông chúa người Thổ Nhĩ Kỳ. Chân ông ta đi trần, đúng theo phong cách làm việc của thợ may; và thứ đập vào mắt đầu tiên chính là ngón cái với chiếc móng dị hình dày và cứng như mai rùa. Vắt vẻo trên cổ Petrovich là một cuộn chỉ lụa và chỉ thường, còn trên đầu gối là dăm món đồ vải cũ kỹ. Ông ta đang chật vật suốt ba phút liền mà không xỏ được sợi chỉ vào kim, và đâm ra cáu kỉnh trước bóng tối cùng cả sợi chỉ, lầm bầm trong cổ họng: “Không chui qua được hả, đồ cứng đầu! Mày vừa đâm tao đấy à, đồ khốn kiếp!”

Akaky Akakiyevich đâm ra bực mình vì lại đến đúng vào lúc Petrovich đang nổi giận. Ông rất thích đặt may đồ ở chỗ Petrovich vào những lúc tay thợ may này đang buồn rầu chán nản, hay theo cách nói của vợ hắn là “khi hắn đã nốc đẫy rượu brandy, con quỷ một mắt!” Trong những hoàn cảnh như thế, Petrovich thường hạ giá rất dễ dãi, thậm chí còn cúi đầu cảm ơn rối rít. Sau đó, tất nhiên là mụ vợ sẽ xuất hiện, cằn nhằn rằng chồng mình đã say xỉn nên mới hớ mồm ra giá rẻ mạt; thế nhưng chỉ cần nhét thêm một đồng mười kopek vào tay là mọi chuyện đâu lại vào đấy. Nhưng ngặt một nỗi giờ đây Petrovich lại đang hoàn toàn tỉnh táo, thế nên hắn ta trở nên cộc cằn, kiệm lời, và chắc chắn sẽ giở thói hét giá trên trời cho mà xem. Akaky Akakiyevich cảm nhận rõ điều đó và rất muốn rút lui cho rồi, nhưng sự đã rồi, không thể quay đầu. Petrovich nheo con mắt độc duy nhất dán chặt vào người ông, và Akaky Akakiyevich đành bất giác cất lời: “Chào anh nhé, Petrovich?”

“Xin kính chào ngài,” Petrovich nói, liếc xéo vào đôi bàn tay của Akaky Akakiyevich để thăm dò xem vị khách mang đến món hời gì đây.

“À! Tôi—đến gặp anh đây, Petrovich, cái này—” Phải biết rằng Akaky Akakiyevich chủ yếu diễn đạt bằng các giới từ, trạng từ và những cụm từ cụt lủn chẳng có chút nghĩa lý gì. Nếu gặp vấn đề gì quá hóc búa, ông có thói quen không bao giờ nói hết câu, thế nên thường thì vừa mở đầu câu bằng cụm “Cái này, thực ra là hoàn toàn—” là ông quên bẵng phần sau, cứ đinh ninh rằng mình đã nói xong rồi.

“Gì thế ạ?” Petrovich hỏi, rồi dùng con mắt độc duy nhất quét từ cổ áo xuống tận cổ tay, phần lưng, vạt áo và khuyết áo của bộ quân phục Akaky Akakiyevich đang mặc, những thứ mà hắn thuộc làu làu bởi đó chính là sản phẩm do đôi tay hắn làm ra. Đó là thói quen muôn thuở của thợ may; việc đầu tiên họ làm khi gặp khách là săm soi như vậy.

“Thì tôi, ở đây, cái này—Petrovich—một chiếc áo choàng, vải—như anh thấy đấy, mọi chỗ, ở vài nơi, vải vẫn còn chắc chắn lắm—nó chỉ hơi bám bụi và trông có vẻ cũ, nhưng thực ra vẫn còn mới, chỉ là ở đây có một chỗ hơi—trên lưng, và ở đây trên một bên vai, hơi sờn một chút, vâng, ở ngay bên vai này hơi—anh thấy không? Chỉ có vậy thôi. Và sửa lại một chút—”

Petrovich cầm lấy chiếc áo choàng, trải rộng nó lên bàn trước tiên, trừng mắt nhìn chăm chú, lắc đầu, rồi với tay lên bệ cửa sổ cầm hộp đựng thuốc lá được trang trí bằng chân dung của một vị tướng nào đó—chẳng rõ là vị tướng nào bởi vì phần khuôn mặt đã bị cạo trụi bằng ngón tay và dán đè lên một mẩu giấy vuông vức. Sau khi bốc một nhúm thuốc hít, Petrovich giơ cao chiếc áo choàng lên hướng ánh sáng để soi, rồi lại lắc đầu. Sau đó, hắn lật ngược mặt trong có lớp lót ra ngoài và lại lắc đầu thêm lần nữa. Tiếp theo, hắn lại mở nắp hộp thuốc có hình vị tướng dán giấy vá, tọng một đống thuốc vào mũi, hắt hơi rồi cất hộp thuốc đi, và cuối cùng phán một câu xanh rờn: “Không, không thể sửa được nữa đâu. Bộ đồ tồi tệ quá rồi!”

Trái tim Akaky Akakiyevich như chùng xuống trước những lời đó.

“Sao lại không thể sửa được hả anh, Petrovich?” ông thốt lên, giọng van nài hệt như một đứa trẻ. “Nó chỉ bị mòn ở phần vai thôi mà. Chắc chắn anh vẫn còn mấy mảnh vải vụn chứ—”

“Vâng, vá thì kiếm đâu chả được, vá dễ thôi,” Petrovich đáp, “nhưng ngặt nỗi chẳng còn chỗ nào để mà khâu vào nữa. Mục nát hết cả rồi. Chỉ cần đưa kim vào là—anh thấy đấy, nó rách toạc ra ngay.”

“Cứ cho là nó rách đi, rồi anh đắp ngay một miếng vá khác vào là được chứ gì.”

“Nhưng có chỗ nào để mà đắp vá nữa đâu. Cố gia cố cũng chẳng ích gì. Nó nát quá rồi. May mà còn là vải vóc đấy, chứ chỉ cần một cơn gió thổi qua là bay biến thành tro bụi luôn.”

“Thôi nào, cứ gia cố lại xem sao. Cách này, thực ra là—”

“Không,” Petrovich quả quyết nói, “chẳng cứu vãn được gì nữa đâu. Hết thuốc chữa rồi. Tốt hơn hết là khi mùa đông lạnh giá kéo dài đến, ngài lấy nó ra mà may mấy cái bít tất dài, vì đi tất thường không đủ ấm. Người Đức phát minh ra cái món đó chỉ để kiếm thêm tiền thôi.” Petrovich có sở thích là trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải đá xoáy người Đức một phát. “Nhưng rõ ràng là ngài phải may một chiếc áo choàng mới rồi.”

Nghe đến từ “mới,” trước mắt Akaky Akakiyevich bỗng tối sầm lại và mọi vật trong phòng bắt đầu quay cuồng. Thứ duy nhất ông nhìn rõ là vị tướng với khuôn mặt bằng giấy trên nắp hộp thuốc lá của Petrovich.

“Áo mới á?” ông thốt lên, cứ như đang mơ ngủ. “Trời ạ, tôi lấy đâu ra tiền mà may áo mới.”

“Vâng, áo mới chứ sao,” Petrovich thản nhiên đáp với một vẻ lạnh lùng tàn nhẫn.

“Ừ thì, giả sử là áo mới đi, thì thế nào—nó—”

“Ý ngài hỏi là tốn bao nhiêu chứ gì?”

“Đúng vậy.”

“Chà, ngài sẽ phải bỏ ra khoảng một trăm rưởi hoặc hơn thế,” Petrovich nói, mím chặt môi lại ra điều bí hiểm. Hắn rất thích tạo ra những cú sốc lớn, thích làm cho người ta ngẩn ngơ chết trân ngay lập tức, rồi liếc xéo sang xem bộ dạng của kẻ vừa bị đánh choáng váng ấy trông thế nào.

“Một trăm năm mươi rúp cho một chiếc áo choàng!” viên chức nghèo Akaky Akakiyevich thét lên, có lẽ là lần đầu tiên trong đời, bởi vì giọng nói của ông xưa nay vốn nổi tiếng là nhỏ nhẹ.

“Vâng, thưa ngài,” Petrovich nói, “cho bất kỳ loại áo choàng nào. Còn nếu ngài muốn viền cổ bằng lông chồn, hay may mũ trùm đầu lót lụa, thì giá phải vọt lên hai trăm rúp.”

“Anh Petrovich, xin anh đấy,” Akaky Akakiyevich cất giọng van nài, chẳng thèm nghe và cũng chẳng buồn bận tâm đến những lời của Petrovich, phớt lờ mọi thứ “chiêu trò” của hắn, “hãy sửa chữa lại một chút thôi, để tôi có thể mặc thêm được dăm bữa nửa tháng nữa.”

“Không, thế thì chỉ phí thời gian và tiền bạc thôi,” Petrovich phán. Và Akaky Akakiyevich đành lủi thủi ra về sau những lời đó, tinh thần hoàn toàn suy sụp. Thế nhưng Petrovich vẫn đứng ì ra đó một hồi lâu sau khi khách ra về, đôi môi mím lại vẻ đắc ý, chẳng thèm đụng tay vào công việc, đinh ninh rằng khách hàng sớm muộn gì cũng quay lại tìm một người thợ may tài hoa như hắn.

