Sau hội nghị, Oét-mô-len gặp riêng A Bơ-ram, Đa- vít-xcm bộc lộ:
- Tôi rất muốn được giải đáp về họ: Hướng, quy mô tấn công và lực lượng họ đưa ra trong mùa khô này.
Hai viên tướng cũng đang hơi lúng túng về những câu hỏi tương tự nên chỉ đáp:
- Họ là kẻ địch khó hiểu.
Oét-mô-len nhún vai:
- Sẽ có đánh lớn!
Nhưng đánh lớn ở đâu, thế nào thì mơ hồ quá. Oét- mô-len phòng xa bằng cách báo động toàn quân và gửi "chỉ thị nhắc nhở" tới các Tư lệnh Mỹ ở bốn vùng chiến thuật, nội dung chính là: Quân địch đã sẵn sàng có một quyết định dứt khoát về cách thức tiến hành chiến tranh, nhằm tập trung các lực lượng triển khai một cố gắng cao độ trên tất cả các mặt trận, cả quân sự và chính trị để giành thắng lợi trong một thời gian ngắn".
Nhận được "chỉ thị nhắc nhở", quân Mỹ ở Vùng chiến thuật 3 mở cuộc hành binh càn quét vùng tây bắc Phước Long, nhằm ngăn chặn đường xuất phát tiến công của đối phương từ địa bàn chiến khu C và chiến khu D.
Quân Mỹ cắm chốt ở Vùng chiến thuật 1, triển khai chiến dịch Y-oóc càn quét những khu vực căn cứ của Việt cộng ở giáp biên giới Lào. Trên Tây Nguyên, Sư đoàn 4 Mỹ trong một trận càn bắt được một Mệnh lệnh khẩn số 1 của quân Bắc Việt vạch kế hoạch tỉ mỉ về cuộc tiến công chiếm thị xã Plây Cu. Thiếu tướng Xtôn tư lệnh Sư đoàn 4 lập tức báo động cho toàn đơn vị, điều động đại đội xe tăng dự bị vào trung tâm thị xã để tăng cường phòng thủ. Trung tướng Vĩnh Lộc - Tư lệnh Vùng chiến thuật 2 cũng điều quân như đèn cù để phòng bị cuộc tấn công.
Dù có nhiều biến động nhỏ, ngày 8 tháng 12 năm 1967 Oét-mô-len vẫn ra lệnh cho Sư đoàn 25 triển khai cuộc hành quân "Hòn đá vàng" đánh vào Chiến khu c mở đầu cuộc Phản công chiến lược mùa khô lần thứ 3. "Hòn đá vàng" chưa kịp thử lửa thì Đa-vít-xơn vội vã sang gặp chủ tướng thông báo có di chuyển lớn của đối phương vào hướng quan trọng trên chiến trường Miền Nam, nhất là Vùng chiến thuật 1. Lập tức Oét-mô-len cho ngừng cuộc hành quân "Hòn đá vàng", rút toàn bộ Sư đoàn 25 về giữ Sài Gòn và làm hậu bị cho vùng Đường 9 - Khe Sanh.
Ngày 28 tháng 1 năm 1968, tướng Lô-vít Oan-tơ - Tư lệnh Sư đoàn thuỷ quân lục chiến, đóng đại bản doanh ở Đà Nang, gọi điện cao cấp với Tổng chỉ huy Oét-mô-len.
- Bắc Việt đã nổ súng tấn công toàn bộ Cụm cứ điểm Khe Sanh.
Buổi chiều, Đa-vít-xơn sang gặp Chủ tướng thông báo:
- Phát hiện có nhiều tiểu đoàn địch chuẩn bị tấn công vào Huế và thành Quảng Trị.
Oét-mô-len hỏi vị tướng quân báo mà cũng tự hỏi mình:
- Quá trình giền dứ công phu là nhằm vào mục tiêu này sao? Không! Tôi không cho là đúng! Quả là kẻ địch tiềm tàng nhiều bí ẩn.
Oét-mô-len gặp Đại sứ Ét-uốt Bân-cơ thông báo tình hình và hiểm hoạ có thể xảy ra với hai tỉnh phía bắc. Ông ta muốn quân đội Cộng hoà vào trận và với nỗ lực hơn nữa để chia sẻ gánh nặng chiến trường với quân Mỹ. Nguyễn Văn Thiệu dù đã được cảnh báo vẫn cho là "Việt cộng chưa đủ sức làm nên chuyện đáng kể" nên thản nhiên về quê ăn Tết. Đại sứ Mỹ gặp Cao Văn Viên. Viên cũng mơ hồ về hướng, quy mô tấn công của đối phương nên chỉ ra lệnh báo động quân dự bị chiến lược.
Chiến trường Đường 9 - Khe Sanh bị uy hiếp nghiêm trọng cả hướng đông và hướng tây.
Oét-mô-len vội bay ra Đà Nẵng họp khẩn cấp với các Tư lệnh Mỹ đồn trú ở Vùng chiến thuật 1 gồm Sư đoàn thuỷ quân lục chiến số 1 đại bản doanh đóng ở Đà Nẵng và Sư đoàn thuỷ quân lục chiến số 3 đại bản doanh đóng ở Quảng Ngãi. Cả hai viên Tư lệnh đều một ý tưởng xin tăng viện: Bổ sung nhân lực và chi viện tối đa bằng không quân và pháo binh.
Oét-mô-len không thể cưỡng lại tình thế. Ông quyết định điều toàn bộ Sư đoàn lính thuỷ đánh bộ số 3 và Lữ đoàn đổ bộ đường không 101 ra Đường 9 - Khe Sanh. Nhưng, Sư đoàn 3 và Lữ đoàn 101 giương vây sải cánh mà chẳng cải thiện được tình hình, không những thế bị quay như đèn cù, lính chống lụt bị sa lầy. Oét-mô-len vội vàng thành lập Quân đoàn tạm thời, giao cho A -Bơ-ram - Phó tổng chỉ huy Quân viễn chinh Mỹ làm Tư lệnh, trực tiếp điều hành cuộc kháng cự ở Đường 9 - Khe Sanh.
Tới thời điểm, Tổng chí huy Quân đội viễn chinh Mỹ- Oét-mô-len phải điều chỉnh đội hình (nghĩa là bị thu hút do kế nghi binh) để đối phó với các Sư đoàn của đối phương ở các chiến trường quan trọng. Một Quân đoàn tác chiến tạm thời bảo vệ cửa ngõ phía bắc Sài Gòn (Tây Ninh và phụ cận), một Quân đoàn tác chiếm tạm thời tăng cường bảo vệ hai tỉnh phía bắc, hai Sư đoàn thường trực ở Tây Nguyên. Quân đội Sài Gòn cũng bị hút phần lớn lực lượng vào các hoạt động "bình định" và chống "phản bình định".
Mỹ - Nguy đã rơi vào mê hồn trận. Kế nghi binh còn hấp dẫn hơn nhiều. Cả nước Mỹ, cả thế giới nói về Khe Sanh, chỉ nói về Khe Sanh. Lâu đài Ca-pi-tơn, Toà Bạch- ốc chất vấn Bộ trưởng Quốc phồng Mắc Na-ma-ra, chất vấn Tổng chỉ huy quân viễn chinh Oét-mô-len về sự kiện Khe Sanh.
Nhưng, chiến trường Khe Sanh chỉ là màn phụ.
Màn phụ mà diễn biến như một cuộc Đại tấn công. Có tướng Mỹ ví Khe Sanh là Điện Biên Phủ thời Mỹ.