Nhà Trắng lúng túng. Tư lệnh Quân viễn chinh Mỹ càng lúng túng hơn. Tổ chức càn quét thì như chạm vào đàn ong bò vẽ, đánh một nơi tạo thêm cơ hội cho đối phương mở rộng vùng kiểm soát của họ ra nhiều nơi; càng bị tấn công họ càng lớn mạnh. Một đối thủ bí hiểm, lạ lùng. Họ sống dai dẳng một cách đáng sợ như thế là nhờ vào phép màu nào? Lính Bắc Việt là những "người lính thượng hảo hạng". Nhưng không có điểm tựa vững chắc thì người lính ưu tú đến mấy cũng sẽ trở thành kẻ cô đơn yếu đuối. Điểm quan trọng là hậu cần. Hậu cần! Hậu cần dồi dào nên chẳng bao giờ họ bị đuối sức. Ông già tinh quái Bân-cơ từng đánh giá: Mất nguồn tiếp tế, Việt cộng chết khô. Nguồn cung ứng từ cảng Xi-ha-núc-vin đã tắc, chỉ cần chặn tuyến tiếp tế từ Bắc vào Nam là Việt cộng khốn đốn ngay.
Tổng thống Ních-Xơn, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân EG. Hin-lơ, Cô vấn an ninh Kít-xinh- giơ liên tiếp nhận được giác thư của Tư lệnh Quân viễn chinh Mỹ - A-bơ-ram:
- Muốn Việt cộng không bất ngờ mở chiến dịch lớn có hiệu quả, phải loại trừ khả năng hậu cần của họ. Thị trấn Sê Pôn và vùng phụ cận dọc Đường 9 là khu kho tàng chiến lược của Bắc Việt; từ đó, đồ tiếp tế sẽ toả xuống các chiến trường từ Trị - Thiên vào tới Nam Bộ.
Nhóm DCPG(1) của Bộ Quốc phòng Mỹ - nhóm vạch kế hoạch về giao thông có nhiệm vụ soạn thảo chương trình chống thâm nhập qua hành lang Trường Sơn, trong đó có kế hoạch xây dựng hàng rào điện tử Mắc Na-ma-ra - cũng kiến nghị triệt phá vùng Sê Pôn. Nguyễn Văn Thiệu, Cao Văn Viên kể cả trung tướng Hoàng Xuân Lãm - Tư lệnh Quân khu I cũng muốn có hành động quân sự phá bọc dạ dày của Việt cộng.
(1) Defense Commutiicrtins plaining group.
Thế là có thể quyết định. Tháng 10 năm 1970, Ních- xơn hạ lệnh mở chiến dịch Ai-lu Oai-tơ (Igloo White). Chúng huy động gần 900 lần chiếc B.52 và mấy nghìn lượt máy bay chiến thuật ném sáu vạn tấn bom - tương đương ba quả bom nguyên tử đã triệt hạ Hi-rô-si-ma xuống khu vực Sê Pôn, kéo dài suốt bốn tuần liền.
Thật là mãnh liệt, thật là khủng khiếp. Đến nỗi, ngày 5 tháng 11 năm 1970, Hang UPI Mỹ phải kêu lên:
- Đây là chiến dịch ném bom ở Lào mạnh nhất trong lịch sử chiến tranh Đông Dương.
Nhưng Việt cộng cũng chẳng "chết khô" như Mỹ liệu định mà vẫn nhận được hàng tiếp tế của miền Bắc. Họ có cách thoát hiểm của họ, kế hoạch nào cũng có giải pháp khắc phục. Đánh một Sê Pôn ắt có nhiều Sê Pôn khác, đánh một Đường 9 ắt có nhiều Đường 9 khác.
Không thể ngăn chặn bằng biện pháp phá hoại thụ động. A-bơ-ram kiến nghị dùng bộ binh chiếm Sê Pôn, lập cụm căn cứ khống chế chặn ngay con đường huyết mạch Hồ Chí Minh. Nguyễn Văn Thiệu, Cao Văn Viên ủng hộ ý tưởng hiểm ác này. Nhà Trắng chấp nhận và gửi chỉ lệnh dặn dò:
- Đã đánh là phải thắng! Lập căn cứ Sê Pôn là công việc hàng đầu lúc này. Nó là chìa khoá mở cửa chiến thắng.
A-bơ-ram, Nguyễn Văn Thiệu, Cao Văn Viên, Hoàng Xuân Lãm - Tư lệnh Quân khu 1, và các Tư lệnh vùng chiến thuật dồn mọi cố gắng cho "cú vụt chí tử".
Nguyễn Văn Thiệu hí hửng nhưng vẫn phàn nàn với A-bơ-ram:
- Nếu năm 1967, Ông Giôn-xơn biết nghe khuyến nghị của ông Oét-mô-len thì đã chẳng để nỗi khó khăn này cho chúng ta phải lo toan.
A-bơ-ram, công nhận và nói lời tự an ủi:
- Chậm còn hơn không!
Công việc chuẩn bị cho trận đánh được triển khai bí mật nhưng khẩn trương. Không thể phụ sự mong đợi của Nhà Trắng. Trung tâm khai thác tình báo Mỹ - Sài Gòn được huy động công suất tối đa vào việc điều tra, theo dõi và phải báo cáo tình hình diễn biến hàng ngày ở khu vực Nam Lào và Bắc sông Bến Hải.
Bộ chỉ huy Mỹ - Sài Gòn tổ chức nghi binh; kiến thiết các hiện tượng chuẩn bị đánh căn cứ Dương Minh Châu, Chiến khu Đ phía Bắc và Đông Bắc Sài Gòn, mở cuộc hành quân lớn ở Tây Nguyên, tung tin có thể có cuộc tấn công vượt qua vĩ tuyến 17. Ngày 30 tháng 1 năm 1970, Mỹ - Sài Gòn mở trận càn Đi-uây Ca-ni-on 2 dọc Đường 9 phía Nam khu phi quân sự, vừa là nghi binh vừa là giữ bí mật cho công việc triển khai lực lượng ra tuyến xuất phát phục vụ trận đánh chiếm Sê pỏn.
Trong thông điệp Liên bang, Tổng thống vui mừng báo tin cho nhân dân Mỹ biết:
- Năm 1970 đã có mười bốn vạn thanh niên Mỹ rời Việt Nam về nước và quân đội Việt Nam Cộng hoà tăng tương ứng(1).
(1) Thực ra, bọn nguy Sài Gòn ra sức bắt lính cũng chỉ tăng được năm vạn hai nghìn lính.
Hạ tuần tháng 1 năm 1971, tại cuộc họp liên tịch giữa Hội đồng an ninh quốc gia và Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, Tổng thống Mỹ Ních-Xơn bộc lộ khía cạnh mới của thứ "Thuyết kẻ điên rồ":
- Một sai lầm to lớn của người tiền nhiệm (Giôn-xơn) là không dám đưa quân trên bộ sang cắt đứt con đường vận chuyển Bắc - Nam của đối phương trên địa bàn nhạy cảm nhất là vùng Đường 9 - Nam Lào. Tôi dám làm điều mạo hiểm đó. Quốc hội và nhân dân Mỹ phải hiểu rằng, muốn Việt Nam hoá thành công thì phải mạo hiểm. Đã đến lúc phải làm cho mạch máu tiếp vận của đối phương bị cắt đứt. Lực lượng Việt cộng teo đi, tinh thần quân đội đồng minh Sài Gòn mới có thể nâng cao, như thế sự nghiệp "Việt Nam hoá" mới thành công. Tung lực lượng chính quy Sài Gòn sang chiến trường Lào lần này còn là một dịp kiểm tra bước đầu sau hai năm Việt Nam hoá chiến tranh.
Đầu tháng 2 năm 1971, Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân họp lần cuối nghiên cứu bản tường trình của Bộ tư lệnh Mỹ ở Sài Gòn gửi về. Tất cả nhất trí ủng hộ kế hoạch hành quân này. EG. Hin-lơ điện cho A-bơ-ram, nhấn mạnh:
- Chiến dịch thành công sẽ đẩy lùi được ý đồ đánh lớn của đối phương, có thêm thời gian hoàn tất kế hoạch "Việt Nam hoá", thực hiện rút quân theo chương trình và do đó bảo đảm được thắng lợi của chúng ta. Gửi lời chào mừng những chiến tích vẻ vang mà đại tướng và các đồng sự sẽ giành được trong thời gian tới.
Ngày mở đầu cuộc tấn công Sê Pôn, bộ máy tuyên truyền của Nhà Trắng loan tin về sự kiện xâm phạm lãnh thổ Lào như một kỳ tích. Tờ Bưu điện Oa-sinh-tơn phản ánh niềm lạc quan của Nhà Trắng:
- Những người làm ra chính sách ở cấp cao trong Chính phủ Ních-xơn coi cuộc hành quân của Việt Nam Cộng hoà với sự yểm trợ của Mỹ vào Nam Lào là một thử thách có tính quyết định. Nó cũng có thể quyết định tương lai Đông Dương nên Tổng thống bật đèn xanh cho cuộc hành quân này.
Khi chiến sự đang diễn ra quyết liệt, ngày 22 tháng 2 năm 1971, Tổng thống Việt Nam Cộng hoà Nguyễn Văn Thiệu hào hứng tuyên bố trước Trung tâm huấn luyện Cán bộ bình định ở Vũng Tàu:
- Mặt trận Lào là mặt trận có tính chất quyết định đến chiến tranh ở Việt Nam. Việt cộng mất chỗ dựa, Việt cộng phải chết.
Đại tướng Uây-en - người sẽ thay A-bơ-ram làm Tư lệnh lực lượng Mỹ ở Sài Gòn thừa nhận với báo chí:
- Chiến sự ở Lào sẽ là trận đánh lớn nhất trong toàn bộ chiến cuộc ở Đông Dương.
Đúng, không hề là lời nói phô trương.
Ngoài sáu vạn tấn bom rải thảm của B.52 Mỹ - Sài Gòn tung vào trận đánh ba vạn quân, gồm 47 tiểu đoàn bộ binh, 9 tiểu đoàn thiết giáp (600 xe tăng, xe bọc thép), trên 300 đại bác các cỡ, hơn 2000 máy bay các loại và nhiều đặc chủng kỹ thuật khác.
Đội hình hành quân được bố trí chặt chẽ:
Chiến đoàn đặc nhiệm là mũi chủ công do Đại tá Phan Hoà Hiệp chỉ huy tiến quân theo Đường 9 và là đội quân chiếm giữ Sê Pôn. Lữ đoàn dù 3 do Đại tá Nguyễn Văn Thọ làm Tư lệnh, có sự phối hợp của Liên đoàn Biệt động quân số 1 bảo vệ sườn Bắc. Sư đoàn 1 do Chuẩn tướng Phạm Văn Phú điều hành bảo vệ sườn Nam. Lữ đoàn Thuỷ quân lục chiến số 147 - lực lượng cơ động cắm ở biên giới bảo vệ mặt sau. Ngoài ra, còn có đơn vị thiết giáp, pháo tầm xa 175 ly đóng ở biên giới Việt Nam làm nhiệm vụ chi viện khi cần thiết.
Bộ tư lệnh quân viễn chinh Mỹ và Bộ tổng tham mưu quân đội Việt Nam Cộng hoà thành lập Ban chỉ huy hỗn hợp, Trung tướng Hoàng Xuân Lãm - Tư lệnh vùng chiến thuật 1 giữ quyền chỉ huy chung. Hoàng Xuân Lãm đặt quân doanh Bộ tư lệnh tiền phương ở Đà Nẵng. Họ thiết lập một mạng lưới thông tin ở mọi cấp có trách nhiệm để theo dõi, trao đổi từng bước phát triển của cuộc hành quân.
Sáng sớm ngày 8 tháng 2 năm 1971, sương mù che phủ khắp núi rừng Trường Sơn. Hai trăm xe tăng M.41 và thiết giáp M.113 hộ tống Lữ đoàn dù 1, Liên đoàn Biệt động quân 21 ầm ầm vượt qua cửa khẩu Lao Bảo sang đất Lào, theo Đường 9 tiến về hướng Bản Đông.
Đại tá Phan Hoà Hiệp báo cáo về Ban chỉ huy hỗn hợp:
- Chúng tôi đang ở Bản Đông. Không gặp đối phương, chưa thấy kho tàng.
Oa-sinh-tơn hỏi Lầu năm Góc Sài Gòn:
- Tinh hình các hướng khác ra sao?
Tướng Đơ-phuy phụ tá của A-bơ-ram thấy Oa-sinh- tơn quá đi sâu vào tình hình chiến sự, có ý không bằng lòng, nhưng biết Nhà Trắng trông đợi rất nhiều ở thắng lợi của lần ra quân này nên cũng muốn giúp cấp trên vui lòng.
- Nhưng... - Ông đáp:
- Chưa có tin tức, sẽ báo cáo sau.
Chính lúc đó, hơn một trăm chiếc trực thăng, gồm cả cần cẩu bay CH.54 bay kín bầu trời Tà Khống, ồ ạt đổ xuống Lữ đoàn dù số 3, đem theo cả đại bác, xe ủi đất. Đại tá Nguyễn Văn Thọ và các sĩ quan Lữ đoàn đốc thúc quân lính kiến thiết công sự phòng thủ, dựng doanh trại trên các cao điểm 495, 456 và 655. Liên đoàn Biệt động quân số 1 cũng đang tiến vào vị trí tập kết: có đơn vị bắt đầu dựng công sự phòng ngự lâm thời. Cánh quân bảo đảm sườn Bắc chưa ổn định đội hình phòng thủ thì quân đối phương bất thần xuất hiện tấn công dữ dội... Ban chỉ huy hỗn hợp mất liên lạc với cánh quân này.
- Đơn vị bảo đảm sườn Nam, thế nào?
Chuẩn tướng Phạm Văn Phú đã đưa Sư đoàn 1 tới vị trí đã định, chiếm lĩnh được cao điểm 537, 619 và 550. Đối phương mở những cuộc tập kích nhỏ. Sau bảy ngày đọ súng, Sư đoàn bị thương vong dăm chục và mười trực thăng bị hạ; nói chung, tình hình trở lại yên tĩnh, ngoài vài vụ bắn lén không đáng kể.
- Mũi chủ công tiến triển ở mức độ nào?
A-bơ-ram xua tay ra hiệu. Đơ-phuy hiểu ý, trả lời điện thoại:
- Thỉnh thoảng gặp phục kích bằng bộ binh và trận địa mìn, đường rất khó đi, tiến độ hành quân chậm.
Những tin tức ít bi quan và thưa dần. Những mệnh đề gây băn khoăn cho Phòng tình hình Nhà Trắng tăng lên:
Đại đoàn 308 xuất trận. Xe tăng T.54 tham chiến. Lữ đoàn dù 3 tan rã, Đại tá Nguyễn Văn Thọ và Bộ tư lệnh Lữ đoàn bị bắt, sườn Bắc bị hở...
Những báo cáo kịp thời ấy khiến Ních-Xơn, Kít-xinh- giơ, Hin-lơ muốn trực tiếp tham gia ứng phó. Ních-Xơn nói với Hin-lơ:
- Cần tăng cường cho mũi chủ công. Phải chiếm bằng được Sê Pôn.
EG. Hin-lơ nhắc mệnh lệnh của Tổng thống cho A- bơ-ram biết. A-bơ-ram sang Dinh Độc lập hội kiến với Nguyễn Văn Thiệu tìm cách thực hiện chỉ lệnh của Nhà Trắng, gặp lúc Đại tướng Cao Văn Viên và Trung tướng Hoàng Xuân Lãm cũng ở đó.
Tư lệnh Hoàng Xuân Lãm từ Đại bản doanh cuộc hành quân đóng ở Đà Nẵng nhận thấy có nhiều khả năng thất bại, vội vàng bay về Sài Gòn để bàn khẩn cấp với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Giải pháp đối với tình hình thực tế và cũng đáp ứng ý định của Nhà Trắng là dùng trực thăng đưa Sư đoàn 1 lên trên tiếp ứng cho Phan Hoà Hiệp, điều động Sư đoàn thuỷ quân lục chiến 147 tiến sang thế chân Sư đoàn 1. A-bơ-ram đồng ý với cách ứng phó này.
Quân ta không để cho bọn cuồng chiến tự do điều chỉnh đội hình. Ta đã dự kiến mũi nhọn Phan Hoà Hiệp bị chặn, địch sẽ áp dụng phương pháp tiến quân theo cách cóc nhảy để khắc phục. Sư đoàn 324 xuất kích, trận đầu đè bẹp sự chống cự của Trung đoàn 1 nguy, tiếp đó xung trận như thế chẻ tre. Trung đoàn 2 và Trung đoàn 3 nguy bị đánh tơi tả. Đại tá Cao Khắc Nhất - Trưởng phòng tác chiến, Trung tá Vụ - Trưởng phòng tiếp vận tử trận. Chuẩn tướng Phạm Văn Phú - Tư lệnh sư đoàn bị thương; số lính thương vong nhiều đến mức không thống kê nổi, lính mất tinh thần chiến đấu, nhiều tên nhảy bừa lên trực thăng tải thương, có tên cố bám càng máy bay để thoát thân nhưng vẫn rơi xuống đất mà chết.
Sư đoàn 324 chuyển cánh đánh sang Lữ đoàn Thuỷ quân lục chiến 147. Lính Mỹ cậy có máy bay, pháo yểm trợ. Ta áp dụng chiến thuật "bám thắt lưng địch mà đánh", đánh dữ dội, đánh tới tấp, đánh ngày lại đánh đêm, quân ta cưỡi xe tăng T.54 cả xe tăng M.41 của Mỹ thu được tại trận để đuổi đánh Mỹ. Bọn thuỷ quân lục chiến thấy xe tăng áp vào đánh chúng sợ quá phải bỏ đại bác, xe cộ và trang bị nặng khác, để chạy tháo thân, hai ngàn tên "Cọp biển" sang Lào chi viện cho đồng minh, chẳng giúp đỡ được đồng minh lại bị đối phương đánh cho tơi tả, chạy về tới Lao Bảo thì số quân thoát chết chưa đủ một ngàn.
Đại đoàn 308, Đại đoàn 324 xốc lại đội hình tiến đánh quân Phan Hoà Hiệp. Tướng chỉ huy Hoàng Xuân Lãm đứng trước một quyết định khó khăn. Nếu cứ tiến quân thì chắc chắn "mũi chủ công" bị bẻ gẫy, nhưng... Lãm đành gọi điện báo cáo với Nguyễn Văn Thiệu;
- Quân ta đã rơi vào trận địa bày sẵn của Bắc Việt. Tôi xin nhắc lại nguyên văn lời một sĩ quan cấp tá Mỹ tham dự trận đánh để tuỳ Tổng thống quyết định: "Chúng tôi chưa bao giờ nghĩ rằng đối phương lại có nhiều cao xạ được bố trí khéo léo đến thế, ấy là chưa nói xe tăng của họ đông chưa từng thấy. Những khẩu súng trên xe tăng đã nã trúng trực thăng với độ chính xác kỳ lạ. Chỉ trong một cuộc trực thăng vận của Sư đoàn 1 mà 38 trong số 60 máy bay lên thẳng bị bắn rơi". Thưa Tổng thống! Theo tôi phải đưa bọn Trung tâm khai thác tình báo ra Toà án binh.
Còn lựa chọn nào khác đâu. Sườn Bắc, Đại tá Nguyễn Văn Thọ bị bắt; sườn Nam, Chuẩn tướng Phạm Văn Phú bị thương; mật sau Lữ đoàn 147 được mệnh danh là "Cọp biển" bị đánh tơi tả. Nguyễn Văn Thiệu nén tiếng thở dài. Tình báo Mỹ quá tồi nên đưa quân lực Việt Nam Cộng hoà lâm vào cảnh sa cơ thất thế; Nhà Trắng là kẻ mang con bỏ chợ, khi khởi sự thì hứa nọ quyết kia, lúc lâm sự thì đánh trống bỏ dùi. Nguyễn Văn Thiệu nói bằng giọng xúc động:
- Đưa anh em về thôi, Trung tướng hiểu không? Cố giữ mạng sống cho anh em. Có thể...
Thiệu chưa nói hết câu đã đặt máy. Hoàng Xuân Lãm cũng chẳng cần biết Tổng thống Thiệu định nói tiếp gì nữa. Điều quan trọng ông cần là "lệnh rút quân" thì đã có.
Trên đường về Đà Nẵng, Hoàng Xuân Lãm tranh thủ gọi điện cho Phan Hoà Hiệp ra lệnh:
- Rút lui! Gửi ngay toạ độ tập kết của bộ binh, trực thăng đến đón. Lữ đoàn thiết giáp 1 rút về theo Đường 9.
Ba tiểu đoàn bộ binh được trực thăng lần lượt bốc đi, 420 quân nhân thuộc Tiểu đoàn 4 bảo vệ phía sau. Ngay khi lực lượng chính rời bãi đáp, quân Bắc Việt tiến công bằng lực lượng áp đảo. Tiểu đoàn 4 cố cầm cự được hai ngày thì chỉ còn 30 người thoát về Khe Sanh.
Lữ đoàn thiết giáp 1 tháo lui khốn đốn hơn. Họ bị quân Bắc Việt truy kích ráo riết. Phía trước có hai chiếc xe tăng hỏng nằm chắn đường làm nghẽn lối khiến đội hình phía sau trở thành mục tiêu cho quân đối phương tiến công. Các xe thiết giáp chở lính vượt qua làn đạn bắn chéo cánh sẻ, lên đẩy hai chiếc xe tăng chướng ngại vật, mở đường cho đội hình rút chạy, dọc đường vẫn bị những trận công kích dữ dội, đến biên giới thì bị quân Bắc Việt đánh đón đầu. Các căn cứ hoả lực Mỹ đóng phía trong biên giới Việt Nam làm lực lượng chi viện cho cuộc hành quân 719, lúc này cũng bị uy hiếp, họ buộc phải rút, có xe tăng hộ tống theo con đường mà sau này lính Mỹ đặt tên là hành lang phục kích.
Ấy vậy mà, Phát ngôn viên Nhà Trắng - Han-đơ-man tuyên bố trước các phóng viên báo chí bằng lời lẽ mù mịt: - Cuộc hành quân 719 đã đạt được mục tiêu đề ra.