Akaky Akakiyevich bước ra đường hệt như kẻ mộng du. “Một sự việc thật thế quái nào ấy chứ!” ông tự lẩm bẩm. “Mình không ngờ cơ sự lại thành ra thế này—rồi sau một khoảng lặng, ông nói thêm—Thôi đành vậy! Xem cái kết cục kìa! Và mình chưa từng mường tượng nổi nó lại nông nỗi này!” Tiếp theo là một khoảng im lặng kéo dài, đoạn ông lại thốt lên: “Thôi đành vậy! Xem kìa, sự việc đã—chẳng có gì bất ngờ cả—cũng chẳng có gì—thật là một hoàn cảnh kỳ lạ!” Nói rồi, thay vì đi về nhà, ông cứ thế bước đi theo hướng ngược lại hoàn toàn mà chẳng hề hay biết. Dọc đường, một tên thợ quét ống khói đâm sầm vào người ông, làm cho vai áo đen nhẻm nhũn nhót, và nguyên cả một nón rác từ trên một ngôi nhà đang xây dựng trút ào xuống đầu ông. Ông chẳng mảy điều bận tâm, và chỉ đến khi đâm sầm vào một gã cảnh sát đang cắm cây kích giáo bên cạnh, tay dốc hộp thuốc hít vào lòng bàn tay chai sần, ông mới hoàn hồn lại đôi chút, và đó là vì gã cảnh sát quát lên: “Mày đâm bổ vào mặt người ta à? Không thấy lối đi hay sao?” Câu nói ấy khiến ông ngó quanh ngác rồi quay đầu đi về hướng nhà mình.

Lúc bấy giờ ông mới thực sự thu gom lại tâm trí, nhìn nhận hoàn cảnh của mình dưới ánh sáng rành mạch và thực tế, rồi tự luận đàm với bản thân một cách khôn ngoan và thẳng thắn, hệt như với một người bạn tri kỷ mà ta có thể thổ lộ những chuyện riêng tư thầm kín.

“Không,” Akaky Akakiyevich tự nhủ, “lúc này chẳng thể nói chuyện phải quấy gì với Petrovich được đâu. Hắn ta đang—rõ ràng là mụ vợ vừa mới cho hắn một trận đòn roi. Tốt hơn là mình nên đến tìm hắn vào sáng Chủ nhật. Sau buổi tối thứ Bảy, thể nào hắn cũng mắt lé nhoe nhoét và ngái ngủ vì muốn nốc rượu mà mụ vợ thì không chịuì chi tiền, vào cái lúc ấy, chỉ cần nhét một đồng mười kopek vào tay là hắn sẽ—hắn sẽ dễ bề nói chuyện hơn, và khi ấy chuyện cái áo choàng và thế này thế nọ—” Lập luận xong, Akaky Akakiyevich lấy lại được dũng khí và chờ đợi cho đến tận ngày Chủ nhật đầu tiên, khi nhìn thấy từ đằng xa mụ vợ của Petrovich đã rời khỏi nhà, ông liền sải bước đi thẳng đến chỗ hắn.

Con mắt của Petrovich quả nhiên lé hẳn đi sau trận rượu tối thứ Bảy. Đầu hắn gục xuống và trông vô cùng ngái ngủ; thế nhưng bất chấp điều đó, ngay khi vừa biết chủ đề câu chuyện là gì, ác quỷ dường như lại xúi giục trí nhớ hắn. “Không đời nào,” hắn nói. “Xin mời ngài đặt may một chiếc áo mới.” Nghe vậy, Akaky Akakiyevich liền ngoan ngoãn móc đồng mười kopek đưa ra. “Cảm ơn ngài. Tôi xin uống ly này chúc sức khỏe ngài,” Petrovich nói. “Nhưng còn chiếc áo choàng ấy à, xin ngài đừng bận tâm làm gì; nó vứt đi rồi. Tôi sẽ may cho ngài một chiếc áo mới thật tuyệt hảo, giờ chúng ta hãy bàn bạc cụ thể đi.”

Akaky Akakiyevich vẫn còn vương vấn ý định vá víu lại, nhưng Petrovich kiên quyết không nghe và bảo: “Tôi chắc chắn phải may cho ngài một chiếc áo mới, và ngài cứ yên tâm là tôi sẽ dốc hết sức mình. Thậm chí theo mốt thời nay, cổ áo còn có thể cài bằng khuy bạc giấu dưới nẹp nữa cơ.”

Lúc đó Akaky Akakiyevich mới thấm thía rằng không thể nào xoay sở nổi nếu thiếu một chiếc áo choàng mới, và tinh thần ông hoàn toàn sụp đổ. Biết làm thế nào đây, thực sự phải tính sao đây? Tiền đâu ra mà chi trả? Ông còn phải mua một chiếc quần tây mới, trả món nợ lâu năm cho người thợ giày đã đóng lại đôi bốt cũ, và còn phải đặt may ba chiếc áo sơ mi từ cô thợ may cùng dăm cuộn vải lanh nữa. Tóm lại, toàn bộ số tiền tiết kiệm sẽ bay sạch. Và cho dù vị giám đốc có rộng lòng ban ơn tăng lương cho ông lên bốn mươi lăm hay thậm chí năm mươi rúp thay vì bốn mươi rúp đi nữa, thì số tiền đó cũng chỉ như muối bỏ biển so với cái quỹ khổng lồ cần dùng để may áo choàng, dẫu ông thừa biết rằng Petrovich đôi khi dở chứng hét giá trên trời đến mức ngay cả mụ vợ hắn cũng phải thét lên: “Mày điên mất rồi à, đồ đần?” Có lúc hắn từ chối nhận việc dù trả giá cao thế nào đi nữa, còn bây giờ thì rất có thể hắn vừa nêu ra một con số còn cao hơn cả giá trị thực của chiếc áo.

Nhưng dẫu biết rằng Petrovich sẽ nhận may một chiếc áo choàng với giá tám十 rúp, thì vấn đề là ông kiếm đâu ra tám mươi rúp đó đây? May ra ông chỉ lo được một nửa. Đúng vậy, có thể gom góp được một nửa, thế còn nửa kia thì vơ vét ở đâu ra? Nhưng trước tiên phải kể cho độc giả nghe nguồn gốc của một nửa số tiền đầu tiên đã.

Akaky Akakiyevich có một thói quen là cứ tiêu ra một rúp thì ông lại bỏ một đồng xu grô-sơ vào một chiếc hộp nhỏ có khóa và có một khe hở ở nắp để nhét tiền. Cứ đến cuối mỗi nửa năm, ông lại đổ đống tiền xu ấy ra đếm rồi đổi lấy tiền giấy. Cứ làm như thế suốt một thời gian dài, tích tiểu thành đại, qua nhiều năm số tiền đã lên tới hơn bốn mươi rúp. Thế là trong tay ông đã có sẵn một nửa. Nhưng phần còn lại kiếm ở đâu ra? Lấy đâu ra thêm bốn mươi rúp nữa đây? Akaky Akakiyevich vắt óc suy tính và đi đến quyết định rằng ông buộc phải cắt giảm các khoản chi tiêu thường nhật trong thời gian ít nhất là một năm: dẹp luôn bữa trà tối, không thắp nến vào ban đêm, và nếu có việc bắt buộc phải làm, ông sẽ mò sang phòng bà chủ nhà để làm việc dưới ánh nến của bà ta. Khi bước ra đường, ông phải đi thật nhẹ nhàng, thật cẩn thận trên mấy phiến đá lát, gần như đi bằng mũi chân để không làm mòn gót giày quá nhanh. Ông phải đem ít quần áo đến tiệm giặt là nhất có thể; và để tránh làm rách áo quần, cứ về đến nhà là ông phải cởi ra ngay, chỉ mặc chiếc áo choàng tắm bằng vải bông đã được cất giữ cẩn thận từ lâu.

Thú thật là thoạt đầu ông cũng thấy hơi khó khăn để thích nghi với những sự thiếu thốn túng bạt ấy. Nhưng rồi dần dà ông cũng quen, mọi chuyện xuôi chèo mát mái. Thậm chí ông còn quen cả cái cảm giác đó lả vào mỗi buổi tối, bù lại ông tự thưởng cho mình bằng tinh thần, luôn tạc dạ ghi cốt hình ảnh chiếc áo choàng tương lai trong tâm trí. Kể từ lúc đó, cuộc sống của ông dường như trở nên phong phú hơn, hệt như thể ông đã có gia đình, hoặc như thể có một người nào khác đang sống cùng ông, tóm lại là ông không còn cô độc nữa, và một người bạn tri kỷ dễ mến đã đồng ý cùng ông bước đi trên con đường đời, người bạn ấy không ai khác chính là chiếc áo choàng với lớp bông lót dày dặn cùng lớp vải lót chắc chắn không bao giờ rách. Tâm trạng ông trở nên tươi vui hơn, và ngay cả tính cách cũng trở nên cứng cỏi hơn, hệt như một kẻ đã hạ quyết tâm và vạch ra cho mình một cái đích để phấn đấu. Trên nét mặt và dáng đi của ông, mọi sự hoài nghi, do dự đều tự biến mất. Đốm lửa bừng sáng trong đôi mắt ông, và đôi khi những ý tưởng táo bạo nhất sẹt qua đầu ông. Ví dụ như tại sao lại không viền cổ áo bằng lông chồn nhỉ? Ý nghĩ ấy suýt làm ông lơ đễnh. Có lần đang chép thư, ông suýt viết sai chính tả, khiến ông phải thốt lên gần như thành tiếng “Chà!” và vội vàng làm dấu thánh. Cứ mỗi tháng một lần, ông lại đến hội ý với Petrovich về chuyện chiếc áo choàng: nên mua vải ở đâu, màu sắc thế nào, và giá cả ra sao. Lần nào trở về nhà ông cũng mãn nguyện dẫu trong lòng vẫn bồi hồi, tự nhủ rằng cuối cùng thì cái ngày có thể mua đủ mọi thứ và may chiếc áo choàng cũng sẽ tới.

