Ngay từ những thập kỷ đầu thế kỷ XX, các nhà cầm quyền Hợp chủng Quốc Hoa Kỳ đã đặc biệt quan tâm đến dải đất hình chữ S bên kia bờ Thái Bình Dương.
Tổng thống FD. Ru-dơ-ven có tham vọng dùng Việt Nam làm điểm nhấn trong vành đai "phòng thủ toàn cầu" - bao gồm Nhật, Đài Loan, Phi-líp-pin, Niu Ghi-nê, Ôt- xtrây-li-a...
Tổng thống Ha-ri Tru-man ôm ấp tham vọng thành lập ở Việt Nam một "chính phủ không cộng sản thân phương Tây"; ông đã chiêu dụng Bảo Đại - một Hoàng đế bị phế truất làm tên lính xung kích.
Tổng thống DD. Ai-xen-hao bổ sung tham vọng thực dân: "Chúng ta hãy tưởng tượng rằng chúng ta mất Đông Dương thì tiếc, von-phram, cao su là những thứ quý giá sẽ không từ vùng này đến Mỹ nữa". Ai-xen-hao đã nuôi dạy Ngô Đình Diệm - viên thượng thư bị thất sủng dưới triều Bảo Đại thành "Người hùng bảo vệ Thế giới tự do". Ông đã thành công trong sự nghiệp đưa Ngô Đình Diệm về miền Nam, dựng nên chính quyền thân Mỹ, gây nên cuộc "Chiến tranh đơn phương", gom dân vào ấp chiến lược - trại tập trung trá hình, sử dụng những gã bình định mặt sứa gan lim, những tên dân vệ ác ôn để kìm kẹp nhân dân, đánh phá cơ sở cách mạng...; cầm tù, tàn sát những người đòi hoà bình thống nhất đất nước.
Tổng thống JF. Ken-nơ-đi có cơ sở đánh giá sự đầu tư của Mỹ cho Chính quyền Ngô Đình Diệm:
- Nếu chúng ta không phải là cha mẹ đẻ của nước Việt Nam Cộng hoà nhỏ bé, thì chắc chắn là cha mẹ nuôi, chúng ta đã chủ trì khi nó sinh ra, chúng ta đã giúp đỡ cho nó sống, chúng ta đang giúp để hình thành tương lai của nó - Ông nhấn mạnh - Hoa Kỳ kiên quyết làm tất cả mọi việc để cho không vì thiếu viện trợ của Hoa Kỳ mà Việt Nam Cộng hoà phải rơi vào tay Cộng sản!
Tổng thống Mỹ JF. Ken-nơ-đi đã đưa vào miền Nam mười bảy ngàn cố vấn quân sự và dân sự, hàng vạn tấn vũ khí và phương tiện chiến tranh, giúp Diệm - Nhu thực hiện cuộc "Chiến tranh đặc biệt" sát hại những người yêu nước ở miền Nam.
Ông nói:
- Nếu quân đội Hoa Kỳ phải tham chiến tại Việt Nam Cộng hoà thì Tổng thống sẽ ra trước Quốc hội để yêu cầu Quốc hội chấp thuận trước, nhiệm vụ của những quân nhân Hoa Kỳ hiện đang phục vụ tại Việt Nam là giúp đỡ Chính phủ Việt Nam và chỉ bắn trả khi nào bị tấn công.
Ken-nơ-đi là vị Tổng thống trung thực, tôn trọng Hiến pháp Hoa Kỳ. Học thuyết "bà đỡ" của Tổng thống Hoa Kỳ triển khai tới đâu thì chính ông công khai tuyên bố trước "Đồng bào của ông" những người đã kiệu ông lên chiếc ghế cao nhất trong toà Nhà Trắng.
- Chúng ta đã có sự cố gắng to lớn ở Việt Nam. Hiện nay, ở đây số người của chúng ta đông hơn gấp mười lần hoặc mười một lần so với một năm trước đây. Chúng ta đã chịu một số thiệt hại, chúng ta đã đem đến Việt Nam một khối lượng trang bị lớn lao vô cùng. Chúng ta đang đẩy mạnh việc thực hiện chương trình ấp chiến lược, xây dựng dân vệ. Trong một số bộ phận, chương trình quân sự đã hoàn toàn thành công. Tuy nhiên, cuộc chiến đấu chống du kích gặp khó khăn hơn, người ta phải bỏ vào cuộc chiến đấu đó mười hoặc mười một người để chống lại một du kích, đặc biệt là ở một địa thế hiểm trở như Nam Việt Nam. Do đó, chúng ta chưa trông thấy đoạn cuối đường hầm; nhưng tôi cho rằng đường hầm đó là đen tối. Mặc dầu, so với một năm trước đây, về một số mật nào đó, tình hình có sáng sủa hơn.
Phái Diều hâu lũng đoạn nền chính trị Mỹ đặt niềm tin cậy ở sự vững chắc của chế độ Diệm - Nhu, những mong họ gánh vác nổi trọng trách vai trò tiên phong - một tiền đồn chống cộng của "Thế giới tự do" ở một vùng đang bùng nổ nhiều tham vọng. Nhưng, áp đặt tư tưởng lên một người là không dễ thì đối với một dân tộc chỉ là mơ tưởng hão huyền. Chính quyền Diệm - Nhu bất lực, những người yêu nước ở miền Nam thành lập Chính phủ cách mạng và xây dựng Quân đội Giải phóng miền Nam. Ngô Đình Diệm không đáp ứng được tham vọng của phái Diều hâu đậu nhan nhản trên cây Chính quyền Mỹ, họ lợi dụng sự sơ ý của Tổng thống JF. Ken-nơ-đi bật đèn xanh cho bọn tướng tá tham quyền hoặc bất mãn ở miền Nam thực hiện đảo chính. Diệm - Nhu bị giết. Dương Văn Minh lên làm Tổng thống, ông ta lấy lòng nhân dân bằng cách xoá bỏ ấp chiến lược, giải tán dân vệ, thả tù... "Bọn tướng trẻ đầu bò" hăm hở gây bè dựng phái để tranh đoạt quyền lực, chính trường biến thành chiến trường, công việc ngoài chiến trường không được quan tâm đúng mức. Quân Giải phóng miền Nam không bỏ lỡ thời cơ mở rộng vùng giải phóng: Khu 5, Tây Ninh, đồng bằng sông Cửu Long...
Quân nguy nguy khốn, Đại sứ Mỹ Ca-bốt Lốt-giơ, Tư lệnh Bộ chỉ huy viện trợ quân sự (MACV) - Ha-kin cầu cứu Oa-sinh-tơn.
Nhưng, nước Mỹ đang bận "quốc tang". Tác giả của học thuyết "biên giới mới" - Tổng thống JF. Ksn-nơ-đi đã áp dụng một chính sách thiếu cứng rắn, không phù hợp với tính thực dụng cực đoan của phái Diều hâu nên bị họ loại trừ chỉ sau cái chết của đứa "con nuôi"(1) chừng một tuần.
(1) Lời tuyên bố của Ken-nơ-đi: Chính quyền miền Nam không phải là "con đẻ" thì cũng là "con nuôi" của Mỹ.
*
Theo quy định của Hiến pháp Hoa Kỳ, Phó Tổng thống Lin-đơn Giôn-xơn - một nhân vật cường bạo ma mãnh lên nắm quyền Tổng thống cho tới ngày bầu cử Tổng thống nhiệm kỳ mới. Ngay từ thời làm Phó cho JF Ken-nơ-đi, Lin-đơn Giôn-xơn đã ấp ủ ý tưởng "sức mạnh". Sức mạnh tối đa đối với vùng đất ồn ào ở miền Á Đông xa xôi ấy.
Nhưng, làm thế nào để tranh thủ cảm tình của cử tri Mỹ - công dân của đất nước chuộng tự do và công lý mà không phương hại tới ý tưởng là "Người chiến thắng" Không thể vừa làm ông thày tu vừa làm tên đồ tể. Giôn- xơn hài lòng khi các phụ tá - thành viên của "Nhóm tiệc trưa" đề xuất đề tài tranh cử gồm hai mục tiêu rất hợp với xu hướng của dân chúng Mỹ: "Xây dựng một xã hội vĩ đại" và "không tìm cách mở rộng chiến tranh ở Việt Nam".
Lin-đơn Giôn-xơn không có hành động, không có tuyên bố lộ ra đang chuẩn bị cho tình thế chiến tranh khốc liệt mới mà chỉ lặng lẽ cử Đại tướng Uy-liêm Oét- mô-len làm Phó tướng cho Pôn Ha-kin và bổ nhiệm Mác- xoen Tay-lo - một chiến lược gia bậc nhất của Mỹ làm Đại sứ thay ông già Ca-bốt Lốt-giơ, tạo tiền đề tăng cường chiến tranh nhưng vẫn có thể giải thích lạp trường theo đuổi hoà bình hay ngả theo chiến tranh, nghĩa là đối với phái hữu hay phái tả, Giôn-xơn đều có lập luận bảo vệ quan điểm của mình.
Việc tuyên truyền ồn ào đề tài tranh cử và việc điều động tướng lĩnh thể hiện sự lập lờ của Tổng thống khiến nhiều nhân vật quyền thế kinh ngạc, nhất là phái Diều hâu. Các Tham mưu trưởng Liên quân gửi giác thư cương quyết đòi có hành động quân sự mới và mạnh mẽ. Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân - EUyn-lơ nói rõ:
- Các Tham mưu trưởng Liên quân tin rằng Tổng thống quyết định không có thêm các biện pháp quân sự thì Mỹ phải rút khỏi Nam Việt Nam.
Mác-xoen Tay-lo từ Sài Gòn bay về chỉ trích chủ trương thiên về quân sự của phái Diều hâu:
- Các Tham mưu trưởng Liên quân bỏ quên nguyên tắc từ lâu nay của Chính phủ - từ cố Tổng thống Ken-nơ- đi đến đương kim Tổng thống Giôn-xơn là "Chiến tranh ở Việt Nam phải do người Việt Nam thực hiện", nhất là lời hứa khi vận động bầu cử "không tìm cách mở rộng chiến tranh".
Lin-đơn Giôn-xơn lặng thinh trước những lời góp ý trái ngược nhau, khá lâu mới lên tiếng:
- Tôi dành cho Tay-lo một cơ hội cuối cùng để ổn định tình hình chính trị. Nếu không đạt được điều đó thì khi ấy anh (Uyn-lơ) là người có lý.
Mác-xoen Tay-lo trở về Sài Gòn. Các tướng lĩnh Việt Nam Cộng hoà mải tạo vây cánh tranh quyền và buôn lậu, lơ là công chuyện chiến sự. Tay-lo cảnh báo các tướng lĩnh Việt Nam Cộng hoà:
- Các ngài muốn được có sự ủng hộ tiếp tục của người Mỹ thì phải ổn định chính trị.
Lời khuyến nghị của vị Đại sứ nước bảo trợ không thỏa mãn tâm trạng của những kẻ đang gầm ghè cạnh tranh, đấu đá nhau vì quyền lợi.
*
Cố Tổng thống Mỹ Ken-nơ-đi khẳng định:
- Tôi nghĩ trừ phi có một nỗ lực to lớn của Chính phủ Nam Việt Nam nhằm giành sự ủng hộ của nhân dân thì mới có thể chiến thắng ở cuộc chiến đấu đó. Phải! Chính họ là những người quyết định chiến thắng hay thất bại. Chúng ta có thể giúp họ bằng cách cung cấp phương tiện và các chuyên gia.
Ken-nơ-đi trung thành với ý tưởng "bà đỡ" của mình nên nhờ các nhà báo bắn tin tới Quốc hội:
- Tôi không thể tin được rằng Quốc hội lại có thể thiếu khôn ngoan đến chỗ buộc Mỹ phải bỏ rơi Nam Việt Nam hoặc châu Mỹ La-tinh chẳng hạn. Các mục trên của chính quyền Mỹ ở miền Nam Việt Nam phải được xác định tại Hội nghị Hô-nô-lu-lu.
Nhưng, tám ngày sau lời tuyên bố uỷ mị, nước đôi này phái hữu "thịt" ông để ý tưởng "bà vú nuôi chăm chỉ" không còn chi phối quan điểm hành động của Toà Nhà Trắng.
Đương kim Tổng thống Mỹ Lin-đơn Giôn-xơn thận trọng theo kiểu tinh quái khác hẳn. Ông muốn vượt trên những vị Tổng thống tiền nhiệm danh tiếng của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Các vị Tổng thống tiền nhiệm ấy từng sáng tạo nên học thuyết bất hủ của mình: Ru-dơ-ven có "đường lối mới", Tru-man có "thoả ước trung thực", Ai-xen-hao có "ván bài Đô-mi-nô", Ken-nơ-đi có "biên giới mới"... Còn ông? "Chương trình xã hội vĩ đại" là mục tiêu hàng đầu, nhưng "sự nghiệp bảo vệ thế giới tự do" mới là nhân tố hỗ trợ cho ông đàng hoàng và kiêu hãnh ngồi trên chiếc ghế xích đu đặt đường bệ trong Phòng Bầu Dục thêm một nhiệm kỳ nữa; thậm chí, nếu ông tỏ tài thao lược trong cách dùng người và vận dụng phép biến hoá màu nhiệm của đồng Đô la thì có thể ganh đua với Ru-dơ-ven về sự tín nhiệm của dân chúng đối với Tổng thống(1).
(1) Theo Hiến pháp Mỹ, một người chỉ được giữ chức Tổng thống hai nhiệm kỳ. Ru-dơ-ven được bầu liên tiếp bốn nhiệm kỳ Tổng thống.
Tổng thống Giôn-xơn đã "nổi tiếng hơn" những Tổng thống tiền nhiệm là lái con thuyền ngang ngược và gian trá sang Nam Việt Nam - một miền Á Đông nóng bỏng trên năm chục vạn quân Viễn chinh Mỹ, hàng triệu tấn khí tài quân sự và lôi kéo được hàng vạn lính chư hầu (Nam Hàn, Thái Lan, Ot-xtrây-li-a...) xúm vào tiêu diệt "quân Bắc Việt xâm lược Nam Việt Nam" và quét sạch bọn Việt cộng nổi loạn", giúp chính quyền Thiệu - Kỳ bảo vệ Nhà nước Việt Nam Cộng hoà góp phần củng cố thế giới tự do. Giôn-xơn bổ nhiệm Oét-mô-len làm Tổng tư lệnh quân viễn chinh Mỹ thay tướng Ha-kin. Ông có những phụ tá tài giỏi thuộc "Nhóm tiệc trưa", bao gồm: Bộ trưởng Quốc phòng Mắc Na-ma-ra, Bộ trưởng Ngoại giao Đin Rát-xcơ, Cố vấn an ninh quốc gia Mác Gioóc Bân-đi, Uy-liêm Bân-đi, Oát Rô-xtâu, Thư ký báo chí của Tổng thống Uy-liêm. Moi-Ơ... họ là "sủng thần" thường xuyên kề cận Tổng thống, ngoài ra còn có Giám đốc Cục tình báo Trung ương Mỹ (CIA) Ri-sac Hem-xơ, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân EUyn-lơ. Đây là nhóm khống chế, kiểm soát Chính quyền Giôn-xơn, chính họ vạch ra hầu hết các chính sách, các chương trình hành động ở Việt Nam. Chính họ tạo thế cho bộ binh Mỹ vào miền Nam và không quân Mỹ oanh tạc bừa bãi miền Bắc-: Tổng chỉ huy quân viễn chinh Mỹ ở Sài Gòn Oét-mô-len triển khai chiến lược nhìn đời bằng nửa con mắt "tìm diệt và bình định", chiến dịch At-tơn-bo hung tợn tấn công chiến khu Dương Minh Châu, chiến dịch Xê-đa Phôn hùng hổ càn quét khu tam giác Trảng Bàng - Bến Súc - Củ Chi. Chiến dịch Giôn-xơn Xi-ti lấy thịt đè người đánh vào căn cứ Trung ương Cục miền Nam ở phía bắc Tây Ninh. Máu chảy, lửa cháy khắp các nẻo đường Miền Nam. Tư lệnh lực lượng Mỹ ở Thái Bình Dương - Đô đốc Ô-lêch Sáp ra lệnh cho hàng trăm máy bay phản lực, kể cả pháo đài bay siêu hạng B.52 thả hàng triệu tấn bom, phóng hàng vạn quả rốc-két, rải hàng triệu ga-lông chất độc hoá học xuống đường mòn Hồ Chí Minh, nhằm cái đích bãm nát, chặn đứng đường chi viện của Miền Bắc cho Miền Nam, thực hiện bằng được ý tưởng của "Nhóm tiệc trưa" và chính viên Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn cũng rất tán thưởng: "Mất nguồn tiếp tế của Miền Bắc, Việt cộng ở Miền Nam chết khô". Trên mình dải Trường Sơn hùng vĩ nhan nhản hố bom và loang lổ những vạt rừng vàng úa. Nghiêm trọng hơn, xâm lược Mỹ còn phái hàng ngàn máy bay siêu âm hiện đại oanh tạc tràn lan Miền Bắc, mục tiêu không hạn chế, kể cả đê điều, trường học, bệnh viện, nhà thờ, đình chùa...
Tham mưu trưởng không quân Mỹ Mác Cơn-oen đoán chắc:
- Không còn nghi ngờ gì nữa, chúng ta có thể phá hoại Bắc Việt Nam thực sự trong một sớm một chiều.
Tổng chỉ huy Quân viễn chinh Mỹ - Uy-liêm Oét- mô-len, thể hiện thứ tâm địa hí hửng độc ác:
- Chúng ta sẽ tiếp tục làm cho họ phải đổ máu tới độ cả nước họ qua hàng mấy thế hệ phải chịu thảm hoạ dân tộc.
Viên tướng Mỹ này đang trù tính những bước đi tiếp để tiến tới chiến thắng.
Vậy mà Mỹ chẳng đi đến đâu... Trong khi Mỹ có nỗ lực ở ngoài chiến trường thì ở trong chính trường Miền Nam bọn "tướng đầu bò" chỉ hăm hở hung hăng như lũ ngựa bất kham háu đói ãn chung một máng. Chính Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ - Mắc Na-ma-ra phải phàn nàn.
- Các tướng lĩnh Việt Nam mặc kệ tình hình chiến sự, chỉ đổ xô vào làm chính trị để giành địa vị, để tham nhũng, để buôn lậu...
Đi một chân mà vẫn vững vàng là điều trái với tự nhiên và không hợp với thông lệ.
*
Năm 1962, Tướng Phùng Thế Tài được Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam bổ nhiệm làm Tư lệnh Phòng không.
Trước khi tướng Phùng Thế Tài nhận nhiệm vụ mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi lên gặp. Cụ thân ái hỏi:
- Bây giờ chú là Tư lệnh Phòng không, vậy chú đã biết gì về máy bay B.52 chưa?
Phùng Thế Tài bị bất ngờ. Ông được biết chiếc máy bay B.52 đầu tiên được Mỹ cho ra đời và bay thử nghiệm thành công vào giữa năm 1952, ngoài thông tin ấy ra, ông chỉ biết thêm nó có thể mang nổi hàng chục tấn bom. Nhưng đối với chức năng một Tư lệnh Phòng không thì biết như vậy chẳng thế nói là biết được.
Thấy vị Tư lệnh Phòng không lúng túng, cụ Hồ cười.
- Nói thế thôi, chứ chú có biết cũng chưa thể làm gì được nó, B.52 bay cao trên mười ki-lô-mét mà lực lượng Phòng không mới chỉ có pháo cao xạ thôi. Nhưng, ngay từ nay các chú phải theo dõi, nghiên cứu loại máy bay này! Không được để Tổ quốc bị bất ngờ.
Tư lệnh Phùng Thế Tài hứa:
- Thưa Bác! Cháu và các cán bộ sĩ quan binh chủng Phòng không xin thấu triệt lời dạy bảo của Bác.
Đầu năm 1965, Nhà nước Liên Xô viên trợ cho ta loại lên lửa SAM2 - loại có thể bắn hạ B.52, đơn vị tên lửa được thành lập, mang phiên hiệu Trung đoàn 267.
Tháng 2 năm 1965, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc Na-ma-ra thể theo đề nghị của Tổng chỉ huy Quân đội viễn chinh Mỹ Oét-mỏ-len điều động máy bay chiến lược B.52 tới căn cứ không quân Mỹ An-đơ-xơn trên đảo Gu- am tham gia cuộc chiến tranh ở Việt Nam.
Oét-mô-len đặt nhiều hy vọng "giải toả sức ép" của B.52. B.52 là biểu tượng sức mạnh của nền công nghiệp quân sự Mỹ. Chảng riêng Oét-mô-len mà các nhà quân sự tài giỏi của nước Mỹ cũng đánh giá hiệu quả chiến đấu của B.52 là "chiếc gậy răn đe" chỉ đứng sau bom hạt nhân.
Cũng năm 1965, vào khoảng tháng 6, đế quốc Mỹ bắt đầu sử dụng máy bay chiến lược B.52 ném bom xuống miền Nam. Ta cũng cho SAM2 lên đường ra trận. Bác Hồ đến thăm đơn vị. Tư lệnh Phùng Thế Tài, Chính uỷ Đặng Tính tháp tùng Bác đi quan sát phương tiện: Bệ đặt tên lửa, xe tính toán cự ly, xe ra-đa thu phát, xe điều khiển chỉ huy... Thấy anh em làm chủ khí tài quân sự tối tân, thao tác thành thục, háo hức được chiến đấu, được thể hiện những điều đã học tập... Bác rất vui, nên khi nói chuyện Bác nhắc nhở, động viên:
- Dù đế quốc Mỹ có lắm súng nhiều tiền, dù chúng có B.57, B.52 hay "bê" gì đi chăng nữa chúng ta cũng phải đánh, mà đã đánh là nhất định thắng. Các chú không được quên điều đó.
*
Trong Hội nghị Hoà bình ở Giơ-ne-vơ, Căm-pu-chia đã đạt được quyền thiết lâp quan hệ ngoại giao với một số nước như Liên Xô, Trung Quốc, Mỹ... Hoa Kỳ khuyến nghị Căm-pu-chia liên kết với khối SEATO (Tổ chức Hiệp ước các nước Đông Nam Á gồm Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Pa-ki-xtăng, Thái Lan, Ôt-trây-li-a và Niu Di-lân). Khối SEATO thành lập năm 1954 dưới sự chi phối của Mỹ. Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ - Giôn Đa-let - coi SEATO là một dây xích trọng yếu để khoá chặt vùng Đông Nam Á, kiểm chế Trung Quốc, bảo vệ Đông Dương khỏi rơi vào tay cộng sản.
Quốc trưởng Xi-ha-núc không thừa nhận tính cần thiết của SEATO; ông yêu cầu Oa-sinh-ton viện trợ và lên tiếng yêu cầu cả Bắc Kinh lẫn Hà Nội cam kết không can thiệp vào công việc nội bộ của Căm-pu-chia.
Tổng thống Ai-xen-hao quyết định dùng sức mạnh viện trợ gây áp lực hướng dẫn chiều hướng đối nội, đối ngoại của Căm-pu-chia. Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ chủ trương:
- Bảo vệ nền độc lập Căm-pu-chia và đảo ngược chiều hướng trung lập thân cộng sản, khuyến khích những cá nhân và những nhóm ở trong nước đang chống lại việc thương lượng với khối cộng sản và đang hoạt động cho việc mở rộng cơ sở của quyền lực chính trị ở Căm-pu- chia.
Chính sách thiếu nhất quán này thể hiện ở hai phương diện: Một mặt viện trợ cho Chính phủ Căm-pu- chia đồng thời ủng hộ về kinh tế, quân sự cho phái Khme Cray do Sơn Ngọc Thành cầm đầu gây rối đất nước Chùa Tháp.
Hệ quả thứ chính sách "đâm bị thóc chọc bị gạo" là thất bại mà Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ phải thừa nhận:
"Hoa Kỳ không có khả năng hướng Căm-pu-chia vào việc thành lập một chính phủ ổn định không có quan hệ với cộng sản. Nguyên nhân nào?".
Nước Mỹ không hiểu sự ngờ vực của Căm-pu-chia đối với Mỹ do chính người Mỹ gây ra. Hậu quả trong việc đối xử thô bạo của Vụ các Vấn đề Viễn Đông thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ - thanh lọc những người đã để mất Trung Quốc vào tay cộng sản", nghĩa là Bộ Ngoại giao xử lý tình huống một cách thiển cận, thải hồi những chuyên gia hiểu biết về địa lý, lịch sử, phong tục Châu Á nhất là vùng Đông Nam Châu Á, những người có may mắn được giữ lại thì cũng không thể bồng bột tỏ cảm tình nồng nhiệt với hậu duệ của dòng họ hoàng tộc Căm-pu-chia, tệ hại tới mức khi cần có lời khuyên thực tế thỉ không có chuyên gia tư vấn.
Xi-ha-núc là một chính trị gia khôn khéo, ông thường có những cuộc gặp gỡ thân tình với thần dân của ông, khi biết nhân dân không thích chế độ quân chủ, ông tuyên bố thoái vị và tham gia bầu cử như một chính khách. Khi là Quốc trưởng, ông vẫn làm chủ bút tạp chí Nghiên cứu các vấn đề Căm-pu-chia (Etudes Cambodgiennes), chỉ đạo Đài phát thanh và những phương tiện thông tin khác, ông viết kịch bản phim, đạo diễn, quay phim và tham gia diễn xuất trong một số bộ phim.
Quốc trưởng Xi-ha-núc không ưa tư bản, nhưng cũng không mặn mà với cộng sản. Ông cố giữ cho khói lửa chiến tranh không bén đến đất nước mình. Ông coi trọng quốc thể. Đại sứ đầu tiên của Mỹ tại Căm-pu-chia - Rô- bớt Mác Cờ-lin-tốc là gã kiêu căng, khinh bạc... ỷ vào việc Căm-pu-chia "sống nhờ" vào viện trợ Mỹ, hắn đến Căm-pu-chia với tư thế người ban ơn, hơn thực hiện nhiệm vụ ngoại giao, nông cạn hơn là hắn mặc quần soóc, chống ba toong, dắt con chó săn lông xù giông Ai-len "ung dung" vào Hoàng cung. Hành vi vô lễ của Rô-bớt Mác Cờ-lin-tốc khiến Quốc trưởng Xi-ha-núc phẫn nộ, ông bảo đơn vị bảo vệ:
- Từ nay cạm con lợn ấy bước vào Hoàng cung!
Đại sứ Can Xto-rom thay Rô-bớt là người lịch thiệp nhưng xử sự nông cạn chẳng kém. Năm 1958, quân đội Nam Việt Nam tấn công qua biên giới Căm-pu-chia bị quàn đội Căm-pu-chia dùng súng đạn Mỹ viện trợ đánh cho thua chạy.
Can Xtơ-rom gặp Tổng tư lệnh quân đội Hoàng gia- Tướng Nhéc Tiu-lông khuyến nghị:
- Chính phủ Mỹ không ủng hộ việc người Căm-pu- chia dùng súng đạn Mỹ để chống lại người bạn Việt Nam của mình.
Chuyện đến tai Quốc trường Xi-ha-núc. Ông tức giận:
- Chúng ta cần viện trợ để bảo vệ đất nước chứ có phải để trưng bày đâu.
Quả không có gì ngạc nhiên khi Mỹ tiếp tục ủng hộ Nam Việt Nam và Thái Lan trong các cuộc tranh chấp biên giới. Mỹ khuyến khích tinh thần, giúp đỡ vật chất cho những phần tử Khme Cray hoạt động gây rối ở nhiều tỉnh. Quốc trưởng Xi-ha-núc không muốn ở thế bị động nên không mặn mà với viện trợ của Mỹ, cắt quan hệ quốc tế với Thái Lan, tuyệt giao với Sài Gòn, công nhận tính hợp pháp của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đồng thời thiết lập quan hệ ngoại giao hoàn chỉnh với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Tình báo Việt Nam và Trung Quốc báo cho Căm-pu-chia biết: Mỹ đạo diễn cho Chính quyền Diệm - Nhu phối hợp với Đáp Chuôn- Tổng trấn tỉnh Siêm Riệp và một số tướng lĩnh, chính khách khác thực hiện đảo chính lật đổ Chính quyền Xi-ha-núc. Nhờ biết trước nên Chính phủ Căm-pu-chia đập tan kế hoạch thối tha của bọn ngoại bang và nội gián. Cuối năm 1963, Chính phủ Vương quốc Căm-pu-chia yêu cầu Sứ quán Mỹ đình chỉ mọi hoạt động của các phái đoàn viện trợ Mỹ (MAAG) và đưa các nhân viên này về nước.
Ngày 4 tháng 1 năm 1964, tướng Te-bơ - Trưởng phái đoàn quân sự Mỹ đến chào từ biệt tướng Lon Non - Bộ trưởng Quốc phòng Căm-pu-chia. Ông ta xúc động, chỉ nói được một câu:
- Tôi rất lấy làm tiếc!
Lon Non hiểu tâm trạng của Te-bơ: Tướng cầm quân ra trận chưa kịp chiến đấu đã phải rút lui. Lon Non đánh giá cao sự giúp đỡ của MAAG, đối với hắn đó không phải là lời an ủi tâm trạng thất bại của Te-bơ mà là sự đánh giá. Hắn úp mở bộc lộ ý nghĩ thầm kín:
- Việc ra đi của MAAG không phải do Chính phủ muốn thế. Chúng tôi không bao giờ đi theo khối cộng sản, trừ phi bị cộng sản đè bẹp về quân sự. Chúng tôi tin rằng, đến một lúc nào đó trong tương lai, Hoa Kỳ lại giúp đỡ Căm-pu-chia không có điều kiện tiên quyết, có thể như Mi-an-ma hoặc In-đô-nê-xia.
Te-bơ đáp:
- Tôi hy vọng như vậy!
Lon Non nói tiếp, hình như là lời trách cứ lại hình như muốn gợi ý Mỹ đã giúp phe phái nào phải giúp hết lòng với phe phái đó:
- Người Căm-pu-chia không thể hiểu nổi sự bất lực của Hoa Kỳ trong việc đình chỉ các buổi phát thanh của Khme Cray.
Te-bơ tuy là kẻ võ biền nhưng cũng biết đôi chút ngón nghề của các người làm chính trị, cuộc nói chuyện cởi mở đã giúp Te-bơ phát hiện ra một triển vọng: giới quân sự Căm-pu-chia không ủng hộ Quốc trưởng của họ. Ông ta giải đáp thắc mắc của Lon Non cũng là khích lệ lòng tự ái của viên tướng ấp ủ nhiều tham vọng:
- Đôi khi kẻ làm tướng như chúng ta cũng bị động.
Tình huống diễn biến theo chiều thuận cứ như có sự sắp đặt của Đấng cao cả. Năm 1965, tờ Tuần tin tức xuất bản ở Mỹ đăng bài báo tỏ thái độ khinh miệt Quốc trưởng Xi-ha-núc, tố cáo gia đình ông tổ chức nhà chứa gái điếm ở Phnôm Pènh, cũng năm này, đơn vị chiến đấu đầu tiên của Mỹ đổ bộ lên cảng Đà Nẵng - dấu hiệu của một cuộc xâm lãng xuất hiện. Quốc trưởng Xi-ha-núc vốn theo đuổi đường lối trung lập cực đoan, nhưng chính sách ngạo mạn của Mỹ khiến ông phải tuyên bố:
- Trung lập không có nghĩa là không tỏ ra có cảm tình với ai.
Quốc trưởng Xi-ha-núc quyết định cắt đứt hoàn toàn mọi quan hệ ngoại giao với Mỹ. Ông cho phép Quân giải phóng Miền Nam vượt qua biên giới, thiết lập các căn cứ trong nhiều khu vực thuộc các tỉnh miền Đông Căm-pu- chia.
Nhờ tán thành chủ trương Liên minh chiến đấu của ba nước Đông Dương, đường mòn Hồ Chí Minh bắt đầu từ Bắc Việt Nam đi qua Lào vào vùng đông - bắc Căm- pu-chia xuống tận cực Nam Việt Nam. Năm 1966, Thủ tướng Quốc vụ Viện Trung Quốc - Chu Ân Lai đích thân đề nghị Quốc trưởng Xi-ha-núc cho phép đưa hàng quân nhu của Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam qua cảng Xi- ha-núc-vin. Sự ủng hộ của Căm-pu-chia đối với cuộc chiến đấu chống xâm lược ngày càng to lớn. Từ năm 1966 đến năm 1970 hàng viện trợ của Trung Quốc, Liên Xô... ùn ùn cập cảng Xi-ha-núc-vin. Xe vận tải của hãng Hắc-li, chủ là Hoa kiều ở Căm-pu-chia và xe ô tô của quân đội Căm-pu-chia nối đuôi nhau trên các đường quốc lộ, được xây dựng do viện trợ của Mỹ, vượt qua Phnôm Pênh tiến đến. vùng biên giới Miên - Việt. Chính phủ Căm-pu-chia còn quyết định bán cho Mặt trận giải phóng Miền Nam Việt Nam mười vạn tấn gạo mỗi năm và được phép mua nhu yếu phẩm ở Căm-pu-chia. Nhiều nhà buôn lập quan hệ mua bán với Hậu cần Quân giải phóng. Thủ tướng Lon Non và nhiều nhân vật tai to mặt lớn không bỏ qua cơ hội đục nước béo cò. Một quan chức cao cấp trong Chính phủ Căm-pu-chia thừa nhận:
- Hai phần ba cho Việt cộng, một phần ba cho bản thân anh. Với giá đó, người ta tự bán mình.
*
Bộ chỉ huy quân đội viễn chinh Mỹ ở Nam Việt Nam biết nhưng chưa hình dung nổi quy mô đối phương sử dụng Căm-pu-chia như thế nào, lập vùng căn cứ hay chỉ mượn đường tiếp tế, tuy vậy cũng đánh giá được giá trị chiến lược dọc biên giới Căm-pu-chia nếu họ sử dụng làm đất thánh.
Đấy là vấn đề cần tìm hiểu. Đội Sa-lem Hao-xơ - sau đổi là Đa-ni-en Bun được lệnh hành động.
Lính biệt kích mang tên Đa-ni-en Bun là loại lính đặc biệt nhất trong các loại lính đặc biệt. Mỗi đội thường có hai hoặc ba người Mỹ chỉ huy và giữ điện đài, đội viên gồm khoảng mười người lính đánh thuê tuyển chọn trong các buôn sóc trên vùng núi cao biên giới Căm-pu-chia, phần nhiều là người Khme Krom - thành viên của phái Khme Cray, do Sơn Ngọc Thành cầm đầu. Thành thường cưỡi máy bay trực thăng đến những vùng núi cao tuyển mộ lính biệt kích cho Mỹ. Tất cả những người Mỹ tình nguyện tham gia Đa-ni-en Bun đều buộc phải ký giấy cam đoan: Nếu để lộ công việc họ làm thì bị phạt mười nghìn đô la và phạt tù mười năm; họ có thể mặc quân phục nhưng không được đeo phù hiệu đơn vị, họ thường mặc quần áo bà ba như du kích Việt cộng và được trang bị các thứ vũ khí do Liên Xô hoặc Trung Quốc sản xuất. AK47 của Liên Xô; lựu đạn, dao găm, bi đông Trung Quốc... giống những du kích của Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam. Lính biệt kích Đa-ni-en có trụ sớ chính ở Buôn Ma Thuột, chúng chuyên hoạt động lén lút dọc biên giới Căm-pu-chia để tìm đường mòn, phát hiện căn cứ, chôn mìn tự động, nếu thuận lợi thì có thể nổ súng, tấn công. Việc che giấu này là nhằm mục đích không lọt một tin tức nào về hành tung của các đội biệt kích Đa-ni-en tới giới báo chí và Quốc hội Mỹ.
Trung uý Ran-đô-phơ Ha-ri-xơn nhận nhiệm vụ chỉ huy một đội Đa-ni-en Bun thâm nhập vào Căm-pu-chia để chuẩn bị cho tình huống chiến tranh mới. Sau khi được máy bay lên thẳng chờ tới một địa điếm gần biên giới, Ha-ri-xơn dẫn đơn vị luồn rừng, leo núi tiến về phía mục tiêu. Núp trên một địa thế thuận lợi, Ha-ri-xơn quan sát thấy hệ thống đường mẹ, đường con dẫn đến những khu vực nhan nhản boong ke, nhiều doanh trại rộng không người ở.
Ha-ri-xơn nói với viên thượng sĩ giữ điện đài:
- B52! Chỉ B.52 rải thảm bom ồ ạt mới có thể phá huỷ nổi hệ thống công sự kia!
Viên thượng sĩ giữ điện đài nới rộng tác dụng của bom đạn:
- Nếu các doanh trại bỏ không ấy có nhiều tiểu đoàn, nhiều trung đoàn Việt cộng trú chân thì chính là mục tiêu lý tưởng của pháo đài B.52.
Hoàn thành công việc do thám, Ha-ri-xơn dẫn đơn vị về địa điểm tập kết, chờ trực thăng đến chở về Buôn Ma Thuột.
Ngay ngày hôm sau Bộ chỉ huy quân viễn chinh Mỹ đã nhận được báo cáo kết quả do thám của Ha-ri-xơn. Máy bay được phái đi thẩm tra thực địa, những chuyến bay do thám tầng cao mang tên "Con rồng khổng lồ" và các cuộc bay trinh sát ở độ thấp mang tên "Vây cá trên sống lưng" đã xác minh báo cáo của Ha-ri-xơn là đúng với thực địa. Các Tham mưu trưởng Liên quân cũng nhanh chóng nhận được bản tường trình về phát hiện mới này. Họ vỡ lẽ ra căn cứ của chủ lực Việt cộng là ở Căm- pu-chia chứ không phải là ở Lào. Tổng thống Ai-xen-hao đánh giá quá cao địa bàn Lào đã làm cho cơ quan điều hành cuộc chiến ở Việt Nam đi lạc hướng mấy năm nay. Các Tư lệnh chiến trường, Tổng chỉ huy quân viễn chinh, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân tìm thấy nguyên nhân thất bại của những chiến dịch lớn "tìm diệt". Đối phương né được những cú đòn dữ dội Giôn-xơn Xi-ti, Xê-đa Phôn, Át-tơn-bo... là do họ cố tránh cái thế mạnh ban đầu của Mỹ bằng cách di chuyển đội hình sang Căm- pu-chia. Các tướng soái Mỹ đánh giá tầm lợi hại của các căn cứ Việt cộng đóng dọc biên giới Căm-pu-chia, mà vùng Mỏ Vẹt là quan trọng nhất, họ cho rằng: Nếu mở một cuộc tập kích mang tính chất phanh xác thì sẽ làm tê liệt mọi cố gắng chiến tranh của đối phương.
Mỏ Vẹt là một góc lãnh thổ Căm-pu-chia nhỏ ra ăn sâu vào đất Nam Việt Nam phía Tây Bắc Sài Gòn. Các Tham mưu trưởng Liên quân đánh giá vùng này là quan trọng nhất trong các vùng căn cứ của Việt cộng ở Căm- pu-chia, ở đây có nhiều Trung đoàn, nhiều Quân y viện, nhiều kho tàng vũ khí và lương thực, họ cũng biết có rất nhiều làng mạc Căm-pu-chia ở xung quanh. Dẫu có nhiều thường dân, Mỏ Vẹt vẫn cứ là mục tiêu lý tưởng của pháo đài B. 52.
Oét-mô-len và các Cố vấn an ninh quốc gia nhiều lần yêu cầu Tổng thống Giôn-xơn cho phép tiến hành những cuộc tấn công ồ ạt từ trên không và từ mặt đất vượt qua biên giới vào vùng Mỏ Vẹt.
Tổng thống Giôn-xơn xua tay từ chối. Đưa chiến tranh sang một nước trung lập là một vấn đề hệ trọng, không thể nguy tạo ra thứ "Sự kiện Vịnh Bắc Bộ" lần thứ hai. Ông muốn đi theo hướng khác, có sức thuyết phục sâu rộng hơn, Quốc hội và Nhân dân Mỹ cũng không thể chỉ trích Tổng thống của mình. Ông nói:
- Tất cả những gì mà tôi nghe về ông Hoàng làm cho tôi nghĩ là chúng ta phải cư xử khôn khéo với ông ta.
Tổng thống Giôn-xơ cử A-vơ-ra Ha-ri-man - một nhà ngoại giao lọc lõi, giỏi biện luận sang Phnôm Pênh làm nhiệm vụ thuyết khách.
Quốc trưởng Xi-ha-núc từ chối không tiếp sứ giả của Mỹ.
Khó khăn nào cũng có giải pháp. Đại sứ Ot-xtrây-li-a Nô-en Xanh Cờ-lê-ơ Đi-sem-pơ được huy động vào trận. Đi-sem-pơ bí mật gặp một số quan chức, tướng lĩnh Căm- pu-chia nuôi tham vọng, gợi ý một chương trình xích lại gần nhau. Đi-sem-pơ thành công trong vai môi giới, kích thích lòng tham. Tiếp đó, gã môi giới chuyển cho Chính phủ Căm-pu-chia một dự án tuyệt mật mang tên Ve-su-vi- út - hồ sơ này do CIA chuẩn bị và giao cho Đi-sem-pơ làm vật chứng, hồ sơ gồm những kế hoạch, chỉ thị, hành động cụ thể... của Cộng sản Việt Nam vi phạm lãnh thổ Căm-pu-chia. Tài liệu giả mà hoàn hảo tới mức ngay Đi- sem-pơ xem xong cũng phải thốt lên:
- Khống gì thuyết phục hơn! Dẫu là kẻ thận trọng nhất cũng không thể thờ ơ.
Mấy tuần sau, đòn "rung cây doạ khỉ" chưa kịp phát tán. Đại sứ Mỹ tại nước Cộng hoà Ấn Độ - Se-xtơ Bâu-lơ dẫn đầu một phái đoàn thành phần khiêm tốn đến thăm chính thức Căm-pu-chia. Quốc trưởng Xi-ha-núc, Thủ tướng Xon-Xan, Tổng tư lệnh quân đội Nhéc Tiu-lông tham gia buối toạ đàm. Có lẽ Bâu-lơ nghĩ rằng chất gia vị Ve-su-vi-út đã đủ sức kích thích nên nói với giọng người hảo tâm tâm sự với người lương thiện.
- Cộng sản ngày càng sử dụng nhiều hơn các vùng biên giới, nguy cơ mớ rộng cuộc chiến tranh có thể lường thấy. Nếu hình ảnh bi thảm ấy cần tránh như Oa-sinh-tơn mong muốn thì nên có những biện pháp thiết thực và có hiệu quả để ngăn chặn Việt cộng và Bắc Việt sử dụng trái phép lãnh thổ Căm-pu-chia.
Quốc trưởng Xi-ha-núc đáp:
- Chúng tôi không coi việc truy kích là một biện pháp mong muốn, chúng tôi không thể hiểu nổi vì sao Hoa Kỳ tấn công Bắc Việt Nam và nhiều nước nhỏ khác trong khi lại tránh đụng độ với Mát-xcơ-va và Bắc Kinh. Chúng tôi cho rằng duy trì quan hệ với những người Cộng sản Việt Nam là rất cần thiết.
Bâu-lơ tỏ ra thành thực và nhã nhặn, thái độ nhã nhặn của nhà ngoại giao Mỹ có sức thuyết phục:
- Có những chuyện xảy ra ngoài mong muốn của con người. Hoa Kỳ tuyệt đối không muốn thực hiện những cuộc hành quân trên đất Căm-pu-chia. Chúng tôi thích dùng những biện pháp khác để ngăn chặn Việt cộng và Bắc Việt sử dụng lãnh thổ Căm-pu-chia, Quốc trưởng Xi-ha-núc nói:
- Tôi hiểu vì sao mà Mỹ không muốn dính líu vào các cuộc hành quân trên đất Căm-pu-chia. Nếu Oa-sinh- tơn công khai thừa nhận biên giới của Căm-pu-chia và quan hệ giữa hai nước đã được khôi phục thì Tuỳ viên quân sự Hoa Kỳ sẽ được tự do đi khắp Căm-pu-chia và xem xét tất cả những gì ông ta muốn.
Thủ tướng Xon Xan ra điều kiện:
- Hoa Kỳ phải đảm bảo không để xảy ra những cuộc ném bom và bắn phá các buôn sóc, các đồn biên phòng Căm-pu-chia.
Tướng Nhéc Tin-lông - Tổng tư lệnh quân đội tố cáo hành động chiến tranh của Mỹ:
- Bom đạn Mỹ sát hại nhiều đàn bà, trẻ em và những người dân trong tay chỉ có cày cuốc.
Bâu-lơ khôn khéo bào chữa:
- Hoa Kỳ không có ý đồ xâm lược. Tuy nhiên, do tình hình hiện nay, những chuyện rủi ro rất đáng tiếc có thể xảy ra.
Trên đường về Niu Đê-li, Bâu-lơ điện về Oa-sinh-tơn trình bày kết quả công cán và kiến nghị hướng giải quyết:
Lập trường chủ nghĩa dân tộc vững chắc và những tình huống cụ thể diễn biến, bộc lộ ra khả năng thay đổi quan trọng trong chính sách đối ngoại của Căm-pu-chia theo hướng Mỹ. Vì vậy, Hoa Kỳ cần công khai công nhận đường biên giới Căm-pu-chia, theo yêu cầu của Xi-ha- núc mà không làm phật lòng quá mức người Thái Lan và người Việt Nam.
Ý tưởng của Bâu-lơ bị phản ứng mãnh liệt của Đại sứ Mỹ tại Băng Cốc và Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn. Ăn cây nào rào cây ấy, hai vị Đại sứ kia không muốn đồng nghiệp Bâu-lơ gây khó dề cho mình. Đại sứ Bân-cơ và phó của ông ta - Rô-be Cô-mơ công kích thói "của người phúc ta" của Bâu-lơ mãnh liệt hơn cả. Bộ trường Ngoại giao Đin Rát-xcơ quyết định triển khai nhiều cuộc hội đàm "thăm dò phản ứng" của nước chủ nhà khi Mỹ công khai thừa nhận đường biên giới của Căm-pu-chia. Hồi âm là những lời lẽ tiêu cực. Oa-sinh-tơn lưỡng lự lựa chọn giải pháp công khai thừa nhận hay im lặng bỏ qua đề nghị của Căm-pu-chia.
Chính do thái độ mập mờ của Oa-sinh-ton mà những con vi-rút Ve-su-vi-út cấy vào tư tưởng người Căm-pu- chia vẫn không phát huy được tác dụng gây bệnh - nghĩa là Phnôm Pênh im lặng đối với việc Mỹ tố cáo Việt Nam có dã tâm thôn tính lãnh thổ Căm-pu-chia.
Sự im lặng của Phnôm Pênh khiến các Tham mưu trưởng Liên quân ở Oa-sinh-tơn sốt suột và công phẫn, họ đề nghị Tổng thống tỏ rõ thái độ. Giôn-xơn lại cử EBơ- lách sang Phnôm Pênh khảo sát tình hình.
EBơ-lách vượt Đại Tây Dương tới xứ sở Tháp Chàm Ảng Co vào tháng chín và vị Đại sứ Bâu-lơ cử tướng Sác- lơ Goóc-ranđi tháp tùng vị Đặc sứ. E. Bơ-lách gặp Pen- nút - Thủ tướng mới của Căm-pu-chia.
E. Bơ-lách bày tỏ:
- Nước Mỹ duy trì lập trường không mở rộng cuộc chiến, nước Mỹ lo ngại người Việt Nam kéo chiến tranh sang Căm-pu-chia.
Pen-nút thẳng thắn một cách tàn bạo:
- Tôi có thể bảo đảm với các ngài rằng, Căm-pu-chia còn lo lắng về người Bắc Việt Nam hơn cả Chính phủ Mỹ.
EBơ-lách không có phản ứng đáng kể, chỉ chăm chú lắng nghe.
Pen-nút tiếp tục lời nói nhã nhặn mà có gang có thép:
- Chúng tôi lấy làm khó hiểu khi Chính phủ Mỹ bày tỏ thiện chí với Chính phủ chúng tôi, nhưng vẫn tiếp tục ủng hộ Khme Cray.
EBơ-lách chưa tìm được lời biện hộ thích hợp, mà cũng rất khó vì tay trót nhúng chàm. Viên tướng tháp tùng - Sác-lơ Coóc-ran đã hậu đậu đáp:
- Không có chuyện như thế!
Thủ tướng Pen-nút cười nụ, một nụ cười châm biếm chua chát. Câu trả lời vô liêm sỉ của viên tướng Mỹ khiến ông tỉnh ngộ hẳn. Người Mỹ đến Căm-pu-chia không phải với tấm lòng cởi mở và thành thực.
Tổng thống Giôn-xơn lại thất bại trong một cố gắng thăm dò, cố gắng tìm kiếm phương sách đảo ngược xu hướng chính trị ở Phnôm Pênh.
Do vậy, Tổng chỉ huy quân viễn chinh Mỹ ở Việt Nam chỉ có thể tổ chức những cuộc đánh lớn bằng không quân hoặc biệt kích dọc biên giới Căm-pu-chia. Phó tướng ABơ-ram đánh giá:
- Chỉ là tương đối!
Oét-mô-len hiểu ý ABơ-ram muốn nói gì. Hiện nay, tình hình Đông Nam châu Á khá ảm đạm. Nam Việt Nam và Lào bị chiến tranh tàn phá, dân chúng khổ cực. Thái Lan bị lôi vào cuộc chiến tranh vì quyền lợi của bọn quân phiệt độc tài, họ biến Tổ quốc thành ngành dịch vụ phục vụ chiến tranh, thành hàng không mẫu hạm trên đất liền cho máy bay B.52 hàng ngày cất cánh mang bom trút xuống các nước Đông Dương láng giềng. Riêng Căm-pu- chia vẫn nằm ngoài vòng bom đạn, nhưng chỉ có tính chất tương đối, Mỹ sẽ làm được điều Mỹ muốn.
*
Ngày 12 tháng 4 năm 1966, Mỹ bắt đầu sử dụng máy bay chiến lược hạng nặng B.52 ném bom rải thảm xuống đèo Mụ Giạ - một cửa ngõ đi vào con đường mòn Hồ Chí Minh.
Mỹ - Nguỵ quyết tâm chặt đứt con đường tiếp tế huyết mạch của ta.
Giữa năm 1966, ta mở mặt trận Đường 9 - bắc Quảng Trị, nhằm uy hiếp Quàn khu I của địch và bảo vệ đường Trường Sơn.
Tướng tư lệnh Sư đoàn lính thuỷ đánh bộ số 3 - Hốc- mứt hợp đồng với tướng tư lệnh Quân đoàn I nguy Hoàng Xuân Lắm điều động một vạn quân gồm lính thuỷ đánh bộ, pháo binh, thiết giáp..., thêm một vạn quân sẵn sàng ứng cứu, có sự chi viện mạnh mẽ của pháo bầy trên Hạm đội 7 dập dềnh ở vùng biển gần bờ và bom đạn của máy bay phản lực, kể cả B.52... thiết lập tập đoàn cứ điểm Tà Cơn - Hướng Hoá - Làng Vây, giáp biên giới Việt - Lào để bảo vệ tuyến phòng thủ Đường 9 và chốt chặt hành lang vận chuyển Trường Sơn của Bắc Việt, dưới quyền chỉ huy chung của đại tá Đê-vít-dao-di. Hậu cần phục vụ sáu ngàn quân đồn trú do vận tải đường không và đường biển chuyển tải qua Đông Hà.
Ngày 20 tháng 3 năm 1967, ta bố trí đại pháo 130 mi-li-mét ở Vĩnh Linh bắn phá dữ dội căn cứ Mỹ ở Cồn Tiên, Dốc Miếu. Mỹ hùng hổ phản pháo, nhưng tầm bắn không với tới mục tiêu; trong khi đó đạn pháo của ta rớt trúng nhà lính, nhà kho... Lính Mỹ cuống cuồng chạy xuống hầm cố thủ, gọi máy bay đến chi viện. Hàng đàn máy bay kéo tới, tốp F105 và F104 của không quân, tốp F8D và F3B của hải quân quần thảo ném bom, phóng rốc- két xuống trận địa pháo binh ta, nhưng là trận địa giả. Máy bay Mỹ chẳng phá huỷ được khẩu pháo nào của đôi phương, nhưng lại bị pháo cao xạ của lực lượng phòng không và súng bộ binh của Dân quân tự vệ bắn rơi hai chiếc.
Ta tiếp tục có những hoạt động quân sự khiến Bộ chỉ huy Mỹ - Nguy không phán đoán ra chiều hướng chính của những biến động náo nhiệt với quy mô nhỏ hoặc vừa trên khắp cả chiến trường nhưng không thành quy luật.
*
Tướng Hoàng Minh Thảo - Tư lệnh, Tướng Trần Thế Môn - Chính uỷ, tướng Nguyễn Hữu An - Sư trường.
Tướng Đặng Vũ Hiệp - Chú nhiệm chính trị... chỉ huy Bộ đội Tây Nguyên mở chiến dịch Đăk Tô, đánh phá căn cứ Sư đoàn 4 Mỹ ở Đăk Tô, dồn cuộc hành quân càn quét mang tên Mác Ac Tuya của địch vào thế đối phó bị động. Mười sáu Tiểu đoàn địch gồm ba Lữ đoàn Mỹ, một Chiến đoàn dù, một Trung đoàn và một Tiểu đoàn nguy bị căng ra đỡ, vo lại tránh và hút đến ứng cứu nơi nguy cấp.
Chiến dịch kéo dài suốt hai mươi ngày trên một không gian khoảng một ngàn ki-lô-mét vuông - từ cao điểm Ngok Bơ Biêng 1338 đến dãy Ngok Wan ở đông bắc, từ căn cứ Plây Cần ở tây bắc đến cao điểm 875 - "cái bẫy" mà về sau viên Tư lệnh sư đoàn 4 - Trung tướng Sác- lơ PSton mới chợt hiểu: "Việt cộng dụ lính Mỹ và đồng minh vào cái cối xay thịt ấy". Hãy liên tưởng chỉ riêng chiến địa này, một Tiểu đoàn Mỹ gồm ba trăm năm chục lính mà có tới hai trăm tám chục người bị thương vong. Trung tướng tư lệnh - Sác-lơ PSton bị ám ảnh bởi một "đối phương tinh quái" biết tận dụng "địa thế hiểm trở" đã bộc lộc tâm sự với MPhốt- sĩ quan tuỳ tùng:
- Không bao giờ đưa binh lính vào sâu trong rừng nữa!
Tổng chỉ huy quân viễn chinh Mỹ - Uy-liêm Oét- mô-lên đọc bản tường trình diễn biến trận đánh mà một bên lông mày mỗi lúc một nhướng cao, cuối cùng Oét- mô-len gõ ngón tay lên tờ báo cáo như muốn đánh bật từ đó ra một lời nhận định đúng đắn hoặc một câu hỏi cần giải đáp:
- Đăk Tô có thể có tầm quan trọng lớn hơn nếu nó là cú mở đầu cho một cuộc tiến công quy mô nơi nào đó ở Việt Nam?
*
Tiểu đoàn 99 - đơn vị pháo BM-M (loại pháo phản lực Ca-chiu-sa mười bảy nòng đặt trên ô tô cỡ đạn một trăm bốn mươi mi-li-mét, tầm bắn xa tám ngàn mét) có một sự đổi mới cực kỳ quan trọng; Phó Tổng tham mưu trưởng - Trần Sâm, Cục phó Cục nghiên cứu kỹ thuật - Hoàng Đinh Phu, các nhà khoa học - Trần Đại Nghĩa, Lê Văn Chiến... cải tiến BM-14 từ một trang bị nặng nề, cồng kềnh do xe kéo thành thứ vũ khí có thể khênh vác có tính năng cơ động cao, với tên mới là A-12, anh em pháo thủ đặt cho nó một cái tên thân mật, đặc trưng hơn; Ca-chiu-sa Việt Nam.
Hôm bắn thử A-12, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đến dự. Bác rất vui khi thấy đạn nổ đúng mục tiêu. Bác nhìn Thiếu tướng Tư lệnh binh chủng pháo binh Nguyễn Thế Lâm khen:
- Các chú bắn tốt. Phải chú ý tiết kiệm đạn!
Tư lệnh Nguyễn Thế Lâm trình bày:
- Thưa Bác! Các Đại đội bắn trình diễn hôm nay đều thuộc những đơn vị sắp lên đường vào Nam làm nhiệm vụ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh động viên:
- Pháo đạn nặng nề, mang vác cồng kềnh nên khi đi làm nhiệm vụ sẽ gặp nhiều khó khăn. Chú hãy chuyển lời Bác tới các chú ấy: Dù khó khăn đến mấy cũng phải kiên quyết vượt qua, hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Tiểu đoàn 99 đã làm vui lòng Bác. Đêm 27 tháng 2 năm 1967 Ca-chiu-sa Việt Nam trút sấm sét xuống sân bay Đà Nẵng diệt hơn một ngàn tên lính Mỹ, thiêu cháy chín mươi tư máy bay phản lực các loại, phá huỷ hai trăm xe quân sự...
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ - Mắc Na-ma-ra phàn nàn:
- Không có gì khó chịu bằng khi phải đối phó với cách đánh du kích này.
Tư lệnh quân viễn chinh Mỹ - Uy-liên Oét-mô-len tự nhủ:
- Không thể xem nhẹ tính năng động của Bắc Việt!
*
Mục tiêu mở chiến dịch Nậm Bạc của Pa-thét Lào và Miền Bắc là mở rộng vùng giải phóng từ Phong Sa Lỳ tới Luông Pha Băng; nhưng đặc biệt hơn, chiến dịch mang ý nghĩa làm phân tâm sự chú ý của Bộ chỉ huy quân viễn chinh Mỹ.
Tiểu đoàn công binh số 25 được giao nhiệm vụ phối hợp với dân công Lào - Việt làm công tác hậu cần phục vụ chiến dịch. Hàng được đưa từ Tây Bắc Việt Nam sang Tây Bắc Lào, từ ngã ba Pắc Lua theo sông Nậm U tới kho hậu cần tiền phương.
Sông Nậm U thuộc tỉnh Phong Sa Lỳ bắt nguồn từ miền núi giáp với Trung Quốc, chảy qua các thác gềnh hung dữ uốn lượn khúc khuỷu theo khe núi tới vùng Mường Ngòi, Nậm Bạc, Luông Pha Băng... dồn nước vào sông Mê Kông.
Suối Sốp Phùn chảy từ biên giới Tây Trang - Việt Nam đổ vào sông Nậm U tạo nên ngã ba Pắc Lua.
Sông Nậm U là tuyến đường mà Tiểu đoàn 25 khai thác để chuyển hàng. Phương tiện vận chuyển là những thuyền sắt ba khoang lắp động cơ đẩy và những thuyền độc mộc gắn máy đuôi tôm của công dân Lào tham gia vận tải từ Sốp Phùn tới ngã ba Pắc Lua.
Chiến dịch chưa mở màn nên các hoạt động phải giữ bí mật. Ban ngày, ngã ba Pắc Lua vắng lặng, thỉnh thoảng mới có người từ rẻo đường mòn trên lưng núi cao đi xuống hoặc trong rừng cây xanh rờn đi ra bờ sông. Các phương tiện vận chuyển trên sông nép mình bên bờ dưới tán lá cây yên tĩnh; hàng hoá xếp trong dãy nhà kho nằm ven rừng dọc bờ sông.
Ngã ba Pắc Lua yên tĩnh, dòng nước Nậm U xanh biếc lững lờ chảy, những ghềnh đá lô nhô, những khe hẻm hiểm trở nằm bất động trên bãi cát, dưới triền núi bên bờ sông u tịch. Thỉnh thoảng lại có tốp AD.6 của phái hữu Lào bay qua, chúng lên phía Mường Khoa, Phong Sa Lỳ oanh tạc tuyến đường do thanh niên xung phong Việt Nam đang xây dựng hoặc bắn vu vơ xuống những vệt đường mòn ven sông.
Màn đêm buông xuống, sự sống trên ngã ba Pắc Lua bừng tỉnh. Tiếng máy nố xinh xịch, tiếng cười nói râm ran, tiếng thúc gọi lạc giọng, những bước chân hối hả thình thịch. Dòng người vào kho, xuống bến tấp nập. Tiếng giục thêm hàng, tiếng chèo rời bến chốc chốc lại vang lên.
Những sự cố trên sông xảy ra: Tiểu đội ba trả hàng xong đúng được ngay buổi sớm sương mù, anh em động viên nhau quay về lấy hàng đi tiếp chuyến nữa. Thuyền gần vượt được thác Hai Dòng thì máy động lực dở chứng, không còn lực đẩy, thuyền bị xoay ngang, quân ta chưa kịp xử lý thuyền đã xô vào mỏm đá rồi gẫy làm hai. Cả Tiểu đội bị dòng nước chảy xiết cuốn trôi tới hơn một ki- lô-mét mới được nước đẩy dạt vào bờ; nhưng một thành viên của tiểu đội - anh Nguyễn Văn Lệ đã hi sinh vì dòng nước mạnh ném vào mỏm đá.
Chính trị viên Chí ngồi thuyền đi kiểm tra tuyến đường sông, thuyền lên tới đỉnh thác thì máy hỏng, nước xô thuyền lên mỏm đá giữa dòng sông, không có phương tiện thuỷ hỗ trợ, anh em đành ngồi thúc thủ nhịn đói, phơi gió Lào chờ thuyền đến cứu. Từ đó, cái thác quái ác ấy mang tên "Thác ông Chí".
Tiều đoàn 25 "làm ăn" thuận lợi cho tới ngày chiến dịch Nậm Bạc mở màn thì địch phát hiện ra tuyến vận chuyển hậu cần bằng đường sông Nậm U. Từng tốp máy bay AD6 của phái hữu Lào thay nhau tới bắn phá các trọng điểm; Ngã ba Pắc Lua, Cây số 49... Không lực Hoa Kỳ cũng tham gia ngăn chặn đường tiếp tế mang ý nghĩa sinh tử của ta, những chiếc F.105, F4H liên tục quần thảo nhưng vẫn không thay đổi nổi số phận quân địch ở Nậm Bạc. Lúc nguy cấp, thầy đành bỏ tớ, những quan chức Mỹ làm Cố vấn cho sĩ quan nguy Lào tót lên máy bay chuồn thẳng, mặc bọn nguy Lào vất vũ khí chạy toé sang Thái Lan, hoặc lủi trốn vào rừng.
Tổng chỉ huy Quân viên chinh Mỹ Uy-liem Oét- mô-len nhận được báo cáo của Ban tham mưu về thất thủ Nậm Bạc mà không sao phán đoán ra dụng tâm chính của đối phương mở chiến dịch này nhằm mục đích gì? Mở thông vùng giải phóng Bắc Lào - Bắc Việt Nam hay là đòn nghi binh cho một ý đồ quân sự hiểm ác khác?
*
Huyện Gio Linh nằm bên bờ nam sông Bến Hải là dải giới tuyến dưới quyền kiểm soát của Chính quyền Miền Nam, nhưng lòng dân lại hướng sang Miền Bắc - nơi đồng bào, đồng chí thời chống Pháp hào hùng đang sống và làm việc trong bầu không khí tự do, tự chủ.
Người dân chỉ muốn sống yên lành, muốn Nam Bắc một nhà, muốn người thân quen qua lại gặp nhau. Diệm - Nhu biết mình không được nhân dân ủng hộ nên ra sức chống phá tuyển cử thống nhất đất nước và mưu toan khuất phục nhân dân bằng những quốc sách bạo ngược, chúng cưỡng bức dân vào Ấp chiến lược, Khu trù mật để dễ bề khống chế và lung lạc ý chí. Chúng đóng quân ở Dốc Miếu, Cồn Tiên dùng làm công cụ đàn áp. Cảnh người chết, nhà cháy diễn ra hàng ngày.
Người dân Gio Linh buộc phải rời khỏi quê hương bán quán, một số bị lùa vào Ấp chiến lược, một số dạt sang bên kia sông Hiếu, một số may mắn thoát được sang bên bờ bắc sông Bến Hải. Những người Gio Linh kiên cường bất khuất không can tâm chịu để kẻ khác chà đạp quê hương, tàn phá cuộc sống hạnh phúc mà tạo hoá tặng cho mình. Con người sinh ra đã là bình đẳng.
Anh chị em du kích thôn Tám, xóm Vùng... bị bật sang Vĩnh Linh, đêm đêm vẫn vượt sông Bến Hải về Gio Linh diệt ác trừ gian và dẫn đường cho bộ đội đặc công qua sông Hiếu quấy rối Đông Hà, Cửa Việt...
Trần Thị Cúc là cô du kích dẫn đường thông minh và rất can đảm. Bác Tuyên, anh Long, anh Tuyền, chị Ngọc, cô Hân... là những du kích quân can trường, linh hoạt nhưng Trần Thị Cúc mới là một giao liên sắc xảo, trời phú cho cô một linh tính phán đoán tình huống khá nhạy bén. Cha mẹ và các em Cúc chạy không kịp nên bị dồn vào Ấp chiến lược. Sau một đêm hoạt động, gần sáng anh chị em lại vượt sông Bến Hải, sang Gio Linh nghỉ ngơi.
Cúc, Ngọc và Hân ở nhờ nhà ông bà Khoản. Ông bà Khoản là người xóm Tám lánh giặc sang Vĩnh Linh được Uỷ ban thị trấn Hồ Xá cấp đất, cho tre lá làm nhà. Thấy chị em du kích đi về vất vả, ông Khoản hỏi:
- Răng không bám trụ bên nớ, qua qua lại lại như ri mãi cực lắm.
Cúc vừa hí hoáy lau khẩu súng AK vừa đáp:
- Quê ta đằng trước là bãi cát đằng sau là cồn cát, bên phải bên trái chỉ thấy cát, xóm làng thành bình địa, ông bảo bọn con bám trụ nơi mô.
Ông Khoản:
- Mi thấy đấy, dân Vĩnh Mốc, Vĩnh Thuỷ, Vĩnh Long, Vĩnh Giang đang chuẩn bị phương án ngủ trong hầm, học trong hầm - Ông đưa tầm mắt qua đầu Cúc nhìn về phía chuồng lợn nói tiếp: - Bà con còn có kế hoạch nuôi lợn, nhốt bò dưới hầm. Huyện phổ biến phải đề phòng Diệm - Nhu tráo trở. Mỹ đưa vào miền Nam nhiều đại bác, máy bay lắm.
Có vẻ cô du kích không quan tâm tới tình huống ông Khoản đề cập, cô mải lo hoàn cảnh trước mắt:
- Đào hầm trên bãi cát nỏ được mô ông ơi! - Cúc đóng quy-lát súng đến roạt để đệm cho câu nói: - Xúc được một xẻng hất lên thì nó chảy xuống hai xẻng...
Ông Khoản cười hỏi:
- Sáng kiến mô rồi? Sống với cát mà nỏ biết tính cát thì sống răng nổi - Ông giới thiệu luôn cách khắc phục khó khăn: - Đổ đẫm nước vô mà xắn thì ngon như xúc vữa đặc, rồi xúc đến mô lấy gỗ chắn tới nớ; ghép gỗ thành hình chữ A rồi thì lấy lá hay ni lông phủ mái như lợp nhà, khi ấy tha hồ lèn cát lên trên. Hầm đủ sâu, đúng kiểu thì đạn đại bác rơi trúng cũng nỏ sợ.
Cúc giương súng làm động tác ngắm thử, hững hờ hỏi:
- Bọ ơi! Tre, gỗ lấy mô ra?
Ông Khoản thủ thỉ như giãi bày tâm sự trắc ẩn:
- Thời kỳ Diệm - Nhu triển khai chính sách chống cộng tố cộng, bắt dân "ly khai cộng sản", bức phụ nữ có chồng bỏ chồng để lấy lính ngụy, đốt nhà để ép dân vào sống trong ấp chiến lược..., nhiều người dỡ nhà đem cột kèo vùi dưới cát, nhà choa cũng vậy - Bất chợt ông phẩy tay tỏ ý bất cần, nói tiếp: - Bọn mi cứ lấy lên mà dùng. Còn người còn của, trước mắt hãy lo đánh cho hết giặc đã.
Đội du kích của Cúc về làng dựng hầm chữ A theo cách hướng dẫn của ông Khoản. Từ đó, họ bám trụ ở quê hương, khi nào thiếu gạo muối mới sang Vĩnh Linh xin.
Ngày xâm lược Mỹ ném bom miền Bắc, Vĩnh Linh sống dưới bom đạn, ông bà Khoản sơ tán về Vĩnh Trung, ở hầm những vẫn là cơ sở đi về của cô du kích Trần Thị Cúc và đồng đội. Họ bám quê hương để sống và chiến đấu. Đội du kích thôn Tám, xóm Vàng... là tai mắt của bộ đội đặc công nước khu vực Cửa Việt thuộc Trung đoàn 126 Đặc công Hải quân. Trung đoàn 126 có bốn phân đội. Họ ém quân rải rác trong các xã Vĩnh Mốc, Vĩnh Hiền. Vĩnh Trung và thường đi vào vùng địch hoạt động trong tuần tràng tối. Anh chị du kích đã dẫn đường cho Phân đội 2 đánh ngã ba Đại Độ, Phân đội 4 gài mìn làm hư hỏng cầu Đông Hà nhiều lần và thả thuỷ lôi tự tạo(1) đánh ca-nô chở hàng của địch chạy trên sông Hiếu.
(1) Ghép nhiều bánh thuốc nổ TNT thành khối nặng 20 kg, cài kíp, vỏ ngoài bằng tre. Thuỷ lôi trôi lơ lửng trong nước, ca nô chạy qua tạo áp lực nước gây kích nổ.
Một đêm vào đầu năm 1967, Trần Thị Cúc đang ở trong Gio Linh thì có người vào gọi ra Vĩnh Linh. Cô có nhiệm vụ giúp Phân đội đặc công nước làm công tác chuẩn bị đánh tàu vận tải của địch đậu ngoài khơi Biển Đông.
Công việc của tàu vận tải biển cỡ lớn là đưa hàng tới ngoài khơi Biển Đông, cách cảng Cửa Việt mười hải lý, các ca-nô từ trong cảng Cửa Việt sẽ ra lấy hàng chở vào bờ tiếp tế cho Cụm căn cứ Khe Sanh.
Các đội du kích Gio Linh từng hỗ trợ cho Trung đoàn 126 đặc công nước đánh đắm và làm bị thương tới 370 chiếc tàu chiến, tàu vận tải và ca-nô quanh khu vực Cửa Việt - Đông Hà.
Lần này, theo tin tình báo, địch dùng tàu vận tải một vạn tấn do thuỷ thủ Nam Hàn điểu khiển, đưa hàng cung đốn cho "thằng Khe Sanh" đang nheo nhóc vì hàng tiếp tế đã chậm lại thiếu.