Có công phu ắt có thành tích. Vậy là Ri-sác Ních- xơn đã trớ thành vị Tổng thống thứ 37 của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ. Ông là người chống Cộng cực đoan, mang ý tưởng mạnh mẽ đối với chiến tranh. Ông muốn chiến thắng, muốn hơn những người tiền nhiệm bằng "Học thuyết Ních-xơn". Học thuyết Ních-Xơn là gì? Giôn-xơn khi còn làm chủ Nhà Trắng đã ấp ủ chủ trương "Phi Mỹ hoá chiến tranh", Ních-Xơn cho rằng ý tưởng ấy là mơ hồ nên phát triển thành "Học thuyết Việt Nam hoá chiến tranh" và gọi nó là "Học thuyết Ních-Xơn" cho đậm chất Mỹ hơn, đôi khi ông bổ sung vào học thuyết ấy bằng ý tưởng, bằng lời nói điên rồ: "Lý thuyết kẻ điên rồ". Nhưng mà, xây dựng bất cứ học thuyết nào cũng phải có sẵn tư tưởng và phải có phương pháp nhất quán, mục tiêu rõ ràng. Tư tưởng kiên định thì học thuyết mới hoàn bị, phương pháp hợp lý thì khi triển khai mới không rối ren. Mục tiêu đúng đắn thì hành sự mới bền chắc. Nhưng học thuyết Ních-xơn được trang bị thêm "Thuyết kẻ điên rồ" lại trở thành thứ luật rừng: Dùng bom đạn để ép người ta phải phục tùng mình, dùng mưu mô xảo quyệt và đô la để loại trừ người không ủng hộ mình, dùng lời nói đường mật để lừa dối đồng bào mình. Đấy không phải thứ học thuyết chính thống mà là mẹo lừa vặt cỡ quốc gia.
Bài diễn văn đọc trong buổi tuyên thệ nhậm chức Tổng thống thứ 37 Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ, Ri-sác Ních-xơn đã thể hiện tính thiếu trung thực của chính quyền mới:
- Tôi trân trọng hứa với đồng bào là sớm đưa con em các vị về với các vị. Cuộc chiến tranh bên kia bờ Thái Bình Dương vẫn tiếp diễn. Mỹ bị mắc kẹt trong cuộc chiến tranh ấy, nền an ninh Mỹ bị đe doạ. Tuy vậy, tôi đảm bảo Quân viễn chinh Mỹ rút lui trong danh dự. Tôi cam kết Ban lãnh đạo mới sẽ chiến thắng chiến tranh và chiến thắng hoà bình ở Thái Bình Dương. Để duy trì thế cân bằng, không để đồng minh lâu đời của chúng ta rơi vào tình huống hẫng hụt khi quân đội của chúng ta rút đi, tôi sẽ gia tăng tương ứng sức mạnh của lực lượng võ trang Việt Nam Cộng hoà. Chúng ta sẽ giữ vững cam kết, đó là phương diện quốc gia nhạy cảm nhất, dễ bị thương tổn nhất. Tôi biết những tiếng la ó phản đối Ban lãnh đạo Mỹ, nhưng đa số đồng bào ta bình tĩnh, đó là sự ủng hộ thầm lặng đối với Tổng thống của các vị.
Sau buổi lễ tưng bừng, tràn ngập rượu quý, rực rỡ hoa tươi, rộn ràng tiếng nhạc cụ rung. Ních-Xơn mang trong mình tâm trạng lâng lâng phấn khích, ông không hề bị ám ảnh bời ý tưởng chiến bại mà chắc tin rằng Mỹ sẽ chiến thắng, nhưng chiến thắng bằng cách nào mới được coi là người chiến thắng thì chưa cầm chắc. Tuy vậy, tâm trạng ông rất phấn chấn, ông cùng gia đình và các phụ tá thân cận xem phim Pat-tông tại phòng chiếu bóng trong Toà Nhà Trắng. Chuyện phim kể lại chiến tích của Pát- tôna - một viên tướng phát xít Đức có tài, biết mị dân - đã bất chấp các quy định, hành động kiên quyết và tàn bạo nên giành được thắng lợi trong trận phản công lớn ở Bun- giơ trong Đại chiến Thế giới thứ hai.
Ních-xơn có hứng thú với nội dung, ý nghĩa của bộ phim; hôm sau, ông xếp mọi công việc cần thiết ra bên, cùng mấy phụ tá đến Phòng chiếu phim, yêu cầu chiếu lại phim Pat-tông lần nữa.
Xem xong, Ních-Xơn trầm ngâm nhìn Uy-liêm Râu- giơ - Bộ trưởng Ngoại giao, thổ lộ cá tính hiếu thắng của mình, cũng có thể là "thương vay" cho kẻ "bạc phận":
- Nếu Hít-le có nhiều Pát-tông thì thế giới văn minh của chúng ta sẽ ra sao nhỉ?
Uy-liêm Râu-giơ tiếp dầu vào động cơ:
- Một tướng tài có thể xoay chuyển cục diện.
Bảy ngày sau, Ních-Xơn gặp Cố vấn an ninh Kit- sinh-giơ - Bộ trưởng Quốc phòng Men-vin Le, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân EGHin-lơ, Chủ tịch Ban Tham mưu Liên quân Oét-mô-len, Bộ trường Ngoại giao Uy-liêm Râu-giơ, Giám đốc Cục Tình báo trung ương Tê-ô-đô Hem-xơ và mấy nhân vật am hiểu tình hình Việt Nam. Ních-Xơn mở đầu:
- Chúng ta thảo luận tìm khả năng thực hiện một chương trình hành động quân sự buộc Bắc Việt không thê duy trì lập trường cứng rắn.
Bộ trưởng Quốc phòng Men-vin Le hiến kế:
- Tiến hành một cuộc tấn công dốc sức, dùng máy bay dội bom và tàu chiến từ ngoài khơi bắn phá tập trung, liên tục khiến Bắc Việt kiệt quệ.
Bộ trưởng Ngoại giao Uy-liêm Râu-giơ không tán thành:
- Một cuộc tấn công như vậy sẽ làm tổn hại uy tín Tổng thống vì đề tài tranh cử có hứa là sẽ đưa binh lính Mỹ về nước, bài diễn văn nhậm chức cũng có nội dung ấy, nhất là hành động như thế đi ngược với cam kết ngừng ném bom của chính quyền tiền nhiệm, gây hoài nghi cho các nước đồng minh, mất sự ủng hộ của Quốc hội và nhân dân.
Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân ủng hộ quan điểm của Bộ trưởng Quốc phòng, không vội vàng có hành động chiến tranh:
- Dù sao thì lực lượng Mỹ vẫn phải tiếp tục bảo vệ Việt Nam Cộng hoà chống sự lấn lướt của Bắc Việt. Việc rút quàn Mỹ vể nước phải thực hiện... chí ít là chậm hơn thời gian hoàn thành chương trình tăng cường khả năng tự bảo vệ cho Chính phủ của ông Thiệu.
Chủ tịch Ban Tham mưu Liên quân Oét-mô-len phỏng đoán xu thế:
- Nếu cuộc tấn công bằng Không quân và Hải quân thất bại mà chúng ta không chấp nhận thất bại thì tất nhiên cuộc chiến tranh sẽ leo thang dữ dội hơn; khốc liệt tới mức nào không thể lường trước, nhưng có thể biết trước chúng ta sẽ mất mọi sự ủng hộ.
Tê-ô-đô Hem-xơ Giám đốc CIA đề xuất khả năng mới:
- Nếu vậy nên hợp pháp hoá cuộc chiến tranh chống Bắc Việt bằng cách trình bày chiến lược của Tổng thống lên Quốc hội.
Cố vấn an ninh quốc gia Kit-sinh-giơ hỏi:
- Tôi hiểu rằng, theo ý kiến ngài thì Tổng thống nên làm theo trình tự tuân thủ Hiến pháp, đề nghị Quốc hội tuyên bố tình trạng chiến tranh, hoặc ra một nghị quyết tương tự?...
Tê-ô-đô Hem-xơ đáp:
- Đúng vậy!
Kít-sinh-giơ phản bác:
- Chính quyền Giôn-xơn thực hiện cuộc chiến tranh lén lút bất lợi nên buộc phải tạo ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ, dẫn tới cuộc Chiến tranh đặc biệt, nhưng vẫn không phải là cuộc chiến tranh theo thông lệ, do đó hạn chế sử dụng sức mạnh Mỹ. Muốn Quốc hội tuyên chiến với Bắc Việt phải có cớ vững chắc, đủ mạnh... Dù vậy, tôi tin chắc các ông Phum Bờ-rai, Oai-nơ Moóc-xơ không để Quốc hội bị lỡm lần thứ hai.
Tổng thống Ri-sác Ních-Xơn nhìn Cờ-lác Cờ-líp-phớt với vẻ khuyến khích.
Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Cờ-lác Cờ-líp-phớt lên tiếng:
- Sáng kiến của tôi không mới, vì trước đây tôi đã đề xuất với ngài Giôn-xơn nhưng không được dùng. Chủ trương của tôi là: loại trừ sự ủng hộ của Lào, Căm-pu- chia với Việt Nam, phong toả cửa biển Hải Phòng và tấn công Bắc Việt bằng bộ binh.
Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân EG Hin-lơ đánh giá:
- Ngoại trừ sáng kiến thứ ba là khó áp dụng vào thực tế.
Tổng thống Ri-sác Ních-Xơn nghiêng về ý tưởng của Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân:
- Tôi đồng ý với Hin-lơ. Hai sáng kiến đầu đáng lẽ ngài Giôn-xơn nên dùng mà không dám dùng, vì sợ dư luận. Có gì phải sợ? Tôi không sợ, tôi dám làm cái việc người khác không dám làm. Người ta có thể nghĩ rằng, đó là "thuyết chiến tranh của thằng điên". Tỏi không quan tâm tới việc người ta dám cho tỏi là một thằng điên. Nếu là như vậy thì càng tốt. Người Nga và người Trung Quốc cần hiểu cho đúng rằng, họ đang đối đầu với một thằng điên, một con rắn hổ mang. Các ngài hãy thảo luận biện pháp, hãy đề ra phương sách đưa cuộc chiến tranh này đến toàn thắng.
Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Uy- lơ nắm vững tình hình chiến sự ở Đông Dương bèn lên tiếng:
- Nói về nước Lào: Nếu để cho vùng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng nối liền với Bắc Lào sẽ là hậu phương lý tưởng của cộng sản và tạo sức ép quá mạnh vào Viên Chăn; chúng ta phải làm chú vùng Trung Lào ấy. về phần nước Cam-pu-chia: Không thể cho phép tồn tại một nước trung lập nghiêng về cộng sản. Giải toả mối lo bên cạnh đó còn đạt được lợi ích to lớn khác là cất nguồn viện trợ của các nước Cộng sản cho Việt cộng qua cảng Xi-ha-núc-vin. Khi đã thực hiện xong các khâu chuẩn bị ấy, pháo đài bay sẽ tự do rải thảm suốt dải biên giới ba nước Đông Dương, bộ binh sẽ có thể truy kích đối phương vào sâu nội địa nước Lào, Căm-pu-chia mà không e ngại bị phản đối.
Kít-xinh-giơ ủng hộ ý đồ "dọn quang trớ ngại":
- Tôi đề nghị Tổng thống phái đại tá A-lếch-xăng-đơ Hây-gơ phối hợp với ngài Tê-ô-đô Hen-xơ đi công cán Căm-pu-chia. Hãy tìm đồng minh của chúng ta ở Căm- pu-chia!
Ních-xơn nhìn Hin-lơ chỉ thị:
- Ông Chủ tịch lên kế hoạch ném bom biên giới Miên - Việt, chiếm đóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng và lập phương án rải thuỷ lôi phong toả cảng Hải Phòng - Ních-xơn nhìn Kít-xinh-giơ nói tiếp:
- Tôi đồng ý với ngài về giải pháp Căm-pu-chia. Các cố gắng chiến tranh của chúng ta phải chuẩn bị bí mật, khẩn trương nhưng không hấp tấp. Tôi không muốn ý tưởng chiến tranh của chúng ta sớm bị phát giác và bị coi như là sự cố ý vi phạm.
Kít-xinh-giơ nhân cơ hội, nói luôn:
- Hà Nội đứng vững và ngày một mạnh mẽ là nhờ có sự viện trợ của Liên Xô. Cần có hành động khiến Liên Xô thay đổi lập trường.
Ních-xơn không muốn để nhiều người biết để tài nhạy cảm này, nên gạt đi:
- Chúng ta sẽ thảo luận lại vấn đề ấy.
Sau buổi họp vài hôm, Kít-xinh-giơ gặp Uy-lơ.
- Ông lập kế hoạch quân sự tấn công Bắc Việt, một khi họ nhất quyết không đáp ứng yêu cầu của chúng ta thì họ sẽ phải nhận quả đấm chí tử.
Ních-xơn họp cùng Kít-xinh-giơ, Hây-giơ - phụ tá quân sự của Kít-xinh-giơ và Han-đơ-man - Chánh văn phòng kiêm phát ngôn Nhà Trắng bàn cách thực hiện gợi ý của Kít-xinh-giơ.
Han-đơ-man nói:
- Khi ngài Giôn-xơn tham khảo ý kiến ngài Ai-xen- hao: làm thế nào để nhanh chóng chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Ngài Ai-xen-hao nhắc đến động tác dền dứ của ngài Tru-man thời chiến tranh Triều Tiên, ấy là hãy bắn tin cho Hà Nội biết về khả năng sử dụng bom hạt nhân.
Kít-xinh-giơ phát triển sáng kiến của Han-đơ-man:
- Oét-mô-len từng đề nghị dùng bom nguyên tử để giải vây cho Khe Sanh. Tổng thống Giôn-xơn, Hội đồng An ninh Quốc gia và Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân đã cân nhắc, đi đến kết luận: Cuộc chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến tranh không tuyên bố, một cuộc chiến tranh không phân rõ trận địa, vì thế không có cơ sở pháp lý và tình thế thực tiễn cho phép sử dụng loại vũ khí ấy. Chính quyền không thể qua mật Quốc hội và Dân chúng. Nhưng... - Ông ngắt giọng để chuyển sang ý chính - chúng ta vẫn có cách. Mát-xcơ-va là chỗ dựa số một của Hà Nội, chỗ dựa lung lay ắt Hà Nội nao núng.
Cặp mắt quàu quạu của Ních-Xơn sáng lên. Ông gật đầu với vẻ tán thưởng. Ý kiến của Kít-xinh-giơ đã khêu gợi ông nhớ lại viên tướng Đức. Bốn khối óc tinh quái nhất nước Mỹ nghiêm túc thảo luận từng bước triển khai thứ kế hoạch không mấy đường hoàng "rung cây doạ khỉ".
Hôm sau, sau khi hạ lệnh cho Bộ tư lệnh Không quân chiến lược bí mật mở chiến dịch "Bữa điểm tâm" giội bom xuống dọc biên giới Căm-pu-chia, ngang nhiên xâm phạm một quốc gia có chủ quyền. Tổng thống Mỹ Ních- xơn gặp riêng Đại sứ Liên Xô tại Mỹ - Đô-bri-nin, ngoài câu chuyện ngoại giao, ông làm như vô tình thốt lên một câu tự chỉ trích mình:
- Tính kiên nhẫn của người Mỹ rất kém!
Đô-bri-nin cười đáp có hàm ý.
- Như vậy sẽ không có lợi cho sức khoẻ.
Nhằm tăng trọng lượng cho câu nói mang tính tự hào dân tộc rằng, phẩm chất cơ bản của người Mỹ là tính thực dụng, đã nói là làm. Ngày 17 tháng 3 năm 1969, Tổng thống Mỹ Ních-xơn hạ lệnh cho Bộ tư lệnh Không quân chiến lược tiếp tục thực hiện chiến dịch "Bữa điểm tâm" (Menu) giội bom xuống dọc biên giới Căm-pu-chia. Thấy đối phương không có chuyển biến gì, ngày 6 tháng 10 năm 1969, Ních-Xơn hạ lệnh báo động toàn diện cho tất cả quân đội Mỹ đóng trên thế giới, trừ ở Việt Nam. Các Bộ chi huy quân đội Mỹ đều ở tình trạng báo động đỏ - từ Bộ tư lệnh Không quân chiến lược, Bộ tư lệnh châu Âu, Bộ tư lệnh Thái Bình đến Bộ tư lệnh Bắc Mỹ... đều nhốn nháo, sĩ quan nọ hỏi sĩ quan kia: "Đại chiến thế giới lần thứ ba hả? "... Tám giờ sáng ngày thứ hai, 13 tháng 10 năm 1969, Bộ tư lệnh Không quàn chiến lược đột ngột ra lệnh huỷ các chuyến bay huấn luyện chiến thuật và đặt tình trạng báo động cấp cao nhất cho tất cả các máy bay ném bom hạt nhân. Toàn bộ tàu khu trục Mỹ tại Trung Đông được điều đến vịnh A-đen, tàu chiến hạng nặng USS Niu-poóc chớ nhóm sĩ quan chuyên đánh tàu ngầm cùng Hàng không mẫu hạm tiến đến Bắc Đại Tây Dương; hai hàng không mẫu hạm Fo-rét-tan và Phờ-ren-klin Ru- dơ-ven rời cảng Viếc-ghi-ni-a và cảng Phờ-lo-ri-da tiến đến Tãy Đại Tây Dương; tàu chiến còn nhận được lệnh giám sát tàu chiến Liên Xô và theo dõi mọi tuyến hàng hải vào ra biển Be-rinh. Tại Bộ tư lệnh Châu Âu, tướng An-dơ-riu Gút-pát-tơ được lệnh cấm trại 24/24 giờ và an ninh doanh trại được cảnh giác tối đa. Không khí các doanh trại Mỹ căng thẳng. Làm như đại chiến thế giới lần thứ ba sắp nổ ra.
Nhưng, chẳng cái gì xảy ra.
Mỹ tốn bao công của cho một động tác giả này, có thể cũng có người quan tâm, nhưng chẳng ai mắc lỡm cái trò "rung cây doạ khỉ" tầm thường ấy.
Một vở kịch đấu trí nữa mà Oa-sinh-tơn gọi là "chính sách ngoại giao hình trụ tam giác", gồm ba trục Hà Nội - Mát-xcơ-va - Bắc Kinh, mà đinh là Oa-sinh-tơn, nhằm ly gián, phân hoá đối phương, gây chia rẽ nội bộ khối Cộng sản và che chắn các hành động bạo lực mới đối với các nước Đông Dương.
*
Hai gia đình giận nhau muốn gây lại mối thân thiện đã khó, hai quốc gia thù địch muốn có mối quan hệ giao hảo càng khó. Khó về quốc thể, khó về phương tiện gửi tín hiệu. Vì nhu cầu giảm thiểu khó khăn trong cuộc chiến ở Việt Nam, Chính phủ Mỹ phóng tín hiệu cầu thân trước. Tháng 7 năm 1969, Tổng thống Ních-Xơn sang thăm nước Cộng hoà Hồi giáo Pa-ki-xtan đã xa xôi bộc lộ với Tổng thống Y Khan rằng Mỹ đã từ bỏ lập trường thù địch với nước Trung Quốc Cộng sản. Trong bản báo cáo về đường lối đối ngoại đọc tại Quốc hội Mỹ, Tổng thống Ních-xơn lại khéo léo bộc lộ "tâm trạng hào phóng" của Mỹ:
- Những người Trung Quốc là một dân tộc rất vĩ đại và quan trọng. Không thể để họ tồn tại tách biệt với cộng đồng quốc tế. Những nguyên lý làm cơ sở cho mối quan hệ của chúng ta với nước Trung Hoa Cộng sản giống như những nguyên lý chỉ đạo đường lối của chúng ta đối với Liên Xô. Đường lối của Hoa Kỳ không phải là muốn tác động nhanh chóng đến thái độ của Trung Quốc, nhưng chắc chắn lợi ích trong mối quan tâm chung là cần tiến hành những bước nhằm cải thiện mối quan hệ thực tiễn với Bắc Kinh.
Quả nhiên, hữu xạ tự nhiên hương. Hai ngày sau, tại Vác-sa-va - Thủ đô nước Cộng hoà nhân dân Ba Lan, Đại sứ Trung Quốc chủ động gập Đại sứ Mỹ đề nghị chuyển những cuộc gặp gỡ rời rạc, ít kết quả, do trở ngại về địa lý sang Bắc Kinh. Đại sứ Trung Quốc, bằng cách nói ngoại giao rằng Trung Quốc sẽ hoan nghênh Đoàn đại biểu Chính phủ Mỹ do một nhân vật cao cấp đứng đầu đến Bắc Kinh.
Hoa Kỳ có sự đáp ứng thích đáng thiện chí của Trung Quốc. Tháng 3 năm 1970, Bộ Ngoại giao Mỹ tuyên bố nới lỏng hầu hết các hạn chế chính thức về các cuộc du lịch của công dân Mỹ tới Trung Quốc Cộng sản; sang tháng 4, Mỹ lại biểu lộ thêm thiện chí mới: nới lỏng việc buôn bán với Trung Quốc.
Ngày chuyển các cuộc hội đàm Trung - Mỹ từ Vác- sa-va sang Bắc Kinh bị thất bại, Trung Quốc huỷ bỏ cuộc gặp gỡ để phản đối những việc Mỹ làm ở Căm-pu-chia; bọn Lon-Non được sự khuyến khích, giúp đỡ của Mỹ đã tổ chức đảo chính ở nghị trường, lật đổ chính phủ do Quốc vương Xi-ha-núc đứng đầu. Nhưng có lẽ đó là miếng võ hư trương vì vài tháng sau, Trung Quốc có tín hiệu sẵn sàng nối lại "các cuộc khiêu vũ nhẹ về ngoại giao" - họ thả Gièm Ét-uốt Oa-lát, vị Giám mục Thiên Chúa giáo đã nằm bóc lịch trong nhà tù Trung Quốc 12 năm.
Mỹ cũng khởi động để đáp ứng, trong cuộc phỏng vấn của tạp chí Thai-mơ, Tổng thống Ních-Xơn tuyên bố với lời lẽ cực kỳ thuyết phục:
- Nếu như có việc gì tôi muốn làm trước khi tôi chết thì việc đó là được đến Trung Quốc.
Nhưng, như cặp tình nhân vừa giận nhau còn thẹn thò nói câu âu yếm, e rằng đường tình cảm chưa hẳn khai thông, cả hai phía đều dập dinh đón cơ hội ngỏ lời thân thiết. Như có bàn tay chúa sắp đặt, đúng dịp ấy Tổng thống nước Cộng hoà Hồi giáo Pa-ki-xtan Y Khan sang thăm Mỹ. Ních-xơn không bỏ qua dịp tốt kiến thiết con đường ngoại giao thông qua cầu nối Y Khan. Hôm sau, Xê-au-sét-cu Chủ tịch nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Ru-ma-ni, một Nước cộng sản đến thăm Tổng thống Mỹ với tư cách khách của Nhà nước. Đây mới là cơ hội thích hợp giúp Tổng thống Mỹ thực hiện ý định tiếp cận. Hai cây cầu cùng dẫn đến một ngôi đền, thênh thang đến bất ngờ.
- Chúng tôi muốn thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Tôi hy vọng được ngài Chủ tịch tác động.
Chú tịch Xê-au-sét-cu đồng ý chuyển những lời nói trên tới Bắc Kinh.
Sự trí trá ngoại giao được thể hiện trong bức giác thư của Tổng thống Mỹ Ních-Xơn gửi cho Cố vấn an ninh quốc gia Kít-xinh-giơ:
"Trên cơ sở rất đáng tin tướng, tôi muốn ông hãy chuẩn bị - không được tiết lộ với bất kỳ người nào có thể tiết lộ - Cuộc nghiên cứu về những gì ta cần phải làm có liên quan đến việc nhận Trung Hoa Cộng sản vào Liên Hiệp Quốc. Câu hỏi mà tôi cần phải được trả lời là: làm thế nào để chúng ta giữ vững những cam kết của Hoa Kỳ với Đài Loan và không bị những người muốn nhận Trung Hoa Cộng sản vào Liên Hiệp Quốc đả kích".
Ngày 9 tháng 12 năm 1970, Thủ tướng nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa - Chu Ân Lai gửi lời qua Tổng thống Y Khan rằng, đại diện của Tổng thống Ních-Xơn sẽ được hoan nghênh ở Bắc Kinh.
Ngày 18 tháng 12 năm 1970, lại thêm tín hiệu tốt lành. Nhà văn Mỹ Ét-ga Xnao, người bạn cũ từng sống với Chủ tịch Mao Trạch Đông ở căn cứ Diên An đã phỏng vấn người đứng đầu Nhà nước Trung Hoa:
- Một người cánh hữu như Ních-Xơn, đại diện của những "tập đoàn tư bản lũng đoạn" có thể được phép tới nước Trung Hoa Cộng sản không?
Chủ tịch Mao Trạch Đông vui vẻ trả lời:
- Ông Ních-xơn sẽ được hoan nghênh ở Thiên An Môn. Vì ông là Tổng thống thì tôi là người ông cần phải gặp gỡ bàn bạc để giải quyết vấn đề có quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ. Tôi sẽ rất sung sướng nói chuyện với ông Ních-xơn, dù ông ấy đến với tư cách là khách du lịch hoặc với cương vị Tổng thống.
Lại thêm một tín hiệu ngoại giao tích cực bất ngờ nữa xảy ra: Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Tô-ki-ô gửi điện về Oa-sinh-tơn cho biết: Đoàn bóng bàn Mỹ đang thi đấu ở Nhật đã được mời tới thăm và thi đấu biểu diễn ở Trung Quốc. Có lẽ, Trung Quốc không muốn làm phật ý những đồng chí cùng chiến hào nên kiến thiết "con đường ngoại giao bóng bàn". Cũng có lẽ Trung Quốc có mối quan tâm cần thảo luận với Mỹ càng sớm càng tốt.
Trung Quốc tránh không muốn chạm vào sợi dây thần kinh nhạy cảm, Mỹ cũng xử sự tế nhị không kém.
Trung Quốc muốn có các cuộc thảo luận tay đôi với Mỹ, muốn đón tiếp ở Bắc Kinh một phái viên đặc biệt của Tổng thống Mỹ, hoặc Cố vấn an ninh, hoặc Bộ trưởng Ngoại giao, hoặc chính Tổng thống Mỹ.
Tổng thống Ních-Xơn gặp Cố vấn an ninh quốc gia Kít-xinh-giơ bàn việc chọn người đi Bắc Kinh.
Ních-xơn nói:
- Tốt nhất là cử Đê-vít Bơ-rút-xơ!
Kít-xinh-giơ nhún vai không thoải mái:
- Đê-vít Bơ-rút-xơ đang tham gia phái đoàn Mỹ ở Pari. Người Trung Quốc sẽ khó chịu khi tiếp xúc với nhân vật có quan hệ gần với vấn đề Việt Nam.
Ních-xơn cho là phải, lại hỏi:
- Râu-giơ thì sao?
Kít-xinh-giơ vẫn có động tác nhún vai không thoải mái:
- Nếu cử Bộ trưởng Ngoại giao làm nhân vật tiếp xúc hẳn Bắc Kinh phát hiện ra chúng ta rất cần kiến thiết mối quan hệ Mỹ - Trung.
Tổng thống Ních-xơn hiểu rằng Cố vấn an ninh quốc gia nói đúng chính sách ngoại giao của Mỹ. Tiến tới cuộc hội đàm đầu tiên, mà phải cử cấp Bộ trưởng Ngoại giao là quá cao, trịnh trọng một cách không cần thiết, rất dễ lộ hàm ý sâu sắc của cuộc vận động bang giao này.
- Hen-ri! Ông là người thích hợp thực hiện công việc đó.
Kít-xinh-giơ ngần ngừ khó quyết:
- Cũng có điều bất tiện. Khá nhiều người biết tôi.
Ních-xơn cười, vừa là nói vui vừa là quyết định dứt khoát:
- Một người có thể đến và đi khỏi Pa-ri mà không bị phát hiện, thì cũng có thể đến và rời Bắc Kinh trước khi có người biết.
Tiếp đó là cuộc gặp giữa Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Kít-xinh-giơ với Thủ tướng Quốc vụ Viện Trung Quốc Chu Ân Lai, với Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc- Kiều Quán Hoa, và cuộc hội đàm giữa Tổng thống Hợp chủng quốc Mỹ Ních-Xơn với Chủ tịch nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa Mao Trạch Đông. Có thánh mới biết cuộc Đông - Tây hội ngộ ấy đã đề cập tới nội dung gì liên quan tới Việt Nam. Hãy chờ vài chục năm nữa, khi những tài liệu mật tồn trữ trong Nhà Trắng được công khai theo Hiến pháp Mỹ quy định.
*
Tháng 8 năm 1969, Quốc trưởng Xi-ha-núc cảm thấy nảy sinh nhiều phe phái, phe phái nào cũng ôm tham vọng "tiện tay dắt hươu", chí ít thì cũng là chớp cơ hội "đục nước béo cò". Đó là yếu tố gây rối loạn đất nước. Ông tuyên bố thành lập "Chính phủ cứu nguy", giao chức vụ Thủ tướng cho Lon Non. Vậy là trong tay Lon Non có hai quyền then chốt: Tổng tư lệnh quân đội Hoàng gia kiêm Thủ tướng Chính phủ vương quốc. Lon Non là kẻ tham lam khôn khéo, hắn kết hợp với hoàng thân Xi-rích Ma-tắc thành cập bài trùng gây rối đất nước Chùa Tháp. Tháng 9 năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. Quốc trưởng Xi-ha-núc sang Hà Nội dự tang lễ Người. Đây là một cơ hội cho Xi-rích Ma-tắc - kẻ luôn nuôi tham vọng ngôi vua thực hiện âm mưu thoán đoạt. Hắn đi gặp Lon Non, người mà thời làm Tổng tham mưu trưởng Hoàng gia đã cùng Đáp Chuôm phối hợp với Chính quyền Diệm- Nhu thực hiện một cuộc đảo chính hụt, Lon Non dùng dằng không quyết, ông ta là kẻ muốn ăn nhưng sợ mang tiếng. Người cầm đầu Chính phủ lại là Tổng chỉ huy quân đội chưa có quyết tâm thì gã "mượn gió bẻ măng" chưa dám ra tay.
Mỹ thì không thể chờ đợi. Chương trình Việt Nam hoá cần có sự phối hợp của những nước lân cận.
Mùa đông năm 1969, thời tiết Phnôm Pênh ấm áp, cuộc sống tấp nập thanh bình, sân bay Pô-chen-tông vẫn hớn hở đón du khách Pháp, Nhật, Ôxtrâylia... tới Căm-pu- chia chiêm ngưỡng những ngôi chùa Tháp Ảng Co cổ kính. Nhưng, một số nhân vật trong giới quan chức cao cấp cảm thấy sắp đổi gió, có người lo tự bảo vệ, có người sẵn sàng sống với thời tiết mới.
Thủ tướng Lon Non lâm bệnh, phải bay sang Pháp, tới Noi-ly bên bờ sông Sen điều trị, chỉ đem theo vài gã gia nhân vô danh tiểu tốt đê hầu hạ; Quyền Thủ tướng tạm giao cho Hoàng thân Xi-rích Ma-tắc. Vài ngày sau, Lon Non đang nằm trên giường bệnh thì một ông khách mũi lõ, mắt xanh, tóc bạch kim tới thăm. Hai người nói chuyện khá lâu, rất tâm đắc. Cũng vài ngày sau, một trong những gã gia nhân vô danh tiểu tốt lên máy bay bay về Phnôm Pênh; ngay tối ấy, gã đến gặp quyền Thủ tướng Xi-rích Ma-tắc.
Đầu tháng 1 năm 1970, Quốc trưởng Xi-ha-núc đi dưỡng bệnh thường kỳ tại một bệnh viện ở miền Nam nước Pháp, cùng đi có cả Xăm-đéc Pen Nút - một chính khách danh tiếng ở Căm-pu-chia.
Không có người chủ trì nghiêm khắc, những chuyện lộn xộn nẩy nở.
Ngày 8 tháng 3 năm 1970, những cuộc biểu tình chống Việt Nam nổ ra tại các tỉnh biên giới, đặc biệt là vùng Mỏ Vẹt - nơi mà Bộ chỉ huy quân viễn chinh Mỹ đoán định là căn cứ của Trung ương Cục miền Nam, cũng là nơi từng bị B.52 oanh tạc dữ dội.
Ngày 11 tháng 3 năm 1970, hàng ngàn sinh viên, binh lính, sư sãi kéo theo khách bộ hành tụ tập trước đài Độc Lập rồi diễu hành về phía Sứ quán của Chính phủ Cách mạng miền Nam và Bắc Việt Nam; họ. hò hét, ném gạch đá.
Ngày 12 tháng 3 năm 1970, Quyền Thủ tướng Xi- rích Ma-tắc gửi công hàm cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Miền Nam huỷ bỏ Hiệp ước thương mại - một Hiệp ước đã cho phép Việt Nam được sử dụng cảng Xi-ha-núc- vin và mua quân nhu ở Căm-pu-chia.
Thủ tướng Lon Non vội vã về nước. Ông chính thức xin lỗi về những cuộc biểu tình xâm phạm tới Sứ quán Việt Nam, đồng thời gửi Tối hậu thư yêu cầu Việt Nam phải rút quân khỏi Căm-pu-chia trong bảy mươi hai giờ.
Ngày 16 tháng 3 năm 1970, Sứ quán Bắc Việt và Nam Việt Nam họp tại Phnôm Pênh thảo luận những yêu sách của Căm-pu-chia.
Ngày 17 tháng 3 năm 1970, hai thành viên Nội các trung thành với Quốc trưởng Xi-ha-núc lập mưu bắt Lon Non nhưng không thành.
Cặp bài trùng biết chậm trễ sẽ gặp nguy khốn nên ra tay ngay. Ngày 18 tháng 3 năm 1970, dưới áp lực vô hình của lưỡi lê và áp lực thật bằng đô la và lời hứa hẹn... hai Viện của Quốc hội Căm-pu-chia mở phiên họp bất thường dưới sự điều khiển của Quyền chủ tịch Quốc hội In-tam, bỏ phiếu không tín nhiệm Hoàng thân Xi-ha-núc giữ chức Quốc trưởng.
Quyền hành về tay cặp bài trùng, nhưng dựa vào cái gì mà chúng dám làm chuyện động trời ấy? Mỹ và bọn Khme Cray. Nhưng, muốn ăn cá phải sẵn sàng chài lưới. Lon Non tổng động viên kết hợp với ép buộc được bảy vạn thanh niên ghi tên vào quân đội. Thủ tục tuyển chọn qua loa, việc huấn luyện cũng hời hợt, yếu lĩnh học đến đâu hay đến đấy, trang bị cho tân binh càng thảm hại: đi guốc, dép, quần soóc, quần ghin xanh, quần áo thời Pháp còn lại, quần áo lao động Mỹ ngoại cỡ; một số không được phát súng, một số mang vũ khí Nga, Pháp, Đức, Mỹ, Trung Quốc.
Lon Non phàn nàn với Xi-rích Ma-tắc:
- Không thể đưa những người lính như thế này đương đầu với một địch thủ trang bị hùng hậu, dày dạn kinh nghiệm chiến đấu.
Hoàng thân Xi-rích Ma-tắc có chỗ dựa nên coi thường khó khăn.
- Chúng ta kêu gọi quốc tế nhất là Mỹ viện trợ vũ khí.
Lời kêu cứu buông ra chưa kịp lan khắp năm châu bốn biển, Ních-Xơn và Nguyễn Văn Thiệu đã có kế hoạch đáp ứng. Ních-xơn dặn Oét-mô-len:
- Cung cấp vũ khí cho họ nhưng phải dè dặt để khỏi lộ chứng cớ cho Quốc hội và bọn nhà báo biết.
Oét-mô-len gọi điện thông báo cho A Bơ-ram biết dụng tâm của Tổng thống và nói thêm:
- Vũ khí sẽ được tàu biển chuyển tới Vũng Tàu, từ Vũng Tàu qua đường không tới Phnôm Pênh.
A Bơ-ram thực hiện chỉ lệnh của cấp trên ở mức tốt nhất. Ông ra lệnh:
- Tất cả các súng thu được của đối phương đều phải chuyển đi Phnôm Pênh. Tôi không muốn thấy còn khẩu nào treo trên tường Câu lạc bộ sĩ quan.
Phơ-ran-cô Xơ-nep một chuyên gia CIA phụ trách phân tích chiến lược về Căm-pu-chia có trụ sở làm việc ở Sài Gòn hớn hớ nói với Đơ-riu Sê-uyn cũng là chuyên viên CIA theo dõi Căm-pu-chia:
- Thế là nước Mỹ đang ở trong tình thế có thể vui vẻ xoa tay và khai thác những thuận lợi do sự kiện đa xảy ra bên Phnôm Pênh mang lại.
Nguyễn Văn Thiệu - Tổng thống Việt Nam Cộng hoà gửi điện sang Phnôm Pênh chúc mừng Thủ tướng Lon Non và Hoàng thân Xi-rích Ma-tắc. Ông ta mong muốn một sự hợp tác tốt dọc biên giới hiện nay và hai nước sẽ chung sức đuổi Cộng sản ra ngoài.
Tuy đã có chuẩn bị binh lực, Lon Non vẫn ra lệnh cho các đơn vị của Căm-pu-chia ở biên giới:
- Không được xung đột với các lực lượng của Việt cộng và Bắc Việt Nam. Không được hành động khi đang có cuộc thương thuyết với họ ở Phnôm Pênh.
*
Thời gian cuộc đảo chính xảy ra, Quốc trưởng Xi-ha- núc đang ở Mát-xcơ-va; đúng lúc Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Cô-sư-ghin tiễn ông ra sân bay đi Bắc Kinh thì Tuỳ viên của Sứ quán đến báo tin dữ.
Chủ tịch Cô-Sư-ghin hỏi:
- Ngài định đoạt thế nào?
Quốc trưởng Xi-ha-núc đáp:
- Thưa ngài Chủ tịch! Tôi vẫn giữ vững lộ trình!
Bà hoàng Mô-ních áy náy không yên. Bà khuyên:
- Chúng ta nên tạm thời sang Pháp!
Quốc trưởng Xi-ha-núc không ủng hộ ý tưởng lảng tránh trước nguy nan. Ông khảng khái nói:
- Trong đời tôi, sự kiện loại này không phải là lần đầu tiên. Chúng ta sẽ bị lịch sử lên án nếu chúng ta để cho Căm-pu-chia trở thành chế độ độc tài quân phiệt, thậm chí là một thuộc địa. Tôi đã suốt đời ước mơ và phấn đấu cho nền độc lập của Căm-pu-chia. Tồi đã giành được quyền độc lập dân tộc từ tay người Pháp không phải là để bây giờ từ bỏ nó. Mỹ sẽ bị Việt Nam và Khme Đỏ cùng chúng ta đánh bại. Nhiệm vụ của nền quân chủ là đi với nhân dân.
Quốc trưởng Xi-ha-núc quyết định lên máy bay đi Bắc Kinh.
Trong thời gian đó, một chuyện "bi rồi hài" xảy ra ở Hoàng cung. Khi biết tin về cuộc đảo chính, Mẫu Hoàng Cô-sô-mác ngất xỉu; lúc tỉnh dậy, bà tổ chức buổi lễ thiêng liêng ở Hoàng cung coi điềm báo để quyết định người con trai của bà có nên về nước hay không. Điềm lành dữ nằm ở thanh gươm truyền quốc, lưỡi gươm vốn sáng lấp lánh, nếu quốc gia gặp nạn, lưỡi gươm thiêng ắt đổi màu. Sau nghi lễ, Mẫu Hoàng trịnh trọng rút lưỡi gươm khỏi vỏ. Bà, hoàng thân quốc thích... tất cả thất sắc vì lưỡi gươm xỉn màu đen tang tóc. Mẫu Hoàng muốn báo cho con biết, nhưng Hoàng cung bị quân cận vệ của hoàng thân Xi-rích Ma-tắc giữ. Bà cho gọi Thủ tướng Lon Non đến để hỏi. Lon Non là người không có năng lực chỉ đạo, ít sáng kiến... ông quen nhận lệnh hơn là ra lệnh; ngoài tội làm đảo chính lật đổ cấp trên của mình, ông là người sùng bái thứ bậc tôn ti. Ông đến hoàng cung, quỳ phục dưới chân Mẫu Hoàng Cô-sô-mác cầu xin lượng khoan dung của bà. Mẫu Hoàng nói gì, yêu cầu gì Lon Non cũng chỉ khóc; khi ra khỏi hoàng cung kẻ tham lam đa cảm ấy vẫn chưa thôi sụt sùi. Có lẽ Lon Non muốn dùng nước mắt thay câu trả lời và cũng có lẽ Lon Non cám cảnh cho con người từng ưu ái mình, từng làm chúa một nước nay đành sống âm thầm ở Mông-gi-nô (1) bên bờ Đại Tây Dương xa xôi.
(1) Biệt thự riêng của Quốc trưởng Xì-ha-núc ở Pháp.
Không! Quốc trưởng Xi-ha-núc không phải là người dễ khuất phục, chạy trốn trước khó khăn. Ông đang ở Bắc Kinh chuẩn bị đường về Tổ quốc.
Bắc Kinh đối xử với Quốc trưởng Xi-ha-núc bằng tấm lòng láng giềng thân thiện. Ngày 18 tháng 3 năm 1970, Lon Non và Xi-rích Ma-tắc thực hiện đảo chính, thì trước đó ngày 15 tháng 3 năm 1970 khi biết Xi-ha-núc sẽ tới Bắc Kinh, Bộ Ngoại giao Trung Quốc hỏi Đại sứ Pháp Ê-chiên Ma-nắc:
- Liệu máy bay của Hãng hàng không Pháp có thể chở Quốc trưởng Xi-ha-núc đi Phnỏm Pênh được không?
Đại sứ Ê-chiên Ma-nắc rõ chuyện trước đó Bắc Kinh đã từ chối không cho máy bay của Hãng hàng không Pháp hạ cánh với lý do đường băng không bảo đảm. Ông biết Bắc Kinh muốn thể hiện tình cảm trân trọng đặc biệt với Quốc trưởng Xi-ha-núc nên vui vẻ đáp:
- Có thể được! Nhưng nghe nói đường băng bị hỏng?
Đại diện Bộ Ngoại giao Trung Quốc trả lời:
- Đã sửa chữa xong!
Kế hoạch thân thiện này bị bãi bỏ vì cuộc đảo chính đã xảy ra ở Căm-pu-chia.
Ngày 19 tháng 3 năm 1970, Quốc trưởng Xi-ha-núc tới Bắc Kinh. Thủ tướng Quốc vụ Viện Trung Quốc - Chu Ân Lai đón tiếp Hoàng thân với các nghi thức dành cho các Nguyên thủ quốc gia, nhưng không hứa hẹn gì.
Những ngày ở Bắc Kinh, tâm trạng Quốc trưởng Xi- ha-núc xao động, ông có ý rút khỏi chính trường; ông mời Đại sứ Pháp Ê-chiên Ma-nắc đến, hỏi:
- Tôi có thể trở về nhà của mình tại Mông-gi-nô ở miền Nam nước Pháp không?
Ê-chiên Ma-nắc là nhà ngoại giao thông minh, quen Hoàng thân từ lâu, có tình cảm trân trọng và thân mật với người bạn "Quốc vương", ông đáp:
- Nước Pháp vui lòng dành cho Hoàng thân quyền cư trú.
Bà hoàng Mô-ních ủng hộ quyết định của chồng.
Nhưng, cuộc đời đôi khi như ván bài đô-mi-nô, sự kiện này đẩy tình huống kia, không có lực tác động ngược thì không ngừng được. Trong lúc dần dần ổn định tâm trạng "rút lui" Hoàng thân nhận được những tin tức đáng giận từ bên nước nhà chuyển sang. Chế độ mới ở Phnôm Pênh mở chiến dịch công kích dữ dội Xi-hạ-núc và gia đình Hoàng thân - từ chính sách quốc gia đến lôi sống hoàng tộc; chân dung Hoàng thân dán trên các cửa kính nhà hàng, tường cơ quan công sở đều bị bóc đi, nhũn? đường phố do Hoàng thân đặt tên đều đổi tên khác.
Kẻ tiếm quyền ở Phnôm Pênh muốn hạ bệ thần tượng Quốc trưởng Xi-ha-núc, nhưng đó là hành động châm lửa vào thùng thuốc súng.
Hoàng thân tức giận, muốn trừng trị, muốn uốn nắn bọn tặc thần.
Ngày 21 tháng 3 năm 1970, Thủ tướng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Phạm Văn Đồng đáp máy bay bí mật sang Bắc Kinh gặp Thủ tướng Chu Ân Lai và Hoàng thân Xi-ha-núc. Sau khi hội đàm thêm với Chu Ân Lai, Hoàng thân đồng ý ở lại Bắc Kinh và chấp nhận sự lãnh đạo của những người Cộng sản Căm-pu-chia - Khme Đỏ.
Hoàng thân tâm sự với Bà hoàng Mô-ních và các người thân cận:
- Tôi đã chọn con đường không theo Người Mỹ hoặc Người Cộng sản, bởi vì tôi cho rằng đó là hai mối nguy cơ: Chủ nghĩa đế quốc Mỹ và Chủ nghĩa cộng sản Châu Á. Chính Lon Non đã buộc tôi phải lựa chọn một trong hai con đường đó.
Ngày 23 tháng 3 năm 1970, Hoàng thân ra lời kêu gọi nhân dân Căm-pu-chia cầm vũ khí chống bọn quân phiệt độc tài. Tiếp đó, ông thành lập Mặt trận đoàn kết Quốc gia Căm-pu-chia (FUNK), kêu gọi tất cả những người có tâm huyết tham gia chiến tranh du kích, sát cánh cùng lực lượng Khơ-me Đỏ - do Pôn Pốt lãnh đạo chống kẻ thù chung, giải phóng Tổ quốc.
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam, Chính phủ liên hiệp ba phái Lào lên tiếng công nhận tính hợp pháp và hứa ủng hộ FUNK. Tại Hà Nội, một bản tuyên bố ủng hộ FUNK được phát hành rộng rãi. Tại Phnôm Pênh, Việt cộng huỷ bỏ cuộc họp với các quan chức của Lon Non - được tổ chức để tìm cách dàn xếp việc tiếp tế quân nhu cho Quân giải phóng sao cho thích nghi với chính sách của chính phủ mới.
Ngày 5 tháng 5 năm 1970, Hoàng thân Xi-ha-núc tuyên bố thành lập Chính phủ vương quốc đoàn kết quốc gia Căm-pu-chia. Bắc Kinh, Hà Nội... lên tiếng công nhận.
Lời kêu gọi của Hoàng thân ít gây tác động ở Phnôm Pênh, nhưng ở nhiều vùng nông thôn lại khác. Họ coi việc lật đổ Quốc trưởng là một hành động phạm thượng. Đông đảo nông dân, ngư dân và chủ trại các vùng chung quanh thủ đô ùn ùn đổ ra đường hò hét chống kẻ tiếm quyền, ủng hộ Hoàng thân; ở thành phố Kông-pông Chàm lòng câm phẫn lũ phản trắc càng mãnh liệt, họ bắt em trai Lon Non, moi gan hắn nấu chín rồi chia nhau ăn.
Lon Non trả thù bằng cách dùng súng đạn đàn áp những cuộc biểu tình, chỉ riêng ở Kông-pông Chàm chúng đã bắn chết gần một trăm người và trên hai trăm người bị thương. Bè lũ Lon Non còn khủng bố tinh thần dân chúng bằng cách mở chiến dịch tàn sát người Miên gốc Việt và Việt kiều. Chúng bắn chết người Việt ở làng Puốc-sát trong vùng Mỏ Vẹt. Chúng bắt tám trăm người Việt ở Chrui Chang-oa trói quặt tay, đẩy xuống thuyền, bắn chết cả rồi hất xuống sông. Chúng tàn sát học sinh người Việt ở thị xã Tà Keo. Thấy người Việt là chúng bắn, ngứa mắt là chúng bắn, cãi lại là chúng bắn. Bắn, bắn và bắn người Việt. Rất nhiều người Việt bị thương nằm trên vũng máu, thở hổn hển và quằn quại dưới trời nắng chói chang. Bọn lính dưới quyền bọn sát nhân Lon Non ngồi canh, chúng cấm cứu chữa người bị nạn.
Việt Nam và nhiều nước tố cáo, phản đối hành động tàn bạo của bọn cầm quyền mới ở Phnôm Pênh đối với dân thường. Nhà Trắng cũng không thể im miệng. Lon Non bị búa rìu dư luận đả tới tấp phải lấp liếm rằng, sự tàn sát người Miên gốc Việt hay Việt kiều không phải là mục đích "cuộc cách mạng" do hắn lãnh đạo.