Mọi chuyện tiến triển nhanh chóng hơn ông tưởng. Bởi vì vượt ngoài mọi mong đợi, vị giám đốc không thưởng cho Akaky Akakiyevich bốn mươi hay bốn mươi lăm rúp, mà là sáu mươi rúp. Dù là ngài đoán được Akaky Akakiyevich đang cần áo choàng, hay chỉ là sự tình cờ đi nữa, thì dẫu sao thêm được hai mươi rúp cũng là một khoản kha khá. Hoàn cảnh này đã đẩy nhanh tiến độ. Thêm hai ba tháng chịu đựng đói khát nữa là Akaky Akakiyevich đã gom đủ khoảng tám mươi rúp. Trái tim vốn dĩ bình lặng của ông bắt đầu đập rộn rã. Ngay ngày đầu tiên có thể nghỉ ngơi, ông cùng Petrovich đi mua sắm. Họ mua được một súc vải rất tốt với giá cả vô cùng phải chăng, bởi vì họ đã bàn thảo suốt nửa năm trời và hầu như tháng nào cũng ghé qua các cửa hiệu để dò giá. Chính Petrovich cũng phải thốt lên rằng không thể kiếm đâu ra loại vải nào tốt hơn thế. Về phần vải lót, họ chọn một loại vải bông nhưng vô cùng chắc chắn và dày dặn, đến mức Petrovich tuyên bố là nó còn tốt hơn cả lụa, lại đẹp và bóng bẩy hơn nhiều. Họ không mua lông chồn vì thực ra nó quá đắt đỏ, thay vào đó họ chọn loại lông mèo hảo hạng nhất trong tiệm, loại mà thoạt nhìn từ xa hoàn toàn có thể nhầm lẫn với lông chồn.

Petrovich cặm cụi may chiếc áo choàng trong suốt hai tuần liền, bởi vì công đoạn chần bông rất phức tạp; nếu không thì đã xong sớm hơn. Hắn lấy tiền công mười hai rúp, mức giá không thể thấp hơn được nữa. Toàn bộ áo đều được khâu bằng chỉ lụa với những đường may đôi nhỏ xíu, và sau đó Petrovich còn dùng chính hàm răng của mình cắn miết qua từng đường kim mũi chỉ để tạo ra các hoa văn dập nổi khác nhau.

Đó là—thật khó mà nói chính xác vào ngày nào, nhưng có lẽ là ngày vinh quang nhất trong cuộc đời Akaky Akakiyevich—khi Petrovich cuối cùng cũng mang chiếc áo choàng đến nhà. Hắn mang nó tới vào buổi sáng, trước giờ chuẩn bị đến cục. Chưa bao giờ một chiếc áo choàng lại đến đúng lúc đúng thời điểm đến thế, bởi vì đợt lạnh cắt da cắt thịt đã ập xuống và có vẻ như còn đang lăm le tăng cấp độ. Tự tay Petrovich mang áo đến đúng tác phong của một người thợ may chân chính. Trên nét mặt hắn hiện lên một vẻ biểu cảm đầy hàm ý mà Akaky Akakiyevich chưa từng thấy trước đây. Hắn hoàn toàn ý thức được rằng mình vừa thực hiện một công trình lớn lao, vừa bước qua ranh giới ngăn cách giữa những kẻ thợ may chuyên vá víu lót vải với những kẻ tạo ra những tác phẩm hoàn toàn mới. Hắn lấy chiếc áo choàng ra khỏi chiếc khăn mùi xoa mà hắn dùng để bọc nó. Chiếc khăn vừa mới được giặt là phẳng phiu, và hắn đút gọn nó vào túi để dùng dần. Lấy chiếc áo ra, hắn ngắm nhìn với vẻ tự hào, giơ cao bằng cả hai tay và khéo léo khoác nó lên đôi vai của Akaky Akakiyevich. Sau đó hắn kéo vuốt lại cho phẳng phiu phần vạt sau bằng tay, rồi chỉnh đốn lại chiếc áo trên người Akaky Akakiyevich mà không cần cài khuy. Akaky Akakiyevich, như một kẻ từng trải, muốn xỏ tay vào thử hai ống tay áo. Petrovich giúp ông xỏ tay vào, và kết quả là ống tay áo cũng vừa vặn hoàn hảo. Tóm lại, chiếc áo choàng trông hoàn hảo không tì vết và cực kỳ hợp thời tiết. Petrovich không quên thanh minh rằng sở giá rẻ như vậy là vì hắn ở trong con hẻm chật chội không có biển hiệu và đã quen biết Akaky Akakiyevich quá lâu; chứ nếu hắn mở cửa hàng ngoài đại lộ Nevsky thì riêng tiền công may thôi hắn đã thét giá bảy mươi lăm rúp rồi. Akaky Akakiyevich chẳng buồn tranh cãi với Petrovich về điều đó. Ông trả tiền, cảm ơn hắn và lập tức mặc chiếc áo mới lên người bước thẳng đến cục. Petrovich lẽo đẽo bước theo sau, dừng chân đứng giữa đường ngắm nhìn chiếc áo choàng từ đằng xa một hồi lâu, sau đó cố tình rẽ vào một con hẻm ngoằn ngoèo để vòng ra con phố lớn phía trước nhằm chiêm ngưỡng chiếc áo thêm lần nữa từ một góc độ khác, cụ thể là nhìn thẳng từ phía trước tới.

Trong khi đó, Akaky Akakiyevich bước đi với tâm trạng phơi phới như ngày hội. Từng giây từng phút ông đều cảm nhận rõ rệt trên vai mình đang khoác một chiếc áo choàng mới, và đôi khi ông lại mỉm cười sung sướng từ tận đáy lòng. Thực ra, chiếc áo mang lại hai lợi ích lớn: một là sự ấm áp, hai là vẻ đẹp tuyệt vời. Ông chẳng màng nhìn ngắm đường sá xung quanh, để rồi bỗng chốc thấy mình đã đứng trước cửa cục. Ông cởi áo choàng ở phòng đợi, săm soi cẩn thận rồi giao phó nó cho sự chăm sóc đặc biệt của người gác cổng. Thật khó mà nói chính xác tại sao mọi người trong cục lại ngay lập tức biết tin Akaky Akakiyevich có áo choàng mới và chiếc “áo ngắn” đã vĩnh viễn vắng bóng. Tất cả đồng loạt ào ra phòng đợi để ngắm nghía nó. Họ chúc mừng ông và thốt lên những lời ngợi khen khiến cho thoạt đầu ông mỉm cười, rồi sau đó đâm ra ngượng ngùng. Khi tất cả vây quanh và tuyên bố rằng chiếc áo choàng mới này phải được “rửa” bằng một buổi tiệc tùng, ít nhất ông cũng phải chiêu đãi mọi người một chầu, thì Akaky Akakiyevich hoàn toàn mất phương hướng, chẳng biết mình đang đứng ở đâu, phải đáp lời thế nào hay làm sao để thoái thác. Ông đứng ngượng ngùng đỏ bừng cả mặt suốt mấy phút đồng hồ, ngây thơ thanh minh rằng đây không phải áo mới, mà thực ra chỉ là chiếc “áo ngắn” cũ kỹ ngày xưa.

Cuối cùng, một viên công chức phụ tá chánh văn phòng, để tỏ ra mình là kẻ không hề kiêu ngạo và rất gần gũi với cấp dưới, liền lên tiếng:

“Thôi được rồi, để tôi đứng ra tổ chức buổi tiệc thay cho Akaky Akakiyevich; tôi mời tất cả các anh tối nay đến nhà tôi uống trà. Nhân tiện hôm nay cũng là ngày mừng bổn mạng của tôi.”

Đám công chức đương nhiên lập tức chúc mừng vị phụ tá và vui vẻ nhận lời mời. Akaky Akakiyevich toan từ chối; nhưng tất cả đều tuyên bố rằng làm như thế là mất lịch sự, là một tội ác và sự bất kính, không đời nào ông được phép từ chối. Hơn nữa, ý nghĩ ấy bỗng trở nên vô cùng dễ chịu khi ông nhớ ra rằng nhờ thế mình sẽ có dịp được diện chiếc áo choàng mới ngay cả trong buổi tối.

Toàn bộ ngày hôm ấy thực sự là một dịp lễ hội khải hoàn đối với Akaky Akakiyevich. Ông trở về nhà với tâm trạng hạnh phúc tột cùng, cởi áo choàng ra và treo cẩn thận lên tường, ngắm nghía lại lớp vải vóc và lớp lót thêm lần nữa. Sau đó ông lôi chiếc áo choàng cũ rách nát ra để so sánh. Ông nhìn nó rồi bật cười, khoảng cách giữa hai cái mới lớn lao làm sao. Và mãi lâu sau bữa tối, khi nhớ lại tình trạng của chiếc “áo ngắn” ngày xưa, ông lại cười phá lên. Ông dùng bữa tối trong niềm hân hoan, và sau bữa tối chẳng thèm viết lách gì sất, cứ nằm thảnh thơi trên giường cho đến khi trời tối hẳn. Đoạn ông thong thả thay quần áo, khoác áo choàng lên người và bước ra phố.

Đáng tiếc là chúng ta không thể biết chính xác nhà của người chủ nhà nằm ở đâu. Trí nhớ của chúng ta bắt đầu sa sút trầm trọng. Các con đường và ngôi nhà ở Sankt-Petersburg đã trộn lẫn vào nhau trong đầu chúng ta đến mức rất khó để moi lại chúng một cách rành mạch. Chỉ có điều chắc chắn là viên chức ấy sống ở khu vực thượng lưu của thành phố; và do đó khoảng cách từ nhà Akaky Akakiyevich tới đó không hề gần chút nào. Akaky Akakiyevich buộc phải băng qua một vùng hoang mạc gồm những con phố vắng vẻ, hắt hiu ánh đèn lờ mờ. Nhưng càng tiến lại gần khu vực của vị công chức nọ, đường phố càng trở nên tấp nập, đông đúc và rực rỡ ánh đèn hơn. Người đi bộ bắt đầu xuất hiện nhiều hơn; những quý bà ăn vận láng lướt thỉnh thoảng lướt qua; đàn ông thì diện áo khoác viền cổ lông rái cá; những chiếc xe trượt tuyết tồi tàn với thanh chắn bằng gỗ nạm đinh đầu đồng thau thưa dần đi; thay vào đó là sự xuất hiện ngày càng nhiều của những kẻ đánh xe đội mũ nhung đỏ, xe trượt láng bóng và áo khoác lông gấu, cùng những cỗ xe ngựa phủ thảm sang trọng lao vút qua đường phố, bánh xe nghiến rào rạo trên lớp tuyết.

Akaky Akakiyevich ngắm nhìn tất cả những cảnh tượng ấy hệt như một người vừa bước vào thế giới mới lạ. Đã nhiều năm rồi ông không hề bước chân ra đường vào buổi tối. Ông tò mò dừng chân trước cửa kính một cửa hiệu để ngắm bức tranh vẽ một mỹ nhân đang cởi giày, để lộ trọn vẹn bàn chân một cách vô cùng xinh xắn; trong khi ẩn phía sau cô ta là bóng một người đàn ông để ria mép đang thập thò nhìn qua khung cửa phòng bên. Akaky Akakiyevich lắc đầu mỉm cười rồi lại tiếp tục bước đi. Tại sao ông lại cười? Hoặc là vì ông vừa bắt gặp một thứ hoàn toàn xa lạ nhưng ai nấy đều thầm nuôi dưỡng một thứ cảm xúc nào đó trong lòng, hoặc là vì ông cũng suy nghĩ giống như bao viên chức khác: “Chà, mấy tay người Pháp này! Biết nói sao đây? Đã dấn thân vào mấy cái trò đó thì—” Nhưng rất có thể là ông chẳng suy nghĩ gì sất.

Cuối cùng Akaky Akakiyevich cũng đến được ngôi nhà nơi vị phụ tá chánh văn phòng cư ngụ. Hắn ta sống trong một căn hộ sang trọng. Cầu thang được thắp sáng bằng đèn lồng, căn hộ nằm ở tầng hai. Bước vào sảnh lớn, Akaky Akakiyevich nhìn thấy cả một hàng dài ủng galoshes nằm trên sàn. Giữa phòng, chiếc ấm samovar đang reo vui và bốc hơi nghi ngút. Trên tường treo đủ loại áo khoác và áo choàng, trong đó thậm chí có cả những chiếc viền cổ lông hải ly hoặc nẹp nhung. Vọng ra từ bên trong là tiếng trò chuyện rôm rả, và âm thanh ấy càng trở nên rõ mồn một khi người đầy tước bưng chiếc khay đựng đầy ly không, bình đựng kem và lọ đường bước ra. Rõ ràng là đám công chức đã tề tựu từ lâu và đã uống xong tuần trà đầu tiên.

Akaky Akakiyevich tự tay treo chiếc áo choàng của mình lên rồi bước vào phòng trong. Trước mắt ông bỗng chốc hiện ra ánh đèn rực rỡ, những viên công chức, những tẩu thuốc và các bàn đánh bài, đồng thời ông bị choáng ngợp bởi thứ âm thanh của những cuộc trò chuyện rôm rả vang lên từ khắp các bàn cùng tiếng kéo ghế sột soạt. Ông đứng ngượng ngập ngay giữa phòng, tự hỏi mình nên làm gì bây giờ. Nhưng họ đã nhìn thấy ông. Họ reo hò chào đón và đồng loạt kéo ào ra phòng đợi để ngắm nghía lại chiếc áo choàng thêm lần nữa. Akaky Akakiyevich, dẫu có chút bối rối nhưng bản tính thật thà, không kìm được niềm sung sướng khi thấy họ hết lời ngợi khen chiếc áo. Rồi tất nhiên là họ buông ông và chiếc áo ra để quay trở lại với những bàn đánh bài whist quen thuộc.

Tất cả những thứ đó, từ tiếng ồn ào, những câu chuyện phiếm cho đến đám đông tấp nập, đều quá sức choáng ngợp đối với Akaky Akakiyevich. Ông hoàn toàn chẳng biết mình đang đứng ở xó nào, hay nên đặt đôi tay, đôi chân và toàn bộ thân thể vào đâu cho phải phép. Cuối cùng ông đedến ngồi xuống bên cạnh những người chơi bài, ngắm nhìn các lá bài, săm soi nét mặt người này người khác, rồi một lát sau bắt đầu ngáp ngắn ngáp dài và cảm thấy mệt mỏi chán chường, nhất là khi thời gian lúc này đã vượt xa quá cái giờ mà ông thường đi ngủ. Ông muốn xin phép chủ nhà ra về, nhưng họ nhất định không cho, bảo rằng ông phải uống cạn một ly súp-de-sâm-panh để vinh danh bộ y phục mới của mình. Khoảng một tiếng sau, bữa supper được dọn lên gồm xà phòng trộn rau củ, thịt bê nguội, bánh ngọt, bánh nướng của tiệm bánh kẹo và rượu sâm-panh. Họ ép Akaky Akakiyevich uống liền hai ly sâm-panh, khiến ông bắt đầu thấy đầu óc tỉnh táo, hưng phấn hẳn lên.

Tuy nhiên, ông không thể quên rằng đã là mười hai giờ đêm, và lẽ ra ông phải có mặt ở nhà từ lâu rồi. Để chủ nhà không kịp tìm lý do níu kéo, ông lén lút chuồn nhanh ra phòng đợi, tìm chiếc áo choàng của mình mà với nỗi đau xót vô bờ, ông phát hiện ra nó đang nằm dưới sàn nhà, bèn phủi sạch sẽ, nhặt từng hạt bụi bám trên áo, khoác lên vai rồi bước xuống cầu thang ra phố.

Ngoài phố, mọi thứ vẫn sáng rực ánh đèn. Một số cửa hiệu nhỏ, những câu lạc bộ bất đắc dĩ của đám người hầu và đủ mọi thành phần xã hội, vẫn đang mở cửa. Số khác đã đóng nhưng vẫn hắt ra một vệt sáng mỏng manh dọc theo khe cửa, cho thấy họ vẫn chưa dứt khách và có lẽ mấy tay gia nhân nam nữ đang tranh thủ tán gẫu nốt câu chuyện trong lúc để cho chủ nhân hoàn toàn mù tịt về tung tích của mình. Akaky Akakiyevich tiếp tục bước đi trong tâm trạng hân hoan. Thậm chí ông còn chồm lên chạy bộ, chẳng vì lý do gì sất, theo sau một vị phu nhân nào đó vừa lướt qua nhanh như chớp. Nhưng rồi ông khựng lại và tiếp tục đi bộ thong thả như trước, thắc mắc không hiểu sao lúc nãy mình lại rảo bước nhanh đến thế. Chẳng mấy chốc, những con phố hoang vắng vốn dĩ chẳng lấy gì làm vui vẻ vào ban ngày, chưa nói đến ban đêm, lại hiện ra trước mắt ông. Giờ đây chúng càng trở nên mờ mịt và cô tịch hơn. Những ngọn đèn đường thưa thớt dần, dầu hỏa rõ ràng đã bị bớt xén hà tiện. Tiếp theo là những ngôi nhà gỗ và hàng rào tối tăm. Không một bóng người qua lại; chỉ có tuyết lấp lánh trên đường phố và phủ lên những căn lều mái thấp với tấm cửa chớp đóng kín một lớp màn tang thương. Ông tiến đến khúc giao nhau giữa con phố và một quảng trường rộng lớn với những ngôi nhà lờ mờ ẩn hiện ở phía xa bên kia, một quảng trường trông hệt như một vùng hoang mạc đáng sợ.

Đâu đó ở phía xa, một đốm sáng nhỏ xíu hắt ra từ chốt gác của người lính canh, trông như thể nó nằm ở tận cùng thế giới. Niềm vui sướng của Akaky Akakiyevich tụt giảm nghiêm trọng tại thời điểm này. Ông bước vào quảng trường không tránh khỏi một cảm giác sợ hãi vô cớ, hệt như trái tim đang đánh động điềm dữ sắp xảy ra. Ông ngoái đầu nhìn lại, cả hai bên vây quanh ông chẳng khác nào một biển nước mênh mông. “Thôi, tốt hơn hết là đừng nhìn nữa,” ông tự nhủ và cắm cổ bước đi, nhắm nghiền hai mắt lại. Khi mở mắt ra để xem mình đã gần đến phía bên kia quảng trường chưa, ông bỗng sững sờ nhận ra ngay trước mũi mình đang đứng lù lù mấy gã râu ria xồm xoàm—chính xác là hạng người nào thì ông không tài nào nhận diện nổi. Trước mắt ông tối sầm lại và tim đập thình thịch.

“Cái áo choàng này là của tao rõ mười mươi rồi nhé!” một tên cất giọng oang oang, đồng thời chộp lấy cổ áo ông. Akaky Akakiyevich vừa há miệng toan thét lên “Cứu với!” thì tên thứ hai tung một cú đấm to bằng cả cái đầu của một viên công chức thẳng vào miệng ông, lầm bầm: “Mày mà dám hé răng kêu một tiếng xem tao có bẻ cổ không!”

Akaky Akakiyevich cảm thấy chúng đang giật phăng chiếc áo choàng ra khỏi người và bồi cho một cú đá trời giáng. Ông ngã nhũi đầu cắm xuống lớp tuyết lạnh ngắt và bất tỉnh nhân sự.

Chỉ vài phút sau, ông hồi tỉnh và lồm cồm đứng dậy, nhưng xung quanh chẳng còn một bóng người. Ông cảm thấy cái lạnh thấu xương của quảng trường và nhận ra chiếc áo choàng đã không còn trên người. Ông cất tiếng kêu cứu, nhưng giọng ông chẳng thể với tới nổi những rìa mép của quảng trường. Trong cơn tuyệt vọng nhưng miệng vẫn không ngừng gào thét, ông cắm cổ chạy băng qua quảng trường, chạy thẳng về phía chốt gác nơi người lính canh đang đứng tựa lưng vào cây kích giáo, dường như đang tò mò muốn biết gã khách nào đang chạy thục mạng về phía mình vừa la hét oai oái. Akaky Akakiyevich chạy sầm tới trước mặt hắn, nức nở gào lên rằng hắn chỉ mải ngủ gật chẳng màng quan sát gì cả nên mới để cho người ta bị cướp giữa ban ngày. Gã lính canh đáp lại rằng hắn tận mắt nhìn thấy hai kẻ chặn đường ông ở giữa quảng trường, nhưng đinh ninh đó là bạn bè của ông, thay vì đứng đó càm ràm vô ích thì tốt nhất ngày mai ông nên đến đồn cảnh sát để họ mở cuộc truy lùng kẻ đã trộm áo.

Akaky Akakiyevich lê thân tơi tả chạy một mạch về đến nhà, tóc tai thưa thớt ở hai bên thái dương và sau gáy bù xù rối tung, mình mẩy, tay chân dính đầy tuyết. Bà cụ chủ nhà nghe tiếng đập cửa rầm rầm liền hốt hoảng vùng dậy khỏi giường, chỉ đi một chiếc giày, lật đật chạy ra mở cửa, tay vội kéo vạt áo lót che trước ngực vì thẹn thùng. Nhưng khi vừa mở cửa ra, bà lùi phắt lại khi trông thấy bộ dạng thảm hại của Akaky Akakiyevich. Khi nghe ông kể lại đầu đuôi câu chuyện, bà chắp tay kêu trời và bảo rằng ông phải đến thẳng đồn cảnh sát trưởng quận, bởi vì đám tay chân cấp dưới sẽ chỉ hếch mũi lên hứa hẹn rồi cho chìm xuồng mọi chuyện mà thôi. Giải pháp tốt nhất chính là trực tiếp đến gặp cảnh sát trưởng, người mà bà quen biết vì có mụ Anna người Phần Lan, đầu bếp cũ của bà, hiện đang làm vú em trong nhà ông ta. Bà thường nhìn thấy ông ta đi qua nhà và tuần nào ông ta cũng đến nhà thờ vào ngày Chủ nhật, vừa cầu nguyện vừa nở nụ cười rạng rỡ với tất cả mọi người; thế nên qua mọi biểu hiện thì ông ta chắc chắn là một người tốt. Nghe theo lời khuyên đó, Akaky Akakiyevich buồn bã lê bước về phòng. Và đêm hôm đó ông trải qua như thế nào thì bất kỳ ai biết đặt mình vào hoàn cảnh của người khác cũng có thể dễ dàng tưởng tượng được.

Sáng sớm tinh mơ, ông có mặt ở dinh thự của cảnh sát trưởng, nhưng được thông báo là ngài cảnh sát trưởng đang ngủ. Ông quay lại vào lúc mười giờ và lại nhận được câu trả lời cũ. Đến mười một giờ, người ta bảo: “Quan thanh tra không có nhà.” Đến giờ ăn trưa, đám thư ký ở phòng đợi nhất quyết không cho ông vào bằng bất cứ giá nào và hật hòi tra hỏi mục đích đến đây của ông. Cuối cùng, lần đầu tiên trong đời, Akaky Akakiyevich nổi máu yêng hùng, ngắn gọn tuyên bố rằng ông có việc hệ trọng phải gặp trực tiếp ngài cảnh sát trưởng, bọn họ không có quyền ngăn cản ông vào cửa, rằng ông đến từ cục tư pháp, và khi ông nộp đơn khiếu nại về thái độ của họ thì cứ chờ đấy mà xem.

Đám thư ký không dám đáp lại lời nào trước tuyên bố đó, và một tên trong số chúng đã vào gọi cảnh sát trưởng, người sau đó đã chăm chú lắng nghe câu chuyện kỳ quặc về vụ trộm áo choàng. Thay vì tập trung sự chú ý vào mấu chốt của vấn đề, ngài cảnh sát trưởng lại bắt đầu tra vấn ngược lại Akaky Akakiyevich: Tại sao đêm hôm khuya khoắt thế mà lại đi ngoài đường? Có phải thói quen của ông ta hay vừa đi đến tụ điểm đồi trụy nào về? Kết quả là Akaky Akakiyevich bị chất vấn đến mức đầu óc mụ mị cả đi, và đành lủi thủi ra về mà chẳng biết vụ án mất cắp chiếc áo choàng của mình rốt cuộc đang tiến triển đến đâu hay đã trôi dạt về đâu.

Toàn bộ ngày hôm đó, lần đầu tiên trong đời, ông không hề bén mảng đến cục. Hôm sau ông xuất hiện với sắc mặt tái xanh, khoác trên mình chiếc áo ngắn cũ kỹ nay còn rách rưới thảm hại hơn. Tin tức về vụ trộm chiếc áo choàng đã động lòng rất nhiều người, dẫu vẫn có một số công chức nhân cơ hội này không quên châm chọc giễu cợt Akaky Akakiyevich. Họ quyết định quyên góp tiền ngay tại chỗ để hỗ trợ ông, nhưng ngặt một nỗi dạo gần đây các công chức đã phải chiêu đãi tốn kém cho bức chân dung của giám đốc và mua một cuốn sách theo gợi ý của ngài trưởng phòng vốn là bạn thân của tác giả; thế nên số tiền quyên góp được chỉ là một con số lẻ tẻ bèo bọt.

Một trong số họ, động lòng trắc ẩn, quyết định giúp đỡ Akaky Akakiyevich bằng một lời khuyên chân tình, bảo rằng ông không nên đến đồn cảnh sát làm gì, bởi vì dẫu cho có một viên cảnh sát vì muốn lập công dâng sếp mà tìm lại được chiếc áo đi chăng nữa, thì chiếc áo ấy vẫn sẽ nằm lại tang vật ở đồn cảnh sát nếu ông không đưa ra được bằng chứng pháp lý chứng minh đó là tài sản của mình. Do đó, cách tốt nhất là hãy đến tìm một nhân vật quyền quý nào đó; bởi vì vị nhân vật quyền quý này, thông qua việc can thiệp với các cơ quan chức năng thích hợp, có thể đẩy nhanh tiến độ vụ việc lên rất nhiều.

Chẳng còn cách nào khác, Akaky Akakiyevich đành quyết định đến gặp nhân vật quyền quý nọ. Chức vụ chính xác của vị nhân vật quyền quý này cho đến nay vẫn là một ẩn số đối với người đời. Độc giả cần phải biết rằng vị nhân vật quyền quý này vừa mới leo lên hàng ngũ quyền quý cách đây chưa lâu, trước đó ông ta chỉ là một kẻ vô danh tiểu tốt. Hơn nữa, vị thế hiện tại của ông ta chẳng thấm tháp gì khi so sánh với những kẻ quyền lực thượng thừa khác. Nhưng ngặt một nỗi luôn luôn có một nhóm người xung quanh coi những thứ vốn dĩ tầm thường trong mắt kẻ khác là vô cùng to tát. Hơn nữa, bản thân ông ta cũng luôn tìm cách tô vẽ thêm tầm quan trọng của mình bằng đủ mọi thủ phím. Chẳng hạn như, ông ta ra quy định bắt đám công chức cấp dưới phải đứng chờ sẵn ở cầu thang mỗi khi ông ta bước chân vào cơ quan; không ai được phép trực tiếp diện kiến ông ta, mà phải tuân thủ nghiêm ngặt nghi thức phép tắc: lục sự hội đồng phải làm báo cáo trình thư ký chính phủ, thư ký chính phủ trình tham sự viên, hoặc bất cứ chức vị nào tương xứng, và mọi công văn giấy tờ phải đi theo trình tự đó để lên đến bàn ông ta. Ở Nước Nga Thánh Thiện, cái thói sùng bái thói quen bắt chước ấy ngấm vào máu thịt muôn đời; ai nấy đều bắt chước và sao chép cấp trên của mình. Người ta còn đồn rằng có một tham sự viên nọ khi được cất nhắc lên làm trưởng một phòng ban nhỏ liền vách ngay một phòng riêng kín cổng cao tường, gọi đó là phòng tiếp kiến, và bố trí ngay ngoài cửa một tên gia nhân mặc áo viền cổ đỏ tay nắm chặt tay nắm cửa để mở cho bất kỳ ai bước vào, dù rằng cái phòng tiếp kiến ấy chật chội đến mức chẳng kê nổi một chiếc bàn viết bình thường.

Tác phong và lề thói của vị nhân vật quyền quý này vô cùng bệ vệ, oai nghiêm, nhưng có phần hơi quá lố. Nền tảng cốt lõi trong hệ thống quản lý của ông ta là sự nghiêm khắc. “Nghiêm khắc, nghiêm khắc, và luôn luôn nghiêm khắc!” ông ta thường lớn tiếng tuyên bố như vậy; và ở từ cuối cùng, ông ta thường đăm đăm nhìn thẳng vào mặt kẻ đang nói chuyện với mình ra chiều uy nghiêm. Nhưng thực ra làm gì có ai dám lơ là, bởi vì mươi ba cái mạng nhân viên cấp dưới tạo nên toàn bộ lực lượng của cơ quan đã run như cầy sấy từ đời nào rồi. Cứ thoáng thấy bóng ông ta từ đằng xa là họ đã buông thét công việc, đứng xếp thành một hàng dài chờ sẵn cho đến khi ông ta bước qua phòng. Những cuộc trò chuyện thông thường của ông ta với cấp dưới lúc nào cũng nồng nặc mùi hống hách, chủ yếu xoay quanh ba câu cửa miệng: “Mày hỗn xược vừa chứ!” “Mày có biết mày đang nói chuyện với ai không hả?” “Mày có mở mắt ra xem ai đang đứng trước mặt mày không!”

Ngoài ra, ông ta thực chất là một người rất tốt bụng, tử tế với đồng nghiệp và sẵn sàng giúp đỡ người khác. Nhưng cái chức vụ cấp tướng cứ khiến ông ta mất hết cả tự chủ. Mỗi lần phải tiếp đón một kẻ mang hàm cấp ấy, ông ta lại đâm ra lúng túng, bối rối hệt như mất phương hướng, chẳng biết phải xử trí thế nào. Nếu vô tình lọt vào nhóm bạn bè ngang hàng, ông ta lại trở thành một gã dễ thương hết sảy, một tay chơi sòng phẳng đáng mến ở nhiều khía cạnh và chẳng hề ngốc nghếch chút nào; thế nhưng hễ cứ bước chân vào xã hội có những kẻ kém mình dù chỉ một bậc hàm, ông ta liền ngậm tăm im bặt. Và tình cảnh ấy thật đáng thương hại, nhất là khi bản thân ông ta cũng cảm thấy mình lẽ ra có thể tận dụng thời gian một cách hữu ích hơn nhiều. Đôi khi trong ánh mắt ông ta lấp ló khao khát được nhập hội vào một cuộc trò chuyện thú vị nào đó, nhưng rồi lại bị níu giữ bởi suy nghĩ: “Làm thế có hạ cố quá không nhỉ? Liệu có quá suồng sã mất đi vị thế không? Và có khi nào mình bị giảm sút uy tín vì thế không?” Và chính vì những suy nghĩ quẩn quanh ấy, ông ta luôn giữ nguyên trạng thái câm lặng, thỉnh thoảng thốt ra dăm âm tiết cụt lủn, qua đó rước lấy danh hiệu vị quan chán ngắt nhất quả đất.

Chính trước vị nhân vật quyền quý này, Akaky Akakiyevich đã đến yết kiến, và lại vào thời điểm bất lợi nhất cho bản thân nhưng lại thuận tiện nhất cho vị nhân vật quyền quý. Vị nhân vật quyền quý đang ngồi trong phòng riêng, cười nói rôm rả với một người bạn cũ thuở hàn vi mà ông ta đã nhiều năm không gặp mới vừa ghé thăm, thì có người vào báo rằng có một kẻ tên là Bashmachkin đang xin kiến diện. Ông ta nhát gân hỏi cộc lốc: “Nó là đứa nào?”—“Dạ thưa, một viên chức cấp dưới ạ,” người ta đáp. “À, cho nó đứng chờ đấy! Lúc này không phải lúc để tiếp nó,” vị nhân vật quyền quý phán.

Ở đây cần phải vạch trần rằng vị nhân vật quyền quý này đã nói dối một cách trơ trẽn. Những chuyện cần nói với người bạn cũ ông ta đã buôn dưa lê từ đời thủa nào rồi, và cuộc trò chuyện từ lâu đã bị ngắt quãng bởi những khoảng im lặng kéo dài đến nỗi họ chỉ còn cách vỗ đùi nhau bòm bốp rồi thốt lên: “Cậu nghĩ thế phải không, Ivan Abramovich!” “Chuẩn cơm mẹ nấu rồi, Stepan Varlamovich!” Mặc dù vậy, ông ta vẫn ra lệnh bắt viên công chức phải đứng chờ bét nhè ra đấy, chỉ để chứng minh cho người bạn vốn đã bỏ ngỏ công trường quan trường lâu ngày về quê ở ẩn thấy được cảnh đám công chức phải kiên nhẫn mỏi mòn chờ đợi ở phòng đợi của ông ta oai phong lẫm liệt thế nào.

Cuối cùng, sau khi đã khản cổ buôn chuyện chán chê, và hơn thế nữa đã thỏa mãn với những khoảng lặng cùng việc rít xong điếu xì-gà trên chiếc bành có lưng tựa điều chỉnh thoải mái, ông ta bỗng nhớ ra và cất tiếng bảo viên thư ký đang đứng cạnh cửa cầm sấp hồ sơ báo cáo: “Này, hình như có một viên chức đang chờ gặp ta ngoài kia phải không. Bảo nó vào đây.” Khi nhìn thấy vẻ ngoài khiêm nhường cùng bộ quân phục rách rưới của Akaky Akakiyevich, ông ta đột ngột quay phắt lại, cất giọng cộc lốc lạnh lùng: “Anh muốn gì?”—đây là tông giọng mà ông ta đã tự luyện tập một mình trong phòng riêng trước gương suốt cả tuần lễ trước khi được cất nhắc lên chức vụ hiện tại.

Akaky Akakiyevich, vốn dĩ đã mang sẵn một bồ sợ hãi trong người, nay lại càng thêm bối rối, cố gắng dùng hết khả năng ngôn từ hạn hẹp của mình để giải thích, với tần suất xuất hiện dày đặc hơn hẳn bình thường của từ “cái đó,” rằng chiếc áo choàng hoàn toàn mới tinh của ông vừa bị cướp đoạt một cách vô cùng tàn nhẫn; rằng ông đến tìm ngài với hy vọng ngài có thể dùng uy tín của mình can thiệp—để ngài có thể viết thư liên hệ với ngài cảnh sát trưởng nhằm truy tìm chiếc áo.

Chẳng hiểu vì lý do kỳ quặc gì mà cách hành xử này lại khiến vị nhân vật quyền quý nổi đóa.

“Cái gì thế hả, thưa ngài!” ông ta gắt lên cộc lốc. “Anh không biết phép tắc kỷ cương là gì à? Anh tưởng mình đang đến gặp ai thế hả? Không biết thủ tục giải quyết những việc này thế nào sao? Lẽ ra anh phải nộp đơn khiếu nại lên văn phòng trước chứ. Đơn sẽ được chuyển đến trưởng phòng, rồi qua tay chánh văn phòng, sau đó bàn giao cho thư ký, và thư ký mới trình lên tôi chứ.”

“Nhưng thưa ngài,” Akaky Akakiyevich nói, cố gắng vắt kiệt chút trí lực còm cõi và đồng thời cảm nhận rõ mồ hôi đang vã ra như tắm trên trán, “tôi, thưa ngài, dám mạo muội đến quấy rầy ngài bởi vì đám thư ký—toàn là một lũ lươn lẹo không đáng tin cậy.”

“Cái gì, cái gì, cái gì!” vị nhân vật quyền quý thét lên. “Can đảm ở đâu ra mà anh dám thốt ra những lời này? Lẽ sống quái quỉ gì thế hả? Sự hỗn xược vô lối với cấp trên và lãnh đạo đã lan rộng đến thế hệ trẻ từ bao giờ vậy!” Vị nhân vật quyền quý có lẽ không nhận ra rằng Akaky Akakiyevich năm nay đãấp xỉ tuổi ngũ tuần. Nếu có thể gọi ông là một thanh niên, thì chắc là phải so sánh với một cụ già bảy mươi tuổi. “Anh có biết mình đang nói chuyện với ai không hả? Anh có mở mắt ra xem ai đang đứng trước mặt mình không? Có biết không hả? Có biết không, tôi hỏi anh đấy!” Nói đoạn, ông ta dậm chân thình thịch và nâng tông giọng lên cao đến mức có thể dọa chết khiếp bất kỳ ai chứ đừng nói gì đến một kẻ yếu bóng vía như Akaky Akakiyevich.

Lý trí của Akaky Akakiyevich sụp đổ hoàn toàn. Ông lảo đảo, run lẩy bẩy từ đầu đến chân, và nếu đám gác cổng không kịp chạy vào đỡ lấy thì ông đã ngã vật xuống sàn nhà. Người ta khiêng ông ra ngoài trong trạng thái bất tỉnh nhân sự. Về phần vị nhân vật quyền quý, cảm thấy vô cùng thỏa mãn vì hiệu quả đạt được vượt ngoài mong đợi, và hoàn toàn say sưa với ảo tưởng rằng chỉ bằng một lời nói của mình mà ông ta có thể khiến một gã đàn ông ngất lịm, ông ta liếc xéo sang người bạn để xem phản ứng thế nào, và không giấu được vẻ hài lòng khi thấy người bạn đang vô cùng bứt rứt, thậm chí bắt đầu tỏ ra hoảng sợ đôi chút.

Akaky Akakiyevich chẳng thể nhớ nổi mình đã lê lết xuống cầu thang và lao ra đường bằng cách nào. Cả đôi tay lẫn đôi chân đều tê dại mất cảm giác. Chưa bao giờ trong đời ông bị một vị quan chức cấp cao nào mắng mỏ thậm tệ đến thế, chưa nói gì đến một kẻ xa lạ. Ông cứ thế lảo đảo bước đi giữa trận bão tuyết đang gầm rú ngoài phố, miệng há hốc ra thở dốc. Những cơn gió theo thói quen ở Sankt-Petersburg quật thẳng vào người ông từ mọi ngóc ngách, qua từng con hẻm giao nhau. Chỉ trong chớp mắt, nó đã tống thẳng một trận viêm họng cấp vào cổ họng ông, và ông lê về đến nhà mà không tài nào thốt ra nổi một lời. Cổ họng sưng tphồng lên, ông đành ngã vật xuống giường. Sức mạnh của một trận mắng nhiếc ra trò đôi khi thật là khủng khiếp!

Hôm sau, một trận sốt cao bùng phát dữ dội. Nhờ sự trợ giúp đắc lực của khí hậu Sankt-Petersburg, căn bệnh tiến triển nhanh hơn bất kỳ tiên lượng nào, và khi vị bác sĩ đến nơi, bắt mạch cho bệnh nhân xong, ông ta đành lắc đầu tuyên bố chẳng còn cách nào cứu chữa ngoài việc kê đơn đắp gạc để bệnh nhân không phải ra đi mà thiếu vắng sự trợ giúp nhân đạo của y học. Đồng thời, ông ta tiên lượng bệnh nhân sẽ qua đời trong vòng ba mươi sáu tiếng nữa. Nói xong, ông ta quay sang mụ chủ nhà và bảo: “Còn mụ nữa, đừng có mà lãng phí thời gian vô ích với hắn. Đi đặt ngay một chiếc quan tài gỗ thông đi, chứ quan tài gỗ sồi thì đắt đỏ quá sức hắn đấy.”

Liệu Akaky Akakiyevich có nghe thấy những lời phán quyết tử hình đó không? Và nếu nghe thấy, liệu chúng có tạo ra cú sốc tột độ nào cho ông không? Liệu ông có than khóc cho cuộc đời cay đắng của mình không?—Chúng tôi hoàn toàn không rõ, bởi vì ông cứ chìm đắm trong cơn mê sảng liên miên. Những ảo ảnh cứ hiện ra trước mắt ông không dứt, cái nọ kỳ dị hơn cái kia. Lúc thì ông nhìn thấy Petrovich và ra lệnh cho hắn phải may một chiếc áo choàng có cài bẫy chống cướp, bởi vì ông cứ đinh ninh lũ cướp đang ẩn nấp ngay gầm giường; và chốc chốc ông lại thét lên gọi mụ chủ nhà lôi một tên trong số chúng ra khỏi chăn. Lúc khác ông lại thắc mắc tại sao chiếc áo bành tô cũ kỹ lại cứ treo lủng lẳng trước mặt trong khi ông đã có áo choàng mới. Tiếp đó ông lại tưởng tượng mình đang đứng trước mặt vị nhân vật quyền quý, lắng nghe một tràng mắng mỏ xối xả và van xin: “Xin ngài rộng lượng tha thứ cho tôi!” nhưng rồi cuối cùng ông bắt đầu chửi rủa, thốt ra những lời lẽ tục tĩu đến mức mụ chủ nhà già cả phải hoảng hốt làm dấu thánh, bởi vì suốt đời mụ chưa từng nghe thấy từ miệng ông một câu nào như thế, nhất là khi những lời ấy lại thốt ra ngay sau cụm từ “thưa ngài.” Về sau, ông lẩm bẩm những điều vô nghĩa chẳng ai hiểu nổi, và tất cả những gì người ta có thể nhận ra là những lời lảm nhảm ấy chỉ xoay quanh duy nhất một vật thể: chiếc áo choàng.

Cuối cùng, Akaky Akakiyevich khốn khổ đã trút hơi thở cuối cùng. Người ta không niêm phong phòng ốc cũng chẳng kiểm kê tài sản của ông, bởi vì thứ nhất là chẳng có người thừa kế nào, và thứ hai là chẳng có gì đáng giá để thừa kế ngoài một bó ngòi bút lông ngỗng, một sấp giấy trắng công văn, ba đôi bít tất, hai ba chiếc khuy áo tuột ra từ quần tây và chiếc áo bành tô độc nhất mà độc giả đã biết. Cơ ngơi ấy rơi vào tay ai, Chúa mới biết được. Thú thật là kẻ kể câu chuyện này cho tôi nghe cũng chẳng mảy may quan tâm đến điều đó. Người ta khiêng xác Akaky Akakiyevich đi chôn cất.

Và Sankt-Petersburg vắng bóng Akaky Akakiyevich hệt như chưa từng có sự hiện diện của ông. Một sinh linh đã biến mất, một kẻ chẳng được ai che chở, chẳng thân thiết với ai, chẳng thu hút sự chú ý của bất kỳ ai, và chưa từng lọt vào mắt xanh của những nhà nghiên cứu bản tính con người—những kẻ chẳng bao giờ bỏ lỡ cơ hội châm một chiếc kim qua một con ruồi thông thường để soi dưới kính hiển vi. Một sinh linh đã nhẫn nại gánh chịu mọi lời chế giễu ở cơ quan và bước vào nấm mồ mà chưa từng làm nổi một việc phi thường nào, thế nhưng vào những giây phút cuối đời, một vị sứ giả rực rỡ dưới hình hài chiếc áo choàng đã hiện ra, thắp sáng cuộc đời khốn khổ của ông trong chốc lát, để rồi sau đó, một tai họa kinh hoàng giáng xuống đầu ông, hệt như tai họa vẫn giáng xuống những kẻ quyền thế trên thế gian này!

Vài ngày sau khi ông qua đời, gã gác cổng được cử từ cục đến nhà trọ của ông với trát triệu tập ông phải có mặt tại cơ quan ngay lập tức theo lệnh của ngài cục trưởng. Nhưng gã gác cổng đành tiu nghỉu ra về với câu trả lời rằng ông không thể đến được; và trước câu hỏi “Tại sao?” gã đáp: “Dạ thưa, vì hắn chết rồi! Hắn được đem chôn cách đây bốn ngày rồi ạ.” Đó là cách mà người trong cục hay tin Akaky Akakiyevich qua đời. Và ngày hôm sau, một viên chức mới đã ngồi vào chiếc ghế của ông, với nét chữ ngoằn ngoèo không còn ngay ngắn mà nghiêng ngả hẳn sang một bên.

Nhưng ai có thể ngờ rằng đây chưa phải là đoạn kết thực sự của cuộc đời Akaky Akakiyevich, rằng ông vẫn được định mệnh sắp đặt để gây náo loạn cõi trần sau khi chết, như một sự bù đắp cho một cuộc đời vô nghĩa tột cùng? Sự thực là vậy, và câu chuyện bi hài của chúng ta bất ngờ rẽ sang một cái kết mang màu sắc hoang đường.

Khắp Sankt-Petersburg bỗng rộ lên lời đồn đại rằng vào ban đêm, quanh khu vực cầu Kalinkin và vùng lân cận xuất hiện một bóng ma là một viên chức đang lang thang tìm kiếm chiếc áo choàng bị đánh cắp; và với cái cớ đòi lại chiếc áo choàng mất cắp, bóng ma ấy chẳng nể nang cấp bậc hay chức vị nào, cứ lột phăng áo choàng từ trên vai bất kỳ ai, từ áo lông mèo, lông hải ly, lông chồn, lông gấu, lông sồi, tóm lại là đủ mọi loại da và lông thú mà con người dùng để giữ ấm. Một trong số các công chức của cục đã tận mắt nhìn thấy bóng ma đó và ngay lập tức nhận ra Akaky Akakiyevich. Tuy nhiên, hình ảnh ấy kinh khủng đến mức hắn ta cắm cổ chạy thục mạng và chẳng dám nhìn kỹ bóng ma, chỉ kịp thấy nó giơ ngón tay đe dọa mình từ đằng xa. Những lời khiếu nại liên tiếp đổ về từ mọi ngả rằng phần lưng và vai áo của không chỉ các tham sự viên mà thậm chí cả các cố vấn triều đình đều đang đứng trước nguy cơ bị cảm lạnh vì nạn lột áo choàng diễn ra như cơm bữa.

Cảnh sát được lệnh sống chết gì cũng phải bắt cho bằng được cái thây ma ấy, dù sống hay chết, để trừng trị làm gương cho kẻ khác một cách nghiêm khắc nhất. Họ suýt chút nữa đã thành công, bởi vì một gã lính canh đang túc trực ở hẻm Kirinshkin đã chộp được cổ áo của cái thây ma ngay tại hiện trường tội ác khi hắn đang cố lột chiếc áo vải thô của một nhạc công về hưu. Tóm được cổ áo rồi, gã liền hò hét gọi hai đồng nghiệp đến hỗ trợ, dặn họ giữ chặt trong lúc bản thân thò tay vào ống bót để móc hộp thuốc hít ra xoa lên chiếc mũi đã cóng lạnh. Nhưng loại thuốc hít ấy cay nồng đến mức ngay cả thây ma cũng không thể chịu nổi. Gã lính canh bịt một bên lỗ mũi bằng ngón tay, vừa nhét nửa vốc thuốc vào bên còn lại thì bóng ma liền hắt hơi một cú dữ dội đến mức tống thẳng bùn đất làm mù tít mắt cả ba tên. Trong lúc chúng giơ tay dụi mắt, cái thây ma đã biến mất tăm mất tích, khiến chúng hoàn toàn mù tịt không biết rốt cuộc mình có thực sự tóm được hắn hay không. Kể từ dạo đó, đám lính canh đâm ra khiếp sợ thây ma đến mức chẳng dám tóm cả người sống, chỉ dám đứng từ xa hét lên: “Này! Đi thẳng đường mày đi!” Cứ thế, viên chức ma quái tiếp tục xuất hiện cả ở phía bên kia cầu Kalinkin, gieo rắc nỗi kinh hoàng không nhỏ cho những kẻ nhát gan.

Nhưng chúng ta đã hoàn toàn bỏ quên vị nhân vật quyền quý nọ, kẻ thực sự có thể coi là cội nguồn dẫn đến ngã rẽ hoang đường của câu chuyện có thật này. Trước hết, lương tâm bắt buộc chúng ta phải thừa nhận rằng sau sự ra đi của kẻ khốn khổ Akaky Akakiyevich đã bị bức hại đến chết, ông ta cảm thấy dằn vặt phần nào. Cảm giác day dứt không hề dễ chịu chút nào đối với ông ta, bởi vì trái tim ông ta vẫn hướng về nhiều thiện tính, bất chấp việc chức tạng thường xuyên ngăn cản ông ta thể hiện bản ngã thực sự của mình. Ngay khi người bạn vừa rời khỏi phòng, ông ta bắt đầu nghĩ về Akaky Akakiyevich khốn khổ. Và kể từ ngày đó, hình ảnh Akaky Akakiyevich, kẻ không chịu nổi một lời quở trách công sở, cứ hiện lên trong đầu ông ta gần như mỗi ngày. Ý nghĩ đó ám ảnh đến mức một tuần sau ông ta thậm chí quyết định cử một nhân viên đến dò la xem liệu mình có thực sự giúp đỡ gì được cho lão ta không. Và khi nhận được tin báo rằng Akaky Akakiyevich đã đột tử vì sốt cao, ông ta giật nảy mình, hứng chịu những mũi tên phán xét từ lương tâm và đâm ra cáu bẳn suốt cả ngày hôm đó.

Muốn tìm cách chuyển hướng suy nghĩ và xua đi cảm giác khó chịu ấy, tối hôm đó ông ta ghé sang nhà một người bạn và thấy ở đó tụ tập một nhóm đông đủ. May mắn thay, hầu hết mọi người đều có cấp bậc ngang bằng với ông ta, nhờ thế ông ta chẳng việc gì phải câu nệ giữ kẽ. Điều này tác động kỳ diệu đến trạng thái tinh thần của ông ta. Ông ta trở nên cởi mở, vui vẻ trong giao tiếp, tóm lại là trải qua một buổi tối tuyệt vời. Sau bữa tối, ông ta uống liền hai ly sâm-panh—một liều thuốc kinh điển để tìm lại sự hưng phấn mà ai cũng biết. Rượu sâm-panh khơi gợi trong ông ta máu phiêu lưu, và ông ta quyết định không về nhà ngay mà ghé qua thăm một người đẹp gốc Đức quen thuộc, Karolina Ivanovna, một ả đàn bà mà có vẻ như ông ta đang duy trì mối quan hệ vô cùng thân mật.

Phải nhắc lại rằng vị nhân vật quyền quý này không còn trẻ trung gì nữa, nhưng lại là một người chồng tốt và một người cha đáng kính của gia đình. Hai người con trai, một người đã đi làm, và cô con gái xinh xắn mười sáu tuổi có chiếc mũi hếch duyên dáng, sáng nào cũng đến hôn tay ông ta và chào: “Bon jour, papa.” Người vợ, một phụ nữ vẫn còn trẻ trung tươi tắn, trước tiên đưa tay cho ông ta hôn, rồi sau đó làm ngược lại là hôn tay chồng. Nhưng vị nhân vật quyền quý, dẫu hoàn toàn mãn nguyện với tổ ấm gia đình, vẫn thích phô trương phong cách khi nuôi một bóng hồng ở góc khác của thành phố. Người tình này chẳng xinh đẹp hay trẻ trung hơn vợ ông ta là bao; nhưng trên đời có lắm thứ oái oăm như thế, và việc phán xét không thuộc về phận sự của chúng ta. Thế là vị nhân vật quyền quý bước xuống cầu thang, trèo lên xe trượt tuyết, bảo người đánh xe: “Đến nhà Karolina Ivanovna,” và vùi mình một cách sung sướng trong chiếc áo choàng ấm áp, chìm đắm vào tâm trạng tuyệt vời nhất mà một người Nga có thể tưởng tượng ra: khi bản thân chẳng mải nghĩ ngợi gì sất, nhưng những dòng suy nghĩ cứ tự động luồn lách vào đầu, cái nọ dễ chịu hơn cái kia, chẳng tốn chút công sức nào để xua đuổi hay tìm kiếm chúng. Trong sự mãn nguyện tột cùng, ông ta nhẩm lại những chi tiết vui nhộn trong buổi tối vừa qua và những câu nói hài hước khiến cả nhóm cười phá lên. Ông ta lẩm bẩm nhắc lại nhiều câu trong số đó và thấy chúng vẫn buồn cười hệt như lúc trước; thế nên chẳng có gì ngạc nhiên khi ông ta cười phá lên một cách sảng khoái. Tuy nhiên, thỉnh thoảng sự sung sướng ấy lại bị ngắt quãng bởi những cơn gió rít thình lình xuất hiện từ xó xỉnh quái quỷ nào đó, quất thẳng vào mặt ông ta, tống từng đống tuyết vào người, thổi phồng phần cổ áo choàng lên hệt như cánh buồm, hoặc bất ngờ hất tung nó qua đầu ông ta với một lực siêu nhiên, khiến ông ta liên tục vật lộn gỡ rối.

Đột nhiên, vị nhân vật quyền quý cảm thấy có ai đó chộp chặt lấy cổ áo mình. Quay đầu lại, ông ta nhìn thấy một gã vóc người thấp lùn mặc bộ quân phục cũ rách, và nhận ra—không khỏi kinh hoàng—đó chính là Akaky Akakiyevich. Khuôn mặt của viên chức ấy trắng bệch như tuyết và trông y hệt xác chết. Nhưng sự hoảng sợ của vị nhân vật quyền quý đẩy lên đến đỉnh điểm khi ông ta thấy cái miệng của thây ma há hốc ra và thốt lên những lời sau, phả thẳng vào người ông ta thứ mùi nồng nặc của tử khí:

“A, cuối cùng thì mày cũng đây! Tao tóm được mày rồi—ở cái cổ áo này nhé! Tao đang cần chiếc áo choàng của mày. Mày chẳng thèm đếm xỉa gì đến áo của tao mà còn mắng mỏ sỉ nhục tao cơ mà. Giờ thì lột áo ra đây mau!”

Vị nhân vật quyền quý tái xanh mặt mày, suýt chết khiếp vì sợ hãi. Dù có uy quyền lẫm liệt ở cơ quan và trước mặt đám cấp dưới đi chăng nữa, và dẫu cứ mỗi lần nhìn thấy vóc dáng oai phong lẫm liệt của ông ta là ai nấy đều thầm thốt lên: “Chà! Trông ông ấy ra dáng đàn ông bản lĩnh làm sao!”, nhưng trong cơn khủng hoảng này, hệt như bao kẻ có bề ngoài anh hùng khác, ông ta trải qua một nỗi hoảng loạn tột độ đến mức có lý do chính đáng để lo sợ một cơn đột quỵ. Ông ta vội vã giật phăng chiếc áo choàng ra khỏi vai và thét lên với người đánh xe bằng một giọng kỳ quái: “Phi thẳng về nhà mau!” Gã đánh xe, nghe thấy tông giọng thường chỉ dùng trong những tình huống nguy cấp và thậm chí kèm theo một uy lực vô hình nào đó, vội rụt cổ lại giữa hai vai đề phòng bất trắc, quất roi vút một tiếng và lao đi như mũi tên. Chỉ hơn sáu phút sau, vị nhân vật quyền quý đã có mặt trước cửa nhà mình. Tái mét, hoảng loạn tột độ và không mặc áo choàng, ông ta lết về nhà thay vì đến chỗ Karolina Ivanovna, tìm cách mò vào phòng riêng và trải qua một đêm trong sự dằn vặt kinh hoàng nhất; đến mức sáng hôm sau khi đang uống trà, cô con gái đã thốt lên: “Trông bố xanh xao quá đấy, papa.” Nhưng người bố ngậm tăm im bặt và chẳng hé răng nửa lời với bất kỳ ai về những gì đã xảy ra với mình, ông ta từng đi đâu hay định đến đâu.

Sự kiện ấy đã để lại một vết hằn sâu sắc trong tâm trí ông ta. Thậm chí ông ta bắt đầu bớt hẳn thói quen văng ra những câu “Mày hỗn xược vừa chứ!” hay “Mày có biết mày đang đứng trước mặt ai không!” với đám nhân viên cấp dưới; và nếu có lỡ thốt ra, thì cũng phải sau khi đã thăm dò kỹ càng bản chất sự việc. Nhưng điều đáng chú ý nhất là kể từ ngày hôm đó, bóng ma của viên chức quá cố hoàn toàn biến mất. Rõ ràng là chiếc áo choàng của vị nhân vật quyền quý vừa vặn hoàn hảo trên vai hắn. Dù thế nào đi nữa, người ta không còn nghe thấy bất kỳ vụ lột áo choàng nào từ vai người khác nữa. Mặc dù vậy, vẫn có rất nhiều kẻ nhiệt thành lo xa không tài nào yên tâm nổi và quả quyết rằng bóng ma của viên chức ấy vẫn tiếp tục hiện hình ở những khu vực hẻo lánh xa xôi của thành phố.

Thực tế là có một gã lính canh ở Kolomen đã tận mắt nhìn thấy bóng ma bước ra từ phía sau một ngôi nhà. Nhưng gã lính canh này vốn yếu bóng vía nên không dám tóm hắn, chỉ lủi thủi bám theo trong bóng tối cho đến khi bóng ma ngoảnh đầu lại, dừng bước và cất tiếng hỏi: “Mày muốn gì hả?”, đồng thời giơ ra một nắm đấm to kềnh chưa từng thấy ở người sống. Gã lính canh đáp: “Dạ thưa không có gì ạ,” rồi quay đầu tẩu thoát ngay lập tức. Nhưng bóng ma thì vóc dáng cao kều, để hàng ria mép to tướng, sải bước tiến thẳng về hướng cầu Obukhov và biến hút vào màn đêm tĩnh mịch.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Anton Pavlovich Chekhov

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.