Tuyển Tập Truyện Ngắn Project Gutenberg

Lượt đọc: 4450 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Quả Gai

❊ ❊ ❊

Từ sáng sớm, bầu trời đã âm u mây phủ; ngày hôm ấy tĩnh lặng, mát mẻ và buồn tẻ, như thường lệ vào những ngày xám xịt, ảm đạm khi mây sà thấp xuống cánh đồng và trông chừng như sắp mưa, nhưng mưa lại chẳng bao giờ rơi. Ivan Ivanich, bác sĩ thú y, và Bourkin, thầy giáo, đã mỏi nhừ vì đi bộ và những cánh đồng đối với họ dường như vô tận. Xa phía trước, họ chỉ vừa đủ nhìn thấy những chiếc cối xay gió của làng Mirousky, phía bên phải trải dài và khuất dần sau ngôi làng là một dải đồi, và họ biết đó là bờ sông; những đồng cỏ, những rặng liễu xanh, những trang trại; và từ một trong những ngọn đồi ấy có thể nhìn thấy một cánh đồng vô tận không kém, những cột điện báo, và đoàn tàu, trông từ xa như một con sâu đang bò, và trong tiết trời quang đãng, thậm chí có thể nhìn thấy cả thị trấn. Trong thời tiết lặng gió khi vạn vật dường như đều dịu dàng và u sầu, Ivan Ivanich và Bourkin tràn ngập tình yêu với những cánh đồng và nghĩ rằng vùng quê này thật hùng vĩ và tươi đẹp biết bao.

"Lần trước, khi chúng ta dừng chân ở cái lều của Prokofyi," Bourkin nói, "anh đã định kể cho tôi nghe một câu chuyện."

"Đúng vậy. Tôi muốn kể cho anh nghe về em trai tôi."

Ivan Ivanich hít một hơi thật sâu và châm tẩu thuốc trước khi bắt đầu kể chuyện, nhưng đúng lúc đó trời bắt đầu đổ mưa. Chỉ trong khoảng năm phút, mưa tuôn xối xả và chẳng có dấu hiệu gì là sẽ tạnh. Ivan Ivanich ngừng lại, ngập ngừng; lũ chó, ướt sũng, đứng cụp đuôi, nhìn họ đầy vẻ thảm thương.

"Chúng ta nên tìm chỗ trú," Bourkin nói. "Hãy đến nhà Aliokhin đi. Ở gần đây thôi."

"Được thôi."

Họ đi tắt qua một cánh đồng rạ rồi rẽ sang phải, cho đến khi ra tới con đường cái. Chẳng bao lâu sau, những hàng dương, một khu vườn, và những mái nhà kho màu đỏ bắt đầu hiện ra; con sông lấp lánh và họ đi tới một con đường rộng có chiếc cối xay và một chòi tắm màu trắng. Đó là Sophino, nơi Aliokhin sống.

Chiếc cối xay đang hoạt động, lấn át cả tiếng mưa, và con đập rung lên bần bật. Xung quanh những chiếc xe ngựa là lũ ngựa ướt nhẹp, cúi gằm đầu, và đám đàn ông đi lại với những chiếc bao tải trùm lên đầu. Trời ẩm ướt, bùn lầy, khó chịu, và con sông trông lạnh lẽo, ảm đạm. Ivan Ivanich và Bourkin cảm thấy ướt át và bứt rứt toàn thân; đôi chân họ mỏi nhừ vì đi trong bùn, và họ lặng lẽ đi ngang qua con đập về phía nhà kho như thể đang giận dỗi nhau.

Trong một nhà kho, chiếc máy sàng thóc đang hoạt động, tỏa ra những đám bụi mù mịt. Trên ngưỡng cửa đứng chính Aliokhin, một người đàn ông khoảng bốn mươi tuổi, cao lớn, bệ vệ, với mái tóc dài, trông giống một giáo sư hay một họa sĩ hơn là một nông dân. Ông mặc chiếc áo sơ mi trắng lấm lem, thắt đai thừng, thay vì quần dài thì mặc quần vải thô; đôi ủng của ông phủ đầy bùn và rơm. Mũi và mắt ông đen sì vì bụi. Ông nhận ra Ivan Ivanich và tỏ ra rất vui mừng.

"Xin mời các vị," ông nói, "hãy vào nhà. Tôi sẽ tới ngay đây."

Ngôi nhà rộng lớn và có hai tầng. Aliokhin sống ở tầng dưới trong hai căn phòng vòm với những ô cửa sổ nhỏ dành cho người làm; trang trại trông đơn sơ, và nơi này phảng phất mùi bánh mì lúa mạch đen, rượu vodka và da thuộc. Ông hiếm khi sử dụng những phòng khách, chỉ khi có khách đến thăm. Ivan Ivanich và Bourkin được một cô hầu phòng đón tiếp; một phụ nữ trẻ xinh xắn đến nỗi cả hai đều phải dừng lại và nhìn nhau.

"Các vị không thể tưởng tượng được tôi vui mừng thế nào khi gặp các vị đâu," Aliokhin nói, theo họ vào sảnh. "Tôi chưa bao giờ nghĩ các vị sẽ tới. Pelagueya," ông nói với cô hầu, "hãy lấy quần áo để bạn ta thay đi. Và tôi cũng sẽ thay đồ. Nhưng tôi phải đi tắm đã. Từ mùa xuân đến giờ tôi chưa được tắm. Các vị có muốn ra chòi tắm không? Trong lúc đó thì quần áo của chúng ta cũng sẽ được chuẩn bị xong."

Pelagueya xinh xắn, duyên dáng và ngọt ngào mang khăn tắm và xà phòng ra, và Aliokhin dẫn những vị khách của mình tới chòi tắm.

"Phải," ông nói, "lâu lắm rồi tôi mới đi tắm. Chòi tắm của tôi cũng ổn đấy chứ, các anh thấy đấy. Cha tôi và tôi đã cùng dựng nó, nhưng chẳng hiểu sao tôi lại chẳng có thời gian mà tắm táp gì cả."

Ông ngồi xuống bậc thềm, xoa bọt xà phòng lên mái tóc dài và cổ, nước xung quanh ông chuyển thành màu nâu.

"Phải. Tôi hiểu," Ivan Ivanich nói giọng nặng nề, nhìn vào đầu ông.

"Lâu lắm rồi tôi mới tắm," Aliokhin nói đầy vẻ ngượng ngùng, khi ông lại xoa bọt xà phòng, và nước xung quanh ông chuyển thành màu xanh đậm như mực.

Ivan Ivanich bước ra khỏi chòi, lao xuống nước với một tiếng tùm, và bơi lội dưới làn mưa, vẫy mạnh tay, tạo ra những đợt sóng, và trên những con sóng ấy, những đóa hoa súng trắng tròng trành; ông bơi ra giữa hồ rồi lặn xuống, chỉ một lát sau lại ngoi lên ở một chỗ khác và tiếp tục bơi lội, lặn ngụp, cố gắng chạm tới đáy hồ. "À! Thật tuyệt!" ông reo lên khoái chí. "Thật tuyệt!" Ông bơi về phía cối xay, trò chuyện với mấy người nông dân, rồi quay trở lại, và ở giữa hồ, ông nằm ngửa ra để mặc cho mưa rơi vào mặt. Bourkin và Aliokhin đã mặc quần áo xong xuôi và chuẩn bị ra về, nhưng ông vẫn tiếp tục bơi lội, lặn ngụp.

"Tuyệt thật," ông nói. "Quá tuyệt!"

"Anh tắm đủ rồi đấy," Bourkin hét lên.

Họ quay về nhà. Và chỉ khi ngọn đèn được thắp lên trong phòng khách lớn ở tầng trên, khi Bourkin và Ivan Ivanich, khoác trên mình những chiếc áo choàng bằng lụa và đi những đôi dép ấm áp, ngồi thư giãn trên ghế, còn chính Aliokhin, đã rửa sạch sẽ và chải chuốt, trong bộ lễ phục mới, đi đi lại lại, rõ ràng đang tận hưởng sự ấm áp, sạch sẽ và quần áo khô ráo cùng đôi dép, và cô hầu Pelagueya xinh xắn, bước đi không tiếng động trên thảm và mỉm cười ngọt ngào, mang trà và mứt đặt lên khay, thì lúc đó Ivan Ivanich mới bắt đầu kể câu chuyện của mình, và như thể người đang lắng nghe không chỉ có Bourkin và Aliokhin, mà còn có cả những vị quý tộc già trẻ và viên sĩ quan đang nhìn xuống đầy nghiêm trang và tĩnh lặng từ trong những khung hình mạ vàng kia.

"Chúng tôi có hai anh em," ông bắt đầu, "Tôi, Ivan Ivanich, và Nicholai Ivanich, kém tôi hai tuổi. Tôi theo học và trở thành bác sĩ thú y, còn Nicholai làm việc tại Tòa Ngân khố từ năm mười chín tuổi. Cha chúng tôi, Tchimasha-Himalaysky, là con nhà binh, nhưng ông mất khi đã mang quân hàm sĩ quan và để lại cho chúng tôi tước hiệu quý tộc cùng một điền trang nhỏ. Sau khi ông mất, điền trang đó phải đem bán để trả nợ. Tuy nhiên, chúng tôi đã trải qua thời thơ ấu ở đó, nơi vùng quê. Chúng tôi cũng giống như những đứa trẻ nông dân, dành ngày đêm ngoài đồng và trong rừng, trông nom nhà cửa, bóc vỏ cây đoạn, đi câu cá, vân vân... Và các anh biết đấy, một khi người ta đã từng đi câu cá, hoặc ngắm nhìn những đàn chim hoét bay lượn trên ngôi làng vào những ngày mùa thu sáng sủa, mát mẻ, người ta sẽ không bao giờ thực sự trở thành người thành phố được nữa, và cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay, lòng họ vẫn sẽ luôn hướng về vùng quê. Em trai tôi héo hon dần trong Tòa Ngân khố. Nhiều năm trôi qua, nó vẫn ngồi ở vị trí cũ, viết những văn bản giống hệt nhau, và chỉ nghĩ về một điều duy nhất: làm sao để trở về vùng quê. Và dần dần, nỗi khổ tâm của nó trở thành một sự rối loạn rõ rệt, một ý nghĩ cố định—mua một trang trại nhỏ ở đâu đó bên bờ sông hoặc hồ."

"Nó là một gã tốt bụng và tôi yêu quý nó, nhưng tôi chưa bao giờ tán thành cái khao khát tự giam mình vào một trang trại của riêng mình. Người ta thường nói rằng một người chỉ cần sáu thước đất là đủ. Nhưng rõ ràng đó là thứ mà một cái xác cần, chứ không phải một con người. Và tôi nghe nói giới trí thức của chúng ta có nỗi khao khát với đất đai và muốn mua những trang trại. Nhưng tất cả cũng chỉ thu lại vào sáu thước đất ấy thôi. Rời bỏ thành phố, rời bỏ cuộc đấu tranh và dòng đời cuộn chảy, để rồi đi ẩn mình trong một trang trại không phải là sống—đó là sự ích kỷ, là lười biếng; đó là một kiểu tu hành, nhưng là sự tu hành không có hành động. Con người không cần sáu thước đất, không cần một trang trại, mà cần cả trái đất, cần toàn bộ thiên nhiên, nơi mà trong sự tự do hoàn toàn, họ có thể phô bày mọi phẩm chất và đặc tính của một tinh thần tự do."

"Em trai Nicholai của tôi, khi ngồi ở văn phòng, thường mơ được ăn món súp schi của riêng mình, với mùi thơm nồng nàn lan tỏa khắp sân nhà; mơ được ăn ngoài trời, mơ ngủ dưới nắng, và mơ ngồi hàng giờ trên chiếc ghế dài cạnh cổng, đắm mình nhìn ngắm cánh đồng và rừng cây. Những cuốn sách về nông nghiệp và những lời chỉ dẫn trong các cuốn niên giám là niềm vui, là món ăn tinh thần yêu thích của nó; và nó thích đọc báo, nhưng chỉ là những mục quảng cáo bán đất, bao nhiêu mẫu đất canh tác và đồng cỏ, kèm theo trang trại, sông ngòi, vườn tược, cối xay và ao hồ. Và nó cứ mơ về những bức tường vườn, những bông hoa, trái ngọt, những tổ chim, những con cá chép trong ao, các anh biết đấy, và tất cả những thứ tương tự. Những ảo tưởng ấy của nó thường thay đổi tùy theo các mẩu quảng cáo nó tìm được, nhưng chẳng hiểu sao, trong mỗi mảnh đất ấy lúc nào cũng phải có một bụi quả gai. Nó không thể hình dung ra một ngôi nhà, một khung cảnh lãng mạn nào mà lại không có bụi quả gai ở đó."

"'Đời sống nông thôn có những cái lợi riêng của nó,' nó thường nói. 'Anh ngồi ngoài hiên uống trà, lũ vịt con bơi lội dưới ao, và mọi thứ đều thơm tho... và còn có cả quả gai nữa.'"

"Nó thường vẽ ra một bản kế hoạch về điền trang của mình và trên đó lúc nào cũng là những thứ này: (a) Trang trại, (b) nhà tranh, (c) vườn rau, (d) bụi quả gai. Nó sống đạm bạc, chẳng bao giờ có đủ ăn đủ mặc, ăn mặc thì trời mới biết trông ra sao, y hệt một gã ăn mày, và lúc nào cũng dành dụm tiền gửi vào ngân hàng. Nó keo kiệt đến kinh khủng. Nhìn thấy nó như vậy tôi thấy đau lòng, tôi từng đưa tiền cho nó đi nghỉ mát, nhưng nó lại cất luôn số tiền đó đi. Một khi người ta đã mắc phải một ý nghĩ cố định, thì chẳng còn cách nào khác."

"Nhiều năm trôi qua; nó được chuyển đến một tỉnh khác. Nó đã bước qua tuổi bốn mươi mà vẫn miệt mài đọc quảng cáo trên báo và dành dụm tiền. Rồi tôi nