Một phụ tá y tế tên là Yergunov, một kẻ rỗng tuếch nổi tiếng khắp vùng là kẻ khoác lác và nát rượu, đang trên đường trở về vào một buổi tối trong tuần lễ Giáng sinh từ làng Ryepino, nơi hắn đến để mua sắm vài thứ cho bệnh viện. Để có thể về nhà kịp thời gian và không bị muộn, vị bác sĩ đã cho hắn mượn con ngựa tốt nhất của mình.
Ban đầu trời yên tĩnh, nhưng đến tám giờ thì một trận bão tuyết dữ dội nổi lên, và khi chỉ còn cách nhà chừng bốn dặm, Yergunov hoàn toàn mất phương hướng.
Hắn không biết cách điều khiển xe, không biết đường, cứ thế cắm cổ đi bừa với hy vọng con ngựa sẽ tự tìm được lối về. Hai tiếng trôi qua; con ngựa đã kiệt sức, bản thân hắn thì lạnh cóng, và bắt đầu mơ hồ tưởng rằng mình không đang về nhà, mà lại quay ngược lại phía Ryepino. Nhưng cuối cùng, vượt qua tiếng gầm rú của cơn bão, hắn nghe thấy tiếng chó sủa từ đâu vang vọng lại, và một vệt đỏ mờ ảo hiện ra phía trước: dần dần, người ta có thể nhận ra bóng dáng của một chiếc cổng cao, tiếp đó là một hàng rào dài cắm đầy những chiếc đinh chĩa mũi lên trời, và bên kia hàng rào là chiếc cần vọt nghiêng ngả của một cái giếng. Gió thổi bay lớp sương tuyết trước mắt, và nơi từng là một vệt đỏ bỗng xuất hiện một ngôi nhà nhỏ lùn xùn với mái tranh dốc đứng. Trong ba ô cửa sổ nhỏ, có một ô được che kín bằng thứ gì đó màu đỏ đang được thắp sáng.
Đây là chốn nào? Yergunov sực nhớ rằng ở bên phải con đường, cách bệnh viện chừng ba dặm rưỡi hoặc bốn dặm, có quán rượu của Andrey Tchirikov. Hắn cũng nhớ ra rằng Tchirikov này, kẻ vừa bị sát hại bởi một số gã đánh xe trượt tuyết cách đây không lâu, đã để lại một người vợ và một cô con gái tên là Lyubka, người từng đến bệnh viện khám bệnh hai năm về trước. Quán trọ này có tiếng tăm chẳng lành, và việc ghé đến đây vào lúc đêm hôm muộn màng, nhất là lại đi một con ngựa không phải của mình, quả thực không phải không có rủi ro. Nhưng đành chịu, chẳng còn cách nào khác. Yergunov thọc tay vào ba lô lục tìm khẩu súng lục, rồi húng hắng ho một cách nghiêm nghị, gõ roi vào khung cửa sổ.
– Này! Có ai ở trong nhà không? – hắn gọi lớn. – Này, bà cụ ơi! Cho tôi vào sưởi nhờ chút!
Với một tiếng sủa khàn khàn, một con chó đen lăn tròn như một quả bóng dưới chân con ngựa, rồi đến một con màu trắng, rồi lại một con màu đen – chắc phải có tới cả chục con. Yergunov nheo mắt tìm xem con nào to nhất, vung roi quật một nhát hết sức bình sinh. Một con chó con chân dài, nhỏ xíu ngửa cái mõm nhọn hoắt lên cất tiếng tru chói tai, rợn ngóc.
Yergunov đứng gõ cửa ở khung cửa sổ một hồi lâu. Nhưng cuối cùng, lớp sương giá bám trên những tán cây gần ngôi nhà bỗng ánh lên sắc đỏ, và một bóng người phụ nữ trùm kín mít xuất hiện trên tay cầm chiếc đèn lồng.
– Cho tôi vào sưởi ấm với, thưa bà cụ – Yergunov nói. – Tôi đang lái xe đến bệnh viện thì bị lạc đường. Thời tiết thế này đây, Chúa phù hộ chúng ta. Đừng sợ; chúng tôi là người một nhà cả mà, thưa bà cụ.
– Tất cả người nhà của tôi đều đang ở trong nhà, và chúng tôi chẳng mời người lạ – bóng người đó lạnh lùng đáp. – Mà anh gõ cửa làm gì? Cổng có khóa đâu.
Yergunov đánh xe vào sân và dừng lại trước bậc thềm.
– Bảo người làm của bà ra dắt con ngựa của tôi vào đi – hắn nói.
– Tôi không phải bà cụ.
Và quả nhiên cô ta không phải một bà cụ. Khi cô ta giơ chiếc đèn lồng ra, ánh sáng chiếu vào khuôn mặt, và Yergunov nhìn thấy đôi mày đen, liền nhận ra đó là Lyubka.
– Bây giờ ở đây chẳng có người làm nào cả – cô ta vừa nói vừa bước vào nhà. – Người thì say rượu đang ngủ, kẻ thì đã đi Ryepino từ sáng rồi. Hôm nay là ngày lễ mà...
Khi đang buộc con ngựa vào nhà kho, Yergunov nghe thấy tiếng ngựa hí, và trong bóng tối, hắn nhận ra một con ngựa khác, đồng thời chạm phải một chiếc yên cương theo kiểu Cossack. Vậy là trong nhà chắc chắn còn có ai khác ngoài người đàn bà và cô con gái. Để chắc chắn hơn, Yergunov tháo yên ngựa của mình ra, và khi bước vào nhà, hắn mang theo cả túi đồ mua sắm lẫn chiếc yên.
Căn phòng đầu tiên hắn bước vào rất rộng, không khí vô cùng ấm áp, thoang thoảng mùi sàn nhà vừa được cạo rửa sạch sẽ. Một tên nông dân thấp gầy độ bốn tuổi, để chòm râu vàng ngắn, mặc chiếc áo sơ mi xanh đậm, đang ngồi bên chiếc bàn đặt dưới những bức thánh ảnh. Đó chính là Kalashnikov, một tên vô lại khét tiếng và là kẻ trộm ngựa, có bố và chú ruột mở một quán rượu ở Bogalyovka, chuyên tiêu thụ những con ngựa trộm cắp ở bất cứ đâu chúng có thể. Bản thân hắn cũng từng đến bệnh viện không chỉ một lần, không phải để chữa bệnh, mà là để gặp bác sĩ bàn chuyện ngựa xe – hỏi xem ông có con nào cần bán không, và ngài đây có muốn đổi con ngựa cái màu hồng bay của mình lấy một con ngựa hoạn màu vàng xám hay không. Lúc này, tóc hắn được chải pomade mượt mà và một chiếc hoa tai bằng bạc lấp lánh trên tai, trông hắn hoàn toàn mang dáng vẻ của một ngày hội. Vừa cau mày vừa trề môi dưới, hắn đang chăm chú nhìn vào một cuốn sách tranh quăn mép dày cộm. Một tên nông dân khác đang nằm dài trên sàn nhà gần cái lò sưởi; đầu, vai và ngực hắn ta bị phủ một tấm da cừu – có lẽ hắn đang ngủ; bên cạnh đôi bốt mới tinh có đính những miếng kim loại lấp lánh ở gót, là hai vũng nước tuyết tan sẫm màu.
Thấy viên phụ tá y tế bước vào, Kalashnikov liền chào.
– Phải đấy, thời tiết thế đấy – Yergunov vừa nói vừa dùng hai bàn tay xoa xoa đôi đầu gối đang tê cóng vì lạnh. – Tuyếtập ngập đến cổ; tôi ướt sũng cả người rồi, nói thật với anh đấy. Và tôi tin là khẩu súng lục của tôi cũng thế...
Hắn rút súng lục ra, ngắm nghía khắp lượt rồi lại nhét vào ba lô. Nhưng khẩu súng lục chẳng gây được chút ấn tượng nào; gã nông dân vẫn tiếp tục cắm cúi nhìn cuốn sách.
– Đúng là thời tiết quái quỷ... Tôi đã bị lạc đường, và nếu không nhờ lũ chó ở đây, tôi dám chắc là mình đã bỏ mạng rồi đấy chứ. Lại chẳng một phen rùm beng lên ấy chứ. Thế mấy người phụ nữ đâu rồi?
– Bà già đã đi Ryepino rồi, còn cô con gái đang chuẩn bị bữa tối... – Kalashnikov đáp.
Sự im lặng bao trùm. Yergunov, đang run lập cập và thở hồng hộc, hà hơi vào hai bàn tay, co ro lại và làm ra vẻ như mình đang rất lạnh và kiệt sức. Bên ngoài, tiếng lũ chó vẫn đang sủa gầm gừ đầy vẻ giận dữ. Thật là tiêu điều và quạnh quẽ.
– Anh ở Bogalyovka tới phải không? – hắn hỏi gã nông dân với giọng nghiêm khắc.
– Vâng, từ Bogalyovka.
Và để giết thời gian, Yergunov bắt đầu nghĩ về Bogalyovka. Đó là một ngôi làng lớn nằm sâu trong một thung lũng sâu thẳm, thế nên khi người ta lái xe dọc theo con đường cái quan vào một đêm trăng sáng, nhìn xuống khe núi tối thẳm rồi ngước lên bầu trời, có cảm giác như mặt trăng đang treo lơ lửng trên một vực thẳm không đáy và đó là tận cùng của thế giới. Con đường đi xuống vừa dốc, vừa quanh co, lại hẹp đến mức khi lái xe về phía Bogalyovka vì có dịch bệnh hay để tiêm phòng cho dân làng, người ta buộc phải hét lớn hết cỡ hoặc huýt sáo suốt dọc đường, bởi vì nếu lỡ gặp một cỗ xe đi ngược chiều lên thì sẽ không tài nào tránh qua được. Nông dân ở Bogalyovka nổi tiếng là những người làm vườn giỏi và những tên trộm ngựa cự phách. Họ có những khu vườn xanh tốt sum suê. Vào mùa xuân, cả ngôi làng ngập chìm trong sắc hoa anh đào trắng muốt, còn mùa hè họ bán anh đào với giá ba kopeck một xô. Người ta có thể trả ba kopeck rồi tự do hái bất cứ thứ gì mình thích. Phụ nữ ở đây rất xinh đẹp, trông đẫy đà, thích chưng diện, và chẳng bao giờ động chân động tay làm việc gì ngay cả vào những ngày thường, mà chỉ dồn hết thời gian ngồi trên bệ hiên trước nhà để bắt chí cho nhau.
Nhưng cuối cùng thì tiếng bước chân cũng vang lên. Lyubka, một thiếu nữ đôi mươi, chân trần và mặc chiếc váy đỏ, bước vào phòng... Cô liếc xéo Yergunov và đi qua đi lại hai bận từ đầu này sang đầu kia căn phòng. Cô không đi lại một cách bình thường, mà bước những bước ngắn uốn éo, ưỡn ngực về phía trước; rõ ràng là cô rất thích cảm giác đi chân đất lộp cộp trên sàn nhà vừa được lau sạch, và đã cố tình cởi giày ra.
Kalashnikov cười khúc khích vì điều gì đó và dùng ngón tay ra hiệu gọi cô lại. Cô tiến về phía bàn, và hắn chỉ cho cô xem bức tranh về Tiên tri Elijah, người đang điều khiển ba con ngựa sánh hàng, phi thẳng lên bầu trời. Lyubka tì khuỷu tay lên bàn; mái tóc tết vắt ngang vai — một bím tóc dài màu hạt dẻ buộc dải băng đỏ ở đuôi — suýt chạm cả xuống sàn. Cô cũng mỉm cười.
– Một bức tranh tuyệt vời, kỳ diệu – Kalashnikov nói. – Thật kỳ diệu – hắn lặp lại, và khua tay làm hiệu như thể hắn muốn giật lấy dây cương thay cho Elijah.
Gió gào rít trong lò sưởi; có tiếng gì đó gầm gừ và kêu chít chít như thể một con chó lớn đang bóp cổ một con chuột.
– Ức! Lũ quỷ sứ đang lẩn khuất ngoài kia kìa! – Lyubka thốt lên.
– Đó là gió đấy – Kalashnikov nói; và sau một khoảng lặng, hắn ngước mắt nhìn Yergunov và hỏi:
– Thế ý kiến uyên bác của ngài Osip Vassilyitch thế nào – trên đời này có quỷ hay không?
– Biết nói sao đây, anh bạn? – Yergunov nói, và nhún một bên vai. – Nếu suy luận theo khoa học thì đương nhiên là chẳng có quỷ sứ nào cả, vì đó chỉ là mê tín dị đoan; nhưng nếu nhìn nhận một cách đơn thuần, như anh và tôi lúc này đây, thì tóm lại là có quỷ... Tôi đã từng trải qua rất nhiều điều trong đời... Khi học xong, tôi phục vụ làm y tá trong quân đội thuộc một trung đoàn long kỵ binh, và dĩ nhiên tôi đã từng ra trận. Tôi có huy chương và huân chương của Hội Chữ Thập Đỏ, nhưng sau Hiệp ước San Stefano, tôi trở về Nga và vào làm việc cho hội đồng quản hạt Zemstvo. Và do tôi bôn ba khắp nơi, tôi có thể nói rằng mình đã chứng kiến nhiều điều hơn những gì người khác dám mơ tới. Tôi cũng từng tận mắt thấy quỷ; ý tôi không phải là loại quỷ có sừng có đuôi – điều đó thật nhảm nhí – mà nói cho chính xác là những thứ đại loại như vậy.
– Ở đâu? – Kalashnikov hỏi.
– Ở nhiều nơi khác nhau. Chẳng cần phải đi đâu xa. Năm ngoái tôi đã gặp hắn ở đây – xin vía đừng nhắc đến lúc nửa đêm – ngay gần quán trọ này đây. Tôi nhớ hồi đó mình đang lái xe đến Golyshino; tôi đến đó để tiêm chủng. Dĩ nhiên, như thường lệ, tôi đi xe đua hai bánh cùng một con ngựa, mang theo tất cả dụng cụ cần thiết, hơn nữa tôi còn có đồng hồ và đủ thứ linh tinh khác, thế nên tôi phải đề cao cảnh giác suốt dọc đường để phòng ngừa bất trắc. Có rất nhiều loại lang thang tứ xứ. Tôi đi tới khe núi Zmeinoy – quỷ tha ma bắt nó đi – và vừa định đi xuống thì bỗng nhiên có kẻ tiến lại gần tôi – một gã trông thật dữ tợn! Tóc đen, mắt đen, toàn bộ khuôn mặt trông như bị bôi nhọ nồi... Hắn tiến thẳng đến chỗ con ngựa và tóm lấy dây cương bên trái: "Đứng lại!". Hắn nhìn con ngựa, rồi nhìn tôi, sau đó buông dây cương ra, chẳng nói một lời tục tĩu nào, cất giọng hỏi: "Mày đi đâu thế?". Hắn nhe răng cười toe toét, và ánh mắt đầy vẻ ác độc.
– "À", tôi thầm nghĩ, "ngươi là một kẻ kỳ cục đây!". "Ta đi tiêm chủng bệnh đậu mùa", tôi đáp. "Và điều đó thì liên quan gì đến ngươi?". "Ồ, nếu thế thì", hắn nói, "tiêm cho ta đi". Hắn xắn tay áo lên và nhét sát vào mũi tôi. Dĩ nhiên, tôi chẳng thèm đôi co với hắn; tôi tiêm luôn cho hắn một nhát để tống quái đi cho rồi. Sau đó tôi nhìn lại chiếc dao trích của mình thì nó đã bị gỉ sét từ bao giờ.
Gã nông dân đang nằm ngủ gần lò sưởi bỗng trở mình và hất tấm da cừu ra; đến sự kinh ngạc tột cùng của Yergunov, hắn nhận ra đó chính là kẻ lạ mặt mà mình đã gặp ngày hôm ấy tại khe núi Zmeinoy. Tóc, râu và mắt của gã nông dân này đen như nhọ nồi; khuôn mặt ngăm đen; và để tô điểm thêm cho vẻ ngoài đó, trên má phải của hắn có một nốt ruồi đen to bằng hạt đậu lăng. Hắn nhìn viên phụ tá y tế với vẻ nhạo báng và lên tiếng:
– Ta có tóm lấy dây cương bên trái thật – điều đó đúng; nhưng chuyện tiêm chủng đậu mùa thì ngài bịa đặt rồi, thưa ngài. Và chẳng có một lời nào bàn về chuyện đậu mùa giữa chúng ta cả.
Yergunov lúng túng thấy rõ.
– Tôi có nói về anh đâu nào – hắn nói. – Nằm ngẫm lại đi, cứ nằm đấy mà bịa tiếp đi.
Gã nông dân da ngăm đen chưa từng đến bệnh viện bao giờ, và Yergunov cũng chẳng biết hắn là ai hay từ đâu tới; và giờ đây, ngầm quan sát hắn, hắn đinh ninh rằng gã này chắc chắn là một tên digan. Gã nông dân đứng dậy, vươn vai ngáp một tiếng thật to, rồi đi đến chỗ Lyubka và Kalashnikov, ngồi xuống cạnh họ, và gã cũng bắt đầu chăm chú nhìn vào cuốn sách. Khuôn mặt ngái ngủ của hắn dịu lại và thoáng hiện lên vẻ ghen tị.
– Này, Merik – Lyubka bảo hắn – hãy kiếm cho tôi những con ngựa như thế này xem, tôi sẽ đánh xe bay lên thiên đường cho mà xem.
– Kẻ có tội thì không thể lên thiên đường được đâu – Kalashnikov nói. – Chốn đó chỉ dành cho sự thánh thiện thôi.
Lúc đó Lyubka dọn bàn ăn lên, mang ra một tảng mỡ lợn lớn, dưa chuột muối, một đĩa gỗ đựng thịt luộc thái nhỏ, rồi một chiếc chảo rán với xúc xúc xích và bắp cải đang xèo xèo bốc khói. Một chai vodka pha lê cắt gọt tinh xảo, tỏa ra mùi vỏ cam ngào ngạt khắp căn phòng khi được rót ra, cũng được đặt lên bàn.
Yergunov cảm thấy khó chịu vì Kalashnikov và gã da ngăm Merik cứ trò chuyện với nhau mà chẳng thèm đếm xỉa gì đến hắn, hành động cứ như thể hắn không hề tồn tại trong căn phòng này vậy. Trong khi đó, hắn rất muốn bắt chuyện với họ, muốn khoác lác, muốn uống rượu, muốn ăn một bữa thật thịnh soạn, và nếu có thể thì muốn trêu ghẹo Lyubka một chút. Cô nàng cứ ngồi xuống sát bên hắn nửa tá lần trong suốt bữa tối, và làm như vô tình, cọ sát bờ vai gợi cảm của mình vào người hắn rồi lướt những ngón tay qua đôi hông nở nang. Cô là một thiếu nữ khỏe mạnh, năng nổ, luôn miệng cười nói và chẳng bao giờ chịu ngồi yên: cô vừa ngồi xuống lại đứng lên, và khi ngồi thì cứ xoay hết mặt này đến mặt khác về phía người bên cạnh như một đứa trẻ hiếu động, chẳng bao giờ quên cọ khuỷu tay hay đầu gối vào người hắn.
Hắn cũng bực mình vì mấy gã nông dân chỉ uống mỗi người một ly rồi thôi, khiến hắn cảm thấy ngượng ngùng khi phải uống một mình. Nhưng dù sao đi nữa, hắn cũng không kiềm chế được mà nốc liền ly thứ hai, rồi ly thứ ba, và ăn sạch chỗ xúc xích. Hắn đành phải hạ mình nịnh bợ đám nông dân, cốt sao để họ coi hắn là người một nhà thay vì cứ giữ khoảng cách lạnh lùng.
– Các cậu quả là một lũ trai tráng cừ khôi ở Bogalyovka đấy! – hắn vừa nói vừa lắc đầu ra chiều tán thưởng.
– Cừ khôi ở điểm nào cơ chứ? – Kalashnikov gặng hỏi.
– Thì... chuyện ngựa xe chẳng hạn. Toàn mấy tay ăn trộm cự phách ấy chứ!
– Hừm! Cừ khôi với chả không. Chẳng qua chỉ là một lũ trộm cắp với nát rượu thôi. —
– Thời hoàng kim của chúng qua lâu rồi, giờ hết thời rồi – Merik nói sau một khoảng lặng. – Giờ thì tụi nó chỉ còn mỗi mình lão Filya, mà lão ấy lại bị mù rồi còn đâu.
– Phải, chẳng còn ai ngoài Filya nữa – Kalashnikov thở dài nói. – Tính ra thì lão ta cũng phải bảy mươi tuổi rồi đấy; cái lũ định cư người Đức đã đánh hỏng một con mắt của lão, còn con mắt kia thì nhìn chẳng rõ nữa rồi. Bị cườm thủy tinh thể cả. Hồi xưa, ngài cảnh sát trưởng vừa nhìn thấy lão là phải thét lên ngay: "Này, đồ Shamil kia!" và tất cả dân làng đều gọi lão bằng cái tên đó – khắp nơi người ta đều gọi lão là Shamil; thế mà giờ đây người ta chỉ gọi lão bằng cái tên Filya Một Mắt. Nhưng lão từng là một gã trai tráng cừ khôi đấy! Bố của Lyuba, Andrey Grigoritch, cùng lão đã từng đột nhập vào Rozhnovo trong một đêm – lúc bấy giờ có các trung đoàn kỵ binh đồn trú ở đó – và nẫng đi chín con ngựa của lính, toàn là những con đẹp nhất. Chúng chẳng hề sợ hãi tên lính canh nào cả, và đến sáng hôm sau đem bán toàn bộ số ngựa đó với giá hai múp rúp cho tay digan Afonka. Phải! Thế mà ngày nay, có kẻ lén lút dắt đi được một con ngựa khi người chủ của nó đang say khướt hoặc ngủ mê mệt, chẳng có chút kính sợ Chúa nào, sẵn sàng lột luôn cả đôi bốt của một gã say rượu rồi chuồn thẳng một mạch một trăm năm mươi dặm cùng con ngựa, ra chợ mặc cả cò kè như một tên Do Thái, cho đến khi bị cảnh sát tóm cổ, đúng là một tên ngốc. Chẳng có gì là hay ho cả; đơn giản chỉ là một nỗi ô nhục! Phải nói là một lũ người tầm thường hết chỗ nói.
– Thế còn Merik thì sao? – Lyubka hỏi.
– Merik không phải người xứ ta – Kalashnikov đáp. – Hắn là người Kharkov ở Mizhiritch. Nhưng quả thực hắn là một kẻ gan lược, điều đó không thể phủ nhận được; phải thừa nhận hắn là một gã trai tráng cừ khôi.
Lyubka liếc nhìn Merik đầy vẻ ranh mãnh và vui thích, rồi cất giọng:
– Chẳng phải tự dưng mà người ta dìm cổ hắn xuống lỗ băng đâu nhỉ.
– Thế là thế nào? – Yergunov hỏi.
– Chuyện là thế này... – Merik vừa nói vừa cười lớn. – Lão Filya trộm ba con ngựa của đám tá phú Samoylenka, thế rồi chúng đổ vỏ lên đầu tôi. Có mười tên tá điền ở Samoylenka, cộng thêm đám người làm nữa là tổng cộng ba mươi tên, và toàn bộ bọn họ đều theo giáo phái Molokan... Thế là một tên trong số chúng bảo tôi ở ngoài chợ: "Đến xem cái này đi, Merik; chúng tôi mới mang mấy con ngựa từ hội chợ về đây này". Dĩ nhiên là tôi thấy tò mò rồi. Tôi bước đến chỗ chúng, thế là cả đám bọn chúng, tròn ba mươi tên, trói quặt tay tôi ra sau lưng rồi lôi xềnh xệch ra bờ sông. "Chúng tao sẽ cho mày xem những con ngựa đẹp tuyệt vời", chúng nói thế. Đã có sẵn một cái lỗ băng ở đó từ trước; chúng khoét thêm một cái nữa cách đó bảy thước. Sau đó, chắc chắn rồi, chúng lấy một sợi dây thừng luồn cáiòng lọng vào nách tôi, rồi buộc một khúc gậy cong vào đầu bên kia, đủ dài để chạm tới cả hai cái lỗ. Chúng thọc cái gậy xuống rồi kéo qua. Tôi tõm ngay xuống lỗ băng trong nguyên vẹn bộ dạng ấy, cả áo khoác lông lẫn đôi bốt cao cổ, trong khi bọn chúng đứng đó xô đẩy tôi, đứa dùng chân, đứa dùng gậy, rồi kéo tôi trôi dưới lớp băng và lôi lên ở cái lỗ bên kia.
Lyubka rùng mình co rúm vai lại.
– Ban đầu tôi bị sốt rét vì lạnh – Merik kể tiếp – nhưng khi chúng kéo tôi lên thì tôi hoàn toàn bất động, nằm bẹp dí trên tuyết, còn đám theo đạo Molokan thì đứng vây quanh dùng gậy quật liên tục vào đầu gối và khuỷu tay tôi. Đau đớn khủng khiếp. Chúng đánh chán chê rồi bỏ đi... và mọi thứ trên người tôi đều đã đông cứng lại, quần áo phủ đầy băng tuyết. Tôi gượng đứng dậy nhưng chẳng thể nhích nổi người. Tạ ơn Chúa, có một người phụ nữ đi xe qua đã cho tôi đi nhờ một đoạn.
Trong khi đó Yergunov đã nốc liền năm sáu ly vodka; lồng ngực hắn cảm thấy nhẹ nhõm hơn, và hắn lại khao khát được kể một câu chuyện kỳ lạ, phi thường nào đó để chứng tỏ rằng bản thân hắn cũng là một gã trai gan dạ và chẳng sợ trời đất là gì.
– Để tôi kể cho các anh nghe chuyện đã xảy ra với chúng tôi ở tỉnh Penza nhé... – hắn bắt đầu mở lời.
Không biết vì hắn đã uống quá nhiều và ngà ngà say, hay có lẽ vì hắn đã hai lần bị vạch trần chuyện nói dối, mà đám nông dân chẳng thèm đếm xỉa gì đến hắn, thậm chí còn ngưng cả việc trả lời những câu hỏi của hắn. Tệ hơn thế, họ buông thả sự suồng sã ngay trước mặt hắn – điều khiến hắn cảm thấy khó chịu và lạnh sống lưng, và điều đó có nghĩa là họ hoàn toàn phớt lờ sự hiện diện của hắn.
Kalashnikov mang phong thái đĩnh đạc của một người điềm tĩnh và khôn ngoan; hắn nói năng có trọng lượng, và làm dấu thánh ngang miệng mỗi khi ngáp, chẳng ai có thể ngờ rằng đây lại là một tên trộm, một kẻ trộm máu lạnh từng cướp bóc những con người khốn khổ, từng hai lần ngồi tù và bị cộng đồng kết án lưu đày sang Siberia, nhưng đã được bố và chú ruột – những kẻ cũng đểu cáng và trộm cắp chẳng kém gì hắn – dùng tiền chuộc tội. Merik thì ra dáng một gã tay anh chị cộm cán. Hắn thấy Lyubka và Kalashnikov đang ngưỡng mộ mình, liền tự cho mình là một gã trai tráng xuất chúng, chống hai tay lên hông, ưỡn ngực hoặc vươn người khiến chiếc ghế dài dưới thân kêu cót két...
Sau bữa tối, Kalashnikov cầu nguyện trước bức thánh ảnh mà vẫn ngồi nguyên trên ghế, rồi bắt tay với Merik; gã kia cũng cầu nguyện và bắt tay lại với Kalashnikov. Lyubka dọn dẹp bàn ăn, rắc lên bàn một ít bánh quy mùi bạc hà, hạt dẻ khô và hạt bí ngô, rồi đặt hai chai rượu vang ngọt lên.
– Cầu xin vương quốc thiên đường và sự bình yên vĩnh cửu đến với Andrey Grigoritch – Kalashnikov nói, cụng ly với Merik. – Khi ông ấy còn sống, chúng ta thường tụ họp ở đây hoặc ở nhà người em trai Martin của ông ấy, và – chao ôi! chao ôi! đúng là những con người ấy, những câu chuyện ấy! Thật là những cuộc trò chuyện đáng nhớ! Lão Martin từng ở đây, rồi cả Filya, và Fyodor Stukotey... Mọi thứ đều được làm ra ra trò ra trống, đều có quy củ cả. Và chúng ta đã vui biết bao! Quả thực là rất vui, rất vui!
Lyubka bước ra ngoài và chẳng mấy chốc quay trở lại với chiếc khăn choàng đầu màu xanh lục và chuỗi hạt cườm.
– Nhìn này, Merik, món quà Kalashnikov mua cho em hôm nay đấy – cô nói.
Cô soi mình trong gương, hất đầu mấy lần cho chuỗi hạt cườm kêu lanh canh. Và rồi cô mở một chiếc rương ra bắt đầu lôi ra, đầu tiên là một chiếc váy vải bông in hoa đỏ và xanh, tiếp đến là một chiếc váy đỏ có diềm xếp nếp kêu sột soạt lạo xạo như giấy, rồi đến một chiếc khăn trùm đầu mới tinh màu xanh đậm thêu nhiều màu – tất cả những món đồ này cô đều giơ lên khoe và khua tay múa chân, cười khúc khích như thể đang kinh ngạc vì mình lại có được những báu vật nhường ấy.
Kalashnikov lên dây đàn balalaika rồi bắt đầu gảy, nhưng Yergunov chẳng thể nhận ra hắn đang hát bài gì, và không biết đó là giai điệu vui tươi hay sầu thảm, bởi vì có lúc khúc ca nghe thê thiết đến mức hắn muốn khóc, nhưng ngay khoảnh khắc tiếp theo nó lại trở nên rộn rã. Merik bất chợt chồmm dậy và bắt đầu giậm gót chân liên hồi xuống đúng một chỗ, rồi vừa khua tay vừa nhún nhảy di chuyển bằng gót chân từ cái bàn đến lò sưởi, từ lò sưởi đến chiếc rương, rồi hắn bật tung người lên như thể vừa bị ong đốt, vỗ hai gót bốt vào nhau giữa không trung, rồi bắt đầu xoay vòng vòng trong tư thế khom người ngồi xổm. Lyubka vung cả hai tay, thét lên một tiếng tuyệt vọng rồi lao theo sau hắn. Ban đầu cô di chuyển lượn lờ như một con rắn, làm như muốn rình mò tiếp cận ai đó và đánh úp từ phía sau. Cô gõ nhịp nhanh thốc bằng đôi chân trần y hệt như Merik đã làm với gót đôi bốt, rồi cô xoay tít như một con quay và khom người xuống, chiếc váy đỏ xòe bồng ra như một cái chuông. Merik, trừng mắt nhìn cô đầy vẻ giận dữ và nhe răng cười nhe nhởn, lao về phía cô trong tư thế khom người ngồi xổm y như muốn nghiền nát cô bằng đôi chân đáng sợ của mình, trong khi cô bật tung người dậy, ngả đầu ra sau và khua hai tay như cánh chim lớn, lướt thướt bay bổng khắp căn phòng mà hầu như chẳng chạm chân xuống sàn...
– Thật là một ngọn lửa sống! – Yergunov thầm nghĩ khi ngồi trên chiếc rương và dõi theo điệu nhảy. – Thật là nhiệt huyết! Có hy sinh tất cả vì cô ta thì vẫn còn quá ít...
Và hắn cảm thấy tiếc nuối vì bản thân chỉ là một tay phụ tá y tế chứ không phải một gã nông dân bình thường, vì hắn mặc một chiếc áo khoác ngắn và đeo một chiếc chìa khóa mạ vàng thay vì chiếc áo sơ mi xanh thắt dải bện quanh eo. Khi ấy hắn đã có thể hiên ngang cất tiếng hát, nhảy múa, vòng tay ôm lấy Lyubka giống như Merik đã làm...
Những tiếng gõ nhịp dồn dập, tiếng hò hét và tiếng reo hò làm cho đám bát đĩa trong tủ kêu lanh keng và ngọn nến chập chờn nhảy múa.
Sợi chỉ đứt tung và những hạt cườm văng tung tóe khắp sàn nhà, chiếc khăn choàng xanh tuột khỏi đầu, và Lyubka hóa thành một đám mây đỏ đang lướt vút qua chớp lóe đôi mắt đen láy, và có cảm giác như chỉ một giây nữa thôi là tay chân của Merik sẽ rụng rời ra hết.
Nhưng cuối cùng Merik cũng giậm chân một cú chốt hạ rồi đứng sững lại như hóa đá. Kiệt sức và thở không ra hơi, Lyubka ngã gục vào ngực hắn, tựa người vào hắn như tựa vào một thân cây, và hắn vòng tay ôm lấy cô, nhìn sâu vào mắt cô đầyâu yếm và vỗ về, cứ như thể đang đùa cợt:
– Ta sẽ tìm xem chỗ tiền của mụ già nhà mi giấu ở đâu, ta sẽ cho mụ ta chầu Diêm Vương và cắt cổ mi luôn, rồi sau đó ta sẽ phóng hỏa đốt trụ quán trọ này... Mọi người sẽ tưởng mi đã bỏ mạng trong đám cháy, còn với số tiền của mi, ta sẽ chuồn đến Kuban. Ta sẽ chăn nuôi những đàn ngựa và bầy cừu bạt ngàn...
Lyubka không đáp lời, chỉ nhìn hắn với vẻ mặt đầy tội lỗi và cất tiếng hỏi:
– Ở Kuban có thích lắm không anh, hở Merik?
Hắn không nói gì, bước đến chiếc rương ngồi xuống và chìm đắm trong suy tư; rất có thể hắn đang mơ về miền đất Kuban.
– Đến lúc tôi phải đi rồi – Kalashnikov đứng dậy nói. – Lão Filya chắc đang đợi tôi đấy. Chào cô nhé, Lyuba.
Yergunov bước ra sân để canh chừng không cho Kalashnikov dắt mất con ngựa của mình. Cơn bão tuyết vẫn chưa chịu dừng lại. Những đám mây trắng đang trôi bồng bềnh khắp sân, những chiếc đuôi dài của chúng bám víu vào lớp cỏ dại và bụi cây, trong khi ở phía bên kia hàng rào ngoài đồng trống, những người khổng lồ mặc áo choàng trắng với ống tay áo rộng đang cuồng nhiệt quần thảo, ngã rạp xuống mặt đất rồi lại chồm dậy khua tay múa chân chiến đấu. Và gió kìa, gió thổi lồng lộng! Những thân cây bạch dương và anh đào trụi lá, không chịu nổi những cái vuốt ve thô bạo của nó, cúi rạp sát đất và gào thét: "Lạy Chúa, vì tội lỗi gì mà Ngài lại trói buộc chúng con vào mặt đất thế này và chẳng chịu buông tha?".
– Ngựa đứng! – Kalashnikov nghiêm giọng ra lệnh, rồi trèo lên yên ngựa; một cánh cổng mở toang, bên cạnh là một đống tuyết dày cộm. – Nào, đi thôi! – Kalashnikov thét lên. Con ngựa lùn chân ngắn của hắn lồng lên, chìm nghỉm bụng xuống đống tuyết ngay tức khắc. Kalashnikov trắng phau một màu tuyết, rồi chẳng mấy chốc khuất dạng cùng con ngựa.
Khi Yergunov quay trở lại phòng, Lyubka đang bò lê la trên sàn nhà để nhặt lại mấy hạt cườm; Merik đã không còn ở đó nữa.
– Một cô nàng tuyệt vời! – Yergunov thầm nghĩ khi ngả lưng xuống chiếc ghế dài và lấy áo khoác kê đầu. – Ồ, phải chi không có mặt tên Merik ở đây thì hay biết mấy.
Lyubka khiêu khích hắn bằng những cử động bò trườn trên sàn ngay cạnh chiếc ghế dài, và hắn nghĩ rằng nếu không vướng tên Merik thì chắc chắn hắn đã chồm dậy ôm chầm lấy cô ta, và rồi chuyện gì đến sẽ phải đến. Đúng là cô ta chỉ mới là một thiếu nữ, nhưng chắc gì đã còn trong trắng; và giả sử có thế đi chăng nữa – thì hà cớ gì phải câu nệ lễ giáo trong một cái ổ trộm cắp cơ chứ? Lyubka nhặt xong chuỗi hạt rồi bước ra ngoài. Ngọn nến cháy lụi dần và bén vào mẩu giấy lót trong chân nến. Yergunov đặt súng lục và hộp diêm sang bên cạnh rồi thổi tắt nến. Ngọn đèn trước bàn thờ chập chờn hắt bóng khiến mắt hắn nhức nhối, những đốm sáng nhảy múa trên trần nhà, trên sàn nhà, trên chiếc tủ chạn, và thoắt ẩn thoắt hiện trong số đó là hình ảnh Lyubka đẫy đà, ngực nở nang: lúc thì cô xoay tít như con quay, lúc lại kiệt sức thở dốc...
– Ồ, phải chi lũ quỷ bắt quách tên Merik ấy đi cho khuất mắt – hắn thầm nghĩ.
Ngọn đèn nhỏ lóe lên lần cuối, xèo xèo rồi tắt ngấm. Ai đó, chắc hẳn là Merik, đã bước vào phòng và ngồi xuống chiếc ghế dài. Hắn nhả khói tẩu thuốc, và trong chốc lát ánh lửa hắt lên gò má sẫm màu có vết sẹo của hắn. Cổ họng Yergunov bị kích thích bởi thứ khói thuốc lá nồng nặc đến kinh hoàng.
– Thứ thuốc lá quái gì mà hôi thối thế – quỷ tha ma bắt nó đi! – Yergunov càu nhàu. – Làm tôi phát nôn lên được.
– Tôi trộn thuốc lá với bông yến mạch đấy – Merik đáp sau một khoảng lặng. – Tốt cho phổi hơn.
Hắn rít thuốc, khạc nhổ rồi lại bước ra ngoài. Nửa tiếng trôi qua, bỗng có ánh đèn lóa lên ngoài hành lang. Merik xuất hiện trong bộ áo khoác và đội mũ, theo sau là Lyubka trên tay cầm ngọn nến.
– Ở lại đi, Merik – Lyubka cất giọng nài nỉ.
– Không, Lyuba, đừng giữ tôi.
– Nghe này, Merik – Lyubka nói, giọng cô trở nên mềm mại và dịu dàng. – Em biết anh sẽ tìm ra chỗ tiền của mẹ, rồi sẽ ra tay với cả hai mẹ con em, sau đó cao chạy xa bay đến Kuban để yêu những cô gái khác, nhưng mặc xác anh đi. Em chỉ xin anh một điều thôi, người yêu hứa với em đi: hãy ở lại!
– Không, tôi muốn đi tìm kiếm những cuộc vui... – Merik vừa nói vừa thắt lưng.
– Nhưng anh đi bằng gì chứ... Anh đến đây bằng hai chân cơ mà; anh lấy phương tiện gì mà đi?
Merik cúi người xuống sát tai Lyubka thì thầm thứ gì đó; cô liếc nhìn ra cửa và cười khúc khích qua làn nước mắt.
– Hắn đang ngủ say như chết rồi, cái đồ quỷ kiêu căng ngạo mạn ấy... – cô nói.
Merik ôm chầm lấy cô, hôn một cách ngấu nghiến rồi bỏ đi. Yergunov nhét vội khẩu súng lục vào túi, chồm dậy và đuổi theo sau hắn.
– Tránh đường ra! – hắn quát lên với Lyubka, người đang vội vã cài then cửa ra vào và đứng chắn ngang lối đi. – Để tôi qua! Cô đứng cản đường này làm gì?
– Anh ra ngoài làm gì chứ?
– Ra xem con ngựa của tôi thế nào.
Lyubka ngước nhìn hắn bằng ánh mắt ranh mãnh và ve vãn.
– Xem làm gì cơ chứ? Anh ngắm em còn hơn kìa... – cô nói, rồi cúi người xuống chạm ngón tay vào chiếc chìa khóa đồng hồ mạ vàng treo lủng lẳng trên dây đeo của hắn.
– Tránh ra cho tao, nếu không hắn dắt mất ngựa của tao bây giờ – Yergunov gầm lên. – Tránh ra, đồ quỷ cái! – hắn thét lên, và giáng cho cô một cú đánh giận dữ vào bả vai, dồn toàn lực ưỡn ngực đẩy cô ra khỏi cửa, nhưng cô vẫn bám chặt lấy chốt cửa vững chãi như một cây sắt.
– Tránh ra! – hắn hét lên, thở hồng hộc vì kiệt sức. – Hắn dắt con ngựa đi mất bây giờ, bảo cho cô biết thế!
– Việc gì phải lo? Hắn không lấy đâu. – Vừa thở hổn hển vừa xoa bả vai đang nhức buốt, cô lại ngước nhìn hắn, mặt ửng đỏ lên và cười rúc rích. – Đừng đi đâu cả, anh yêu nhé – cô nói. – Ở một mình em buồn lắm.
Yergunov nhìn sâu vào mắt cô, chần chừ giây lát rồi vòng tay ôm lấy cô; cô không hề phản kháng.
– Nào, thôi mấy trò mèo đi; để tôi ra ngoài – hắn van nài. Cô im lặng không nói.
– Lúc nãy tôi vừa nghe thấy cô nói – hắn bảo – bảo với thằng Merik rằng cô yêu nó cơ mà.
– Mặc kệ chứ... Trái tim em biết ai là người em yêu mà.
Cô lại đặt ngón tay lên chiếc chìa khóa và thì thầm: – Đưa cho em cái này đi.
Yergunov tháo chiếc chìa khóa ra đưa cho cô. Bỗng nhiên cô vươn cổ lắng tai nghe với vẻ mặt nghiêm nghị, và biểu cảm ấy khiến Yergunov thấy lạnh lùng và đầy mưu mô; hắn sực nhớ đến con ngựa của mình, bèn đẩy phăng cô ra và lao vút ra sân. Trong chuồng, một con lợn đang ngủ gật kêu éc éc đều đặn đến phát bực và một con bò đang húc sừng vào vách. Yergunov quẹt diêm và nhìn thấy con lợn, con bò, cùng đám chó lao nhao xông về phía hắn khi thấy ánh sáng, nhưng tuyệt nhiên không có bóng dáng con ngựa đâu cả. Vừa hò hét khua tay xua đuổi bấy nhiêu con chó, vừa vấp ngã dúi dụi qua các đống tuyết, hắn lao ra tận cổng và ngẩn ngơ nhìn vào màn đêm đen đặc. Hắn căng tròn mắt hết mức có thể, chỉ thấy tuyết bay mịt mù và những bông tuyết cấu thành đủ mọi hình thù kỳ dị; chốc chốc lại thấy khuôn mặt trắng bệch cười nhạo của một thây ma nhô ra từ bóng tối, lúc thì một con ngựa trắng phi qua chở theo một nữ chiến binh Amazon mặc váy muslin, lúc lại thấy một đàn thiên nga trắng bay vút qua đầu... Run rẩy vì tức giận và lạnh giá, chẳng biết phải làm sao, Yergunov rút súng nổ liền mấy phát về phía lũ chó nhưng chẳng trúng con nào; rồi hắn điên cuồng lao ngược trở lại nhà.
Khi bước vào sảnh, hắn nghe rõ mồn một tiếng ai đó đang lủi nhanh ra khỏi phòng và đóng sầm cửa lại. Căn phòng tối thui. Yergunov đẩy cửa; cửa đã bị khóa trái. Sau đó, vừa quẹt diêm liên hồi hết que này đến que khác, hắn vừa lao ngược ra hiên, từ hiên vào nhà bếp, và từ nhà bếp tiến vào một căn phòng nhỏ nơi có những chiếc váy xếp nếp treo kín tường, sảng khoảng mùi hoa ngô và cây thì là, cùng một chiếc giường với cả một "núi" gối chất cao ngất ngưởng nằm ở góc phòng gần lò sưởi; đây chắc hẳn là phòng của mụ già. Từ đó hắn tiếp tục đi qua một căn phòng nhỏ khác, và ở đây hắn nhìn thấy Lyubka. Cô đang nằm trên một chiếc rương, đắp chiếc chăn bông chắp vá sặc sỡ, làm bộ như đang ngủ say. Một ngọn đèn dầu nhỏ đang thắp sáng leo lét ở góc phòng phía trên đầu giường.
– Con ngựa của tôi đâu? – Yergunov hỏi.
Lyubka nằm im bất động.
– Con ngựa của tôi đâu, tôi đang hỏi cô đấy? – Yergunov lặp lại với giọng càng lúc càng nghiêm ngặt hơn, đồng thời giật phăng tấm chăn ra khỏi người cô. – Tao đang hỏi mày đấy, đồ quỷ cái! – hắn quát.
Cô chồm người dậy quỳ sụp xuống, một tay túm chặt chiếc áo lót trong khi tay kia cố với lấy tấm chăn, thu mình sát vào bức tường... Cô nhìn Yergunov bằng ánh mắt đầy căm ghét và sợ hãi, như một con thú hoang mắc bẫy, thận trọng quan sát từng cử động nhỏ nhất của hắn.
– Nói cho tôi biết con ngựa ở đâu, nếu không tôi đánh chết tươi bây giờ – Yergunov gầm lên.
– Cút đi, cái đồ bẩn thỉu đốn mạt này! – cô thều thào bằng giọng khàn đặc.
Yergunov chộp lấy cổ áo lót của cô và giật rách toạc. Và rồi hắn không thể kìm chế được bản thân nữa, dồn toàn lực ôm chầm lấy cô thiếu nữ. Nhưng với tiếng rít lên đầy phẫn nộ, cô luồn lách thoát khỏi vòng tay hắn, và vung một bên tay tự do – tay kia vướng víu trong mớ áo rách – giáng cho hắn một cú đấm trời giáng vào đầu.
Đầu óc hắn quay cuồng vì đau đớn, tai ù đi kêu reng réc, hắn lảo đảo lùi lại phía sau, và đúng lúc đó lại nhận thêm một cú đấm nữa – lần này là vào thái dương. Vừa lảo đảo vừa bám víu vào khung cửa để không bị ngã, hắn lết được về căn phòng để đồ của mình và ngả lưng xuống chiếc ghế dài; sau đó, sau khi nằm bất động một lát, hắn móc hộp diêm ra khỏi túi và bắt đầu quẹt liên hồi hết que này đến que khác mà chẳng vì mục đích gì cả: quẹt lên, thổi tắt rồi vứt xuống gầm bàn, cứ thế cho đến khi sạch sành sanh không còn một que diêm nào.
Trong khi đó, bầu trời bên ngoài bắt đầu ngả sang màu xanh ngắt, lũ gà trống gáy ran, nhưng đầu hắn vẫn âm ỉ nhức buốt, và trong tai vang lên những âm thanh ồn ào tựa hồ như hắn đang ngồi dưới một gầm cầu đường sắt và nghe tiếng tàu hỏa chạy rầm rập qua đỉnh đầu. Hắn chật vật tròng chiếc áo khoác và đội mũ lên đầu; yên ngựa và túi đồ mua sắm đều không tìm thấy đâu, ba lô thì trống rỗng: hèn chi mà lúc hắn từ ngoài sân bước vào, có kẻ đã lén lút trốn thoát.
Hắn vớ lấy một cái vỉ lò sưởi trong bếp để phòng thân trước đám chó, rồi bước ra sân, để ngỏ cửa. Cơn bão tuyết đã ngớt và bên ngoài trời vô cùng tĩnh lặng... Khi hắn bước qua cánh cổng, cánh đồng trắng xóa trông thật hoang tàn chết chóc, và bầu trời buổi sáng chẳng bóng chim bay. Dọc hai bên đường cũng như đằng xa là những mảng rừng non lốm đốm sắc xanh mờ ảo.
Yergunov bắt đầu nghĩ đến việc hắn sẽ được chào đón ra sao ở bệnh viện và vị bác sĩ sẽ nói gì với mình; việc đó là tối quan trọng, phải nghĩ trước để chuẩn bị câu trả lời cho những câu hỏi sắp tới, nhưng rồi ý nghĩ đó cứ mờ dần đi và trôi tuột mất. Hắn lê bước đi mà chẳng màng suy nghĩ gì ngoài Lyubka, ngoài đám nông dân mà hắn đã cùng trải qua đêm qua; hắn nhớ lại khoảnh khắc sau khi Lyubka đánh hắn cú thứ hai, cô đã cúi người xuống sàn để nhặt chiếc chăn như thế nào, và mái tóc xõa tung của cô đã rủ xuống sàn ra sao. Trợn tròn đôi mắt mụ mẫm, hắn tự hỏi tại sao trên đời lại tồn tại những bác sĩ, y tá, thương gia, nhân viên văn phòng và nông dân thay vì những con người tự do đích thực? Rõ ràng là có những chú chim tự do, những con thú tự do, một gã Merik tự do, và chúng chẳng sợ hãi bất kỳ ai, chẳng cần nhờ cậy ai cả! Và ý tưởng đó bắt nguồn từ đâu, ai là kẻ đã ban hành luật lệ rằng người ta phải thức dậy vào buổi sáng, ăn trưa vào giữa ngày, đi ngủ vào buổi tối; rằng một bác sĩ có địa vị cao hơn một phụ tá y tế; rằng người ta phải sống trong những bức tường và chỉ được yêu một người vợ? Và tại sao lại không thể làm ngược lại – ăn tối vào ban đêm và ngủ vào ban ngày? Ôi, được nhảy bừa lên lưng một con ngựa mà chẳng cần hỏi xem nó thuộc về ai, được đua tài cùng gió trời như một tên quỷ sứ, phóng qua những cánh đồng, khu rừng và khe núi, được yêu đương với những cô gái, được chế nhạo tất cả mọi người...
Yergunov cắm phập cái vỉ lò vào đống tuyết, áp trán vào thân cây bạch dương trắng muốt lạnh ngắt, và chìm đắm trong dòng suy tưởng; cuộc đời tẻ nhạt, xám xịt của hắn, tiền lương còm cõi, vị thế thấp kém, phòng pha chế thuốc, những bận rộn bất tận với chai lọ và băng gạc, bỗng trở nên thật tầm thường và đáng ghê tởm.
– Ai bảo vui chơi là tội lỗi cơ chứ? – hắn tự hỏi với vẻ bực bội. – Những kẻ nói thế chưa từng sống trong tự do như Merik và Kalashnikov, chưa bao giờ biết yêu Lyubka; chúng là những kẻ khốn cùng suốt cả cuộc đời, sống không có lấy một niềm vui thú, và chỉ biết yêu những mớ vợ nhà tẻ ngắt như loài ếch nhái mà thôi.
Và hắn tự nghĩ về bản thân rằng cho đến nay hắn chưa trở thành một tên trộm, một kẻ bịp bợm hay thậm chí là một tên cướp đường chỉ đơn giản là vì hắn không thể, hoặc chưa gặp được cơ hội thích hợp mà thôi.