Tháng 10 năm 1973, Hội nghị toàn thể Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 21 ra nghị quyết:
"... Con đường cách mạng của miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công...".
Để thực hiện tư tưởng chiến lược trên, các quân đoàn chủ lực cơ động được thành lập: Quân đoàn 1, đóng quân ở các tỉnh phía Bắc; Quân đoàn 2 trụ ở khu vực Trị-Thiên; Quân đoàn 4 chốt trên vùng rừng núi Đông Nam bộ.
Sự ra đời của Quân đoàn và Binh đoàn tương đương quân đoàn đứng chân trên các chiến trường quan trọng đã tạo nên sự chuyển biến lớn về so sánh lực lượng, nhất là về khả năng tác chiến. Mạng đường Hồ Chí Minh, ở cả hai tuyến Đông và Tây Trường Sơn nối liền tới Lộc Ninh; Đường ống dẫn dầu đã chảy thông qua Tây Nguyên xuống Khu 5 và vào Đông Nam Bộ.
Quảng Trị, Thừa Thiên, Huế, Bình Định, Phú Yên, Tây Ninh, đồng bằng sông Cửu Long... rộ lên tiếng súng chống lấn chiếm, chống bình định. Lực lượng Quân giải phóng cỡ tiểu đoàn, trung đoàn cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích, các đội công tác và nhân dân diệt ác, phá kìm giành lại các vùng bị địch lấn chiếm và giải phóng thêm nhiều vùng đỏng dân cư, giàu sản vật như Nha Binh, Tống Lê Chân ở Đông Nam Bộ; Tánh Linh ở Khu 6; Đắc Pét, Ta-xúp, Mãng Đen, Măng Bút ở Tây Nguyên; Nông Sơn, Gia Vụt ở Khu 5.
Quân Sài Gòn từng bước co về giữ các đô thị, các đường giao thông và các vùng có ý nghĩa chiến lược. Chế độ Sài Gòn sống dựa vào chương trình viện trợ của Mỹ. Nhưng Quốc hội Mỹ quyết định cắt giảm viện trợ cho Việt Nam Cộng hoà. Nguyễn Văn Thiệu thổ lộ tâm sự với Hoàng Đức Nhã:
- Mỹ cắt giảm bốn mươi phần trăm viện trợ thì chúng ta tổ chức giữ sáu mươi phần trăm đất đai.
Hoàng Đức Nhã nghĩ bụng: Tổng thống nói vậy chẳng hoá ra ông đang chỉ huy một đạo quân đánh thuê. Không, chảng lẽ cũng có thể ông toan tính gây sức ép với Oa-sinh-tơn bằng một quyết định sinh tử. Nghĩ lan man nhưng lại đáp:
- Mấy ông nghị nhiễu sự Mỹ đã gây ra cho ta quá nhiều khó khăn.
Tháng 6 năm 1974, Nguyễn Văn Thiệu hậm hực đề ra chủ trương:
- Đánh giặc theo kiểu con nhà nghèo.
Chủ trương "tràn ngập lãnh thổ" của Nguyễn Văn Thiệu bị phá sản hoàn toàn.
Quốc hội Mỹ còn cắt bỏ viện trợ bổ sung, chính quyền Thiệu còn khốn đốn. Mỹ cắt hẳn viện trợ thì Thiệu đi đời nhà Thiệu.
Nhưng, Thiệu bị Lâu đài Ca-pi-tôn ruồng bỏ, thì lại được Tòa Bạch Ốc chăm bẵm, cơ hội vẫn còn nhiều.
*
Tham lam lắm, oan trái nhiều. Năm 1969, thời kỳ cuộc chiến tranh ở Việt Nam gây chia rẽ, phân tán quyết tâm trong xã hội Mỹ, Giôn-xơn bỏ cuộc; Ních-Xơn đắc cử Tổng thống Mỹ khoá 37 bằng thủ đoạn lừa mị cử tri. Ních- xơn muốn tiếp tục giữ ghế Tổng thống khoá 38 nên tổ chức, chiêu mộ những nhân vật danh giá đi khắp nước Mỹ tuyên truyền, vận động tranh cử dồn phiếu cho ông. Để chắc ăn, Ních-xơn còn có một hành động đạo tặc rất Mỹ.
Nước Mỹ có nhiều đảng phái, nhưng nền chính trị Mỹ nằm trong tay hai đảng lớn: Đảng Cộng hoà và Đảng Dân chủ, Ních-xơn thuộc Đảng Cộng hoà, đối thủ cạnh tranh ghế Tổng thống với ông là chính khách thuộc Đảng Dân chủ. Cạnh tranh trở thành chiến tranh là điều kẻ tham lam thường làm. Đêm 17 tháng 6 năm 1972, trước ngày bầu cử Tổng thống Mỹ khoá 38 năm tháng, đương kim Tổng thống Ních-Xơn bật đèn xanh cho thủ hạ hành động. Năm tên anh chị thạo nghề trèo tường, mở khoá... trang bị đầy đủ các đồ nghề cần thiết của phường đạo tặc thời hiện đại: máy điện thoại di động, máy chụp ảnh hồng ngoại, máy nghe trộm điện tử... đột nhập vào tầng hầm Toà nhà Oa-tơ-ghết tại Oa-sinh-tơn. Toà nhà Oa-tơ-ghết là Tổng hành dinh điều hành cuộc vận động bầu cử Tổng thống Mỹ của Đảng Dân chủ. Bọn đạo tặc mò lên tầng 9, vào Phòng họp của Ban bầu cử, chụp ảnh các tài liệu, hồ sơ bí mật cùa Đảng Dân chủ và gắn máy nghe trộm trong phòng họp để theo dõi những cuộc hội họp, trao đổi bàn luận của các thủ lĩnh Đảng Dân chủ về chiến thuật tranh cử.
Năm tên đạo tặc bị bắt tại chỗ cùng các tang vật.
Công việc điều tra xét hỏi phải qua một quá trình phức tạp nên chưa thể đưa ra một kết luận, vì vậy Ních- xơn tái đắc cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỷ thứ 38.
Tháng 7 năm 1974. Hội đồng tư pháp Hạ nghị viện khởi đầu thảo luận về Nghị quyết tố cáo Ních-Xơn tiến hành bầu cử gian lận.
Ních-xơn không chống nổi cú vụt chí tử của Đảng Dân chủ và Quốc hội Mỹ, nhất là muốn tránh cái nhục phải ra đứng trước vành móng ngựa, đành tuyên bố từ chức Tổng thống, chịu số phận chú voi què.
Phó Tổng thống Ghê-ron Pho lên kế vị Tổng thống.
Vụ Oa-tơ-ghết chấm dứt cuộc đời chính trị hung hãn của Ních-xơn đồng thời báo hiệu sự suy tàn của một Nhà nước tầm gửi. Quốc hội Mỹ ra nghị quyết: Tổng thống chỉ được phép điều động quân đội Mỹ ra nước ngoài khi Quốc hội phê chuẩn.
*
Ngày 21 tháng 7 năm 1974, trong một cuộc, họp Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Việt Nam đề xuất sáng kiến về kế hoạch giải phóng miền Nam. Ông nói:
- Hiện tại có thời cơ thuận lợi nhất, cần nắm lấy thời cơ này thực hiện nhiệm vụ lịch sử trọng đại của Dân tộc, nếu để chậm thì tinh hình sẽ diễn biến vô cùng phức tạp cho ta.
Từ ngày 30 tháng 9 đến mùng 8 tháng 10 năm 1974, Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam họp bàn về sáng kiến giải phóng miền Nam của Bí thư thứ nhất.
Có ý kiến trình bày tình hình chung:
- Ta thu được kết quả to lớn trong công tác chuẩn bị chiến lược. Ta giữ vững và phát triển mạnh mẽ thế chủ động chiến lược, đẩy địch vào thế bị động trên toàn chiến trường. Ta tăng thêm sức mạnh của lực lượng vũ trang, đặc biệt là khối chủ lực; làm căng mỏng và suy yếu một bước quan trọng quân nguy, nhất là đội quân chủ lực cơ động của chúng; làm cho chiến lược của ta hơn hẳn chiến lược của chúng. Ta đã củng cố và mở rộng các bàn đạp tiến công trên các hướng chiến lược trọng yếu; chuẩn bị tương đối tốt các mặt dự trữ vật chất, đường cơ động chiến lược và chiến dịch đều thông suốt.
Có ý kiến lại nói:
- Trong các đô thị miền Nam phong trào đòi hoà bình, dân sinh, dân chủ, độc lập dân tộc, đòi lật đổ Thiệu; nhiều đảng, phái theo đuổi tôn chỉ hoà bình, dân chủ, thống nhất được thành lập. Nhân dân thế giới đồng tình ủng hộ ta.
Có ý kiến tiếp lời:
- Trên chiến trường Lào, Căm-pu-chia, bộ đội bạn sát cánh cùng bộ đội tình nguyện Việt Nam thu nhiều thắng lợi, không những giữ vững vùng giải phóng mà còn kiểm soát được nhiều vùng có ý nghĩa chiến lược quan trọng.
Rồi có đồng chí khác nhận định:
Mỹ không còn khả năng đưa quân bộ vào Miền Nam Việt Nam. Nhưng không loại trừ khả năng chúng dùng không quân, hải quân chi viện. Tuy vậy, Mỹ không thể có hành động can thiệp mạnh mẽ, Mỹ không cứu vãn được nguy Sài Gòn khỏi sụp đổ.
Có đồng chí khác bổ sung:
- Mỹ ngày càng gặp khó khăn trong nội bộ nước Mỹ và trên thế giới. Do đó, Mỹ phải giảm bớt chi viện cho nguy và khó có khả năng nhảy vào Miền Nam lần nữa. Nhưng cũng phải đề phòng sự hung hăng liều lĩnh của Mỹ.
Bí thư thứ nhất nhất trí, ông chỉ thị:
- Đây là co hội lớn! Chúng ta bỏ lỡ là có tội với dân tộc, với nhân dân.
Hội nghị Bộ chính trị Đảng cộng sản Việt Nam nhất trí thông qua phương án chiến lược:
Giải phóng miền Nam trong hai năm 1975 - 1976. Chọn chiến trường Tây Nguyên là hướng tiến công chủ yếu trong cuộc tiến công lớn và rộng khắp năm 1975.
*
Thực hiện quyết tâm của Bộ chính trị về "Kế hoạch hai năm giải phóng miền Nam", quân dân miền Nam lên đường ra trận. Các cuộc tấn công đã giải phóng nhiều vùng đất đai đông dân cư ở đồng bằng sông Cửu Long, Khu 5, Thừa Thiên Huế. Chiếm đài quan sát của địch trên núi Bà Đen, quấy đảo vùng ven Sài Gòn... Tất cả các hoạt động quân sự ấy nhằm phục vụ chiến dịch Đường 14 - Phước Long - một chiến dịch thử phản ứng.
Nhưng, sau một tháng hoạt động, quán ta lâm vào tình trạng thiếu đạn cỡ lớn. Phó Tư lệnh miền điện ra Bộ Tổng tham mưu:
- Đạn thiếu. Đạn pháo cơ giới, đạn KDZ chỉ đủ đánh một đợt với mật độ thấp. Chúng tôi xin đánh Đồng Xoài trước.
Sau khi cân nhắc, Bộ Tổng tham mưu quyết định:
- Hậu cần chưa kịp chuyển đạn vào, ta tự lo bằng cách đánh Bù Đăng - Bù Na trước, lấy đạn pháo ở đó đánh tiếp Đồng Xoài; lấy đạn pháo của địch ở Bù Đăng, Bù Na, Đồng Xoài mở chiến dịch Phước Long.
Chiến dịch "lấy của địch để đánh địch" triển khai.
Ngày 12 tháng 12 năm 1974, một bộ phận của Quân đoàn 4 mớ chiến dịch Đường 14 - Phước Long, lần lượt đánh chiếm Bù Đăng, Bù Na, Vĩnh Thiện, Đồng Xoài đúng như kế hoạch.
Tới đây, tinh trạng thiếu đạn pháo lớn vẫn chưa khắc phục được. Quân uỷ Trung ương quyết định cho Quân đoàn 4 được dùng đại đội pháo 130 ly trong trận tiến công Phước Long. Ta dùng pháo 130 bắn vào sở chi huy địch và doanh trại lính trong thị xã Phước Long; tiếp đó dùng xung lực tấn công đồng loạt nhiều cứ điểm trọng yếu của địch trên khắp tỉnh. Ngày 6 tháng 1 năm 1975, tỉnh Phước Long được giải phóng hoàn toàn. Ta thu được nhiều khí tài quân sự, đáng kể hơn là trong sô chiến lợi phẩm có trên một vạn viên đạn đại bác. Dùng đạn này đánh Buôn Ma Thuột, chiếm kho đạn Mai Hắc Đế ở Buôn Ma Thuột để mở chiến dịch mới.
Nhưng giải phóng một tỉnh chưa phải là yêu cầu chiến lược của chiến dịch. So sánh lực lượng thì ta hơn hẳn nguy Sài Gòn, song nếu Mỹ nhảy vào ứng viện cho Sài Gòn thì lại là vấn đề khác. Ta không muốn có tổn thất không cần thiết nên phải ra đòn Phước Long để thăm dò phản ứng rồi tuỳ tình huống mà chọn phương án xử lý.
Vậy phản ứng của Mỹ - Thiệu ra sao?
*
Trong giai đoạn Phước Long bị cắt ra thành nhiều mảnh, nguy cơ thất thủ hiện rõ, Nguyễn Văn Thiệu triệu tập các cố vấn đến Phòng tình huống trong Dinh Độc Lập họp bàn phương sách ứng phó.
Lời tuyên bố mở đầu buổi họp của Thiệu thể hiện tư tường dao động, chờ thời:
- Tôi đã hạ lệnh tử thủ Phước Long và treo giải thưởng ba triệu đồng cho quân quyết tử. Nhưng buổi thảo luận này không khảo sát vấn đề Phước Long theo ý nghĩa quân sự.
Hoàng Đức Nhã là gã láu cá, nhưng đôi khi cũng ngây thơ như chú học sinh thực hiện phép tính cộng, hắn nói:
- Phước Long là vấn đề của ta, nhưng thực ra là quốc thể của Mỹ; ta thua tức là Mỹ thua. Một vài xã huyện mất hay còn không đáng kể, nhưng cả một tỉnh bị lấn chiếm thì không còn là chuyện nhỏ nữa. Mỹ vẫn làm ngơ là Mỹ tự làm xấu mặt mình trên thế giới.
Cao Văn Viên cũng biết Thiệu hướng tới điều gì nên đi thẳng vào vấn đề:
- Theo tin tình báo và tin do AFP(1), Roi-tơ(2), đưa thì tàu sân bay In-tơ-prai-đơ đã đổi lộ trình. Tàu tuần dương Long-bít, cùng nhiều tàu khu trục Mỹ đã dời cảng Su- bích (Phi-líp-pin). Tất cả đều chạy về hướng bờ biển Việt Nam; Sư đoàn lính thủ đánh bộ số 3 đóng ở Nhật được lệnh báo động khẩn cấp...
(1) Hãng tin Pháp.
(2) Hãng tin Anh.
Hoàng Đức Nhã hí hửng khi biết Mỹ động binh:
- Việt cộng phải đưa tay sờ lên gáy!
Cao Văn Viên nhìn gã bẻm mép bằng nửa con mất. Viên nói:
- Không có dấu hiệu lưỡng lự trong các hành động quân sự của Việt cộng.
Trần Văn Quang không thoát khỏi "tâm trạng trông chờ" của một gã lính khố đỏ thời Pháp:
- Mỹ thay đổi lập trường chăng? Mỹ phải biết cân nhắc nặng nhẹ chứ.
Trần Thiệm Khiêm ngả người ra sau với dáng điệu chán nản "bị một vố cạch đến già":
- Tôi e Pho diễn lại vở kịch "rung cây doạ khỉ" của Ních-xơn. Việt cộng có quá nhiều bài học thực tế.
Nguyễn Văn Thiệu không quên chuyện cũ: cuộc khùng hoảng năm 1963 dẫn đến cái chết bi thảm của cô Tổng thống Ngô Đinh Diệm, sự kiện Mỹ rêu rao "Hoà bình trong tầm tay" mà nửa triệu tấn bom trút xuống Hà Nội, Hải Phòng. .. ngay việc đi đến Hiệp định Pa-ri, Mỹ cũng chỉ lo bảo vệ quyền lợi Mỹ... Các sự kiện ấy thể hiện tính thực dụng ích kỷ của Mỹ. Vậy thì, rất có thể, tình huống báo động om sòm ấy chỉ đơn thuần là hành động quân sự kiểu Mỹ "mềm nắn rắn buông", việc ai người ấy lo. Thiệu muốn thúc hạt nẩy mầm:
- Chúng ta không có cơ sở chắc chắn để đánh giá các động thái quân sự của Mỹ là thật hay giả. Nếu là động tác giả chúng ta cần tạo thế bức nó phải trở nên thật. Phải biến hư thành thực. - Ông ta nhìn Hoàng Đức Nhã chỉ thị- Việc ấy thuộc thẩm quyền của anh. Ngày mai, anh tổ chức họp báo, lên án Cộng sản không tôn trọng Hiệp định Pa-ri, ca tụng Mỹ giữ đúng cam kết. Chiến dịch tuyên truyền này phải đạt ba yêu cầu: Kích buộc Mỹ đã nói phải làm. phơi bày trước thế giới về những cam kết của Mỹ đối với Việt Nam Cộng hoà và hù doạ Cộng sản.
Trần Thiện Khiêm thì thào vào tai Cao Văn Viên:
- Mượn oai hùm doạ sói!
Cao Văn Viên vốn không ưa Thiệu ra nhiều mệnh lệnh chiến đấu mà phớt lờ Bộ Tổng tham mưu. Thiệu tỏ ra tự phụ coi thường ý kiến của các cỏ vấn quân sự, nhất là những sáng kiến của các tướng lĩnh trong Bộ Tổng tham mưu. Nhân đà, Viên tỏ ác ý:
- Sói chẳng chết mà còn vọt lên cắn cổ mình!
Nguyễn Văn Thiệu nhướng mày hỏi:
- Hai ông có sáng kiến gì vậy?
Cao Văn Viên nhanh trí đáp:
- Chúng tôi muốn Tổng thống phái Sư đoàn dù đi giải nguy cho Phước Long.
Nguyễn Văn Thiệu nhổm người như bị kiến đốt, Sài Gòn chỉ còn hai Sư đoàn dự trữ chiến lược, nay vì một mẩu Phước Long bị đe doạ mà đã vội huy động tới lực lượng nòng cốt ấy thì... Việt cộng đang làm dữ ở Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Kon Tum, Tây Ninh. Mỹ không hành động thì rất có thể... Thiệu không dám nghĩ hết lẽ hơn thiệt, phải trái của bất kỳ tình huống oái oăm nào, ông ta sợ đi đến một kết cục không mong muốn. Thế là Thiệu quẫy, bươn trải tìm giải pháp, lắm lúc ông ta nghĩ đến thân phận con cá nằm trong lưới.
- Tạm thời đợi các hành động tiếp theo của Hoa Kỳ.
Trần Văn Quang không tán thành phương án "ôm cây đợi thỏ":
- Nước xa không chữa được cháy gần. Tinh hình khẩn cấp mà Mỹ vẫn dềnh dàng ở mãi giữa Thái Bình Dương. Tổng thống nên có biện pháp?
Nguyễn Văn Thiệu còn đang cân nhắc. Cao Văn Viên đã có sáng kiến:
- Không dùng quân bộ thì phải sử dụng không quân yểm trợ Phước Long. Nên huy động 100 máy bay khu trục và 150 máy bay lên thẳng vào chiến dịch ứng cứu này: Để tăng sức áp chế, ta đề nghị Mỹ chi viện. Tổng thống Pho chưa thể phái quân đội Mỹ sang Việt Nam, nhưng có thể sử dụng không quân yểm trợ cho ta.
Nguyễn Văn Thiệu đồng ý theo phương án "yểm trợ bằng không quân".
Từ ngày Bộ tư lệnh Quân viễn chinh Hoa Kỳ rút về nước, các quan hệ về quân sự giữa Mỹ và Sài Gòn đều qua Đại sứ quán Mỹ. Đại sứ quán Mỹ làm việc theo nguyên tắc hành chính sự vụ:
Nhận được công văn yêu cầu của Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên, Tuỳ viên quân sự Đại sứ quán Mỹ làm bản nghiệm thu kèm theo "công văn yêu cầu" của Việt Nam Cộng hoà đệ lên Đại sứ Ma-tin. Ma-tin gửi thư điện về Bộ trưởng Ngoại giao Kít-xinh-giơ, Kít-xinh-giơ gặp Tổng thống Pho bàn thảo. Pho hỏi Kít-xinh-giơ phương án xử lý.
Kít-xinh-giơ không phải là gã đánh trống bỏ dùi, nhưng là kẻ sâu sắc, biết cân nhắc nặng nhẹ, biết làm cái có thể, loại trừ cái không thể, nên luận bàn:
- Tinh hình chưa cho phép làm gì? Quyền lợi của Tổng thống Mỹ và của Việt Nam Cộng hoà đang đặt trên bàn cân, lợi phía này ắt phía kia bị thiệt hại. Giải pháp nên theo là Tổng thống nên đề nghị Quốc hội bổ sung viện trợ cho Thiệu.
Tổng thống Pho đồng ý.
Ngày mùng 9 tháng 1 năm 1975, Kít-xinh-giơ gửi điện cho Ma-tin:
"Lúc này việc yểm trợ bằng máy bay chưa được phép".
Ma-tin thông báo cho Nguyễn Văn Thiệu.
Thiệu tức giận nói với Hoàng Đức Nhã:
- Thật khó hiểu về lũ Mẽo này! Nhờ Mỹ cho máy bay giải vây Phước Long, Phước Long rơi vào tay Cộng sản ba ngày rồi nó mới báo cho mình biết "chưa được phép".
Điều hết sức quan trọng mà Nguyễn Văn Thiệu chưa biết là Toà Nhà Trắng đang bị Lâu đài Ca-pi-tôn hành. Khi biết Tổng thống Pho chớm có hành động quân sự, hướng tới Việt Nam, Quốc hội thấy bị Nhà Trắng có hành động "qua mặt" liền yêu cầu giải thích. Ê-kíp Pho - Kít- xinh-giơ có hành động quân sự bất thường nhằm hai dụng ý: Diễu võ giương oai khiến đối phương phải biết kìm chế, và nếu Quốc hội Mỹ làm ngơ thì quân đội Mỹ sẽ "quá mù ra mưa" - giáng một đòn răn đe... Không ngờ, bàn tay không che được mắt Chúa. Pho phải lệnh cho tàu In-te-pmai-dơ chuyển về Ấn Độ Dương và trịnh trọng tuyên bố:
- Không có hành động nào khác ngoài việc bố sung viện trợ cho Sài Gòn; sẽ không can thiệp vào Nam Việt Nam mà không thông qua thủ tục Hiến pháp và Lập pháp.
Phát ngôn viên Nhà Trắng - Han-đơ-man tiếp sức đỡ đòn cho chủ tướng, bày tỏ lập trường mới của Nội các Mỹ:
- Tổng thống Ghê-ran Pho không có ý vi phạm những điều cấm kỵ (của Quốc hội) về việc sử dụng lực lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam.
*
Thị xã Buôn Ma Thuột là trung tàm chính trị của Tây Nguyên, nằm trên ngã ba Đường chiến lược 21 nối với Nha Trang và Đường 14 - phía Bắc đi Cheo Reo, Plây Cu, phía Nam đi Gia Nghĩa, miền Đông Nam Bộ. Buôn Ma Thuột nằm tận trong vùng địch kiểm soát nên quân chiếm đóng ở đây không bị đối mặt trực tiếp với quân ta như Kon Tum. Buôn Ma Thuột là hậu cứ của Sư đoàn 23.
Quân uỷ Trung ương được sự chấp nhận của Bộ chính trị, chủ trương dùng ba sư đoàn chủ lực đánh Tây Nguyên mở thông hành lang nối Nam Tây Nguyên với Đông Nam Bộ, tạo đường vận động nhanh của bộ đội chủ lực vào Đông Nam Bộ, áp sát Sài Gòn; đồng thời, mở chiến dịch giải phóng Buôn Ma Thuột, chọc thẳng xuống Tuy Hoà, Phú Yên, cắt đồng bằng Khu 5 ra làm hai, tạo thêm lực vây ép Sài Gòn từ hướng Bắc. Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên do Trung tướng Hoàng Minh Thảo làm Tư lệnh, Đại tá Đặng Vũ Hiệp làm chính uỷ, Đại tá Phi Triệu Hàm: Phó chính uỷ và các Phó Tư lệnh: Thiếu tướng Vũ Lăng, Đại tá Phan Hàm, Đại tá Nguyễn Năng, Đại tá Nguyễn Lang.
Đoàn đại diện Bộ Tổng tư lệnh và Quân uỷ Trung ương tại mặt trận Tây Nguyên được thành lập. Đoàn gồm có: Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng, Chủ nhiệm Tổng cục hậu cần Đinh Đức Thiện, Phó Tổng tham mưu trưởng Lê Ngọc Hiền và một số cán bộ của các quân, binh chủng.
Ngày 13 tháng 2 năm 1975, Đoàn đại diện Bộ Tổng tư lệnh và Quân uỷ Trung ương tới Bộ tư lệnh mặt trận Tây Nguyên.
Kế hoạch nghi binh tiếp tục triển khai. Ta làm như chuẩn bị đánh Plây Cu: Sư đoàn 10 nã pháo vào thị xã Kon Tum, Sư đoàn 320 quấy đảo khu vực phía tây Đường 19, pháo binh bắn vào La Sơn - Thanh An; Trung đoàn 95 chặn đánh các tốp xe quân sự, tập kích các chốt trên Đường 19 mặt Đông Plây Cu. Gái trai các huyện 40, 67, 30, 80, Diên Bình, Tân cảnh (Kon Tum); huyện 4, 5 (Gia Lai) cơm nắm, nước ống nô nức chặt cây, đào đất làm đường nghi binh hướng về phía thị xã Kon Tum, Plây Cu. Sư đoàn 968 có pháo xe kéo yểm hộ đánh các căn cứ tiền duyên ở phòng tuyến phía Tây Nam thị xã Plây Cu; Trung đoàn 95 A đánh chiếm đèo Măng Giăng, cắt Đường 19 nối Plây Cu với Quy Nhơn.
Hoạt động nghi binh của ta khiến Nguyễn Văn Thiệu phải điều Trung đoàn 45 (thuộc Sư đoàn 23) đang lùng sục mạn Bắc Buôn Ma Thuột về Plây Cu tăng cường cho lực lượng phòng thủ. Như vậy, ở Buôn Ma Thuột địch chỉ còn Trung đoàn 53 (thuộc Sư đoàn 23) và Tiểu đoàn bảo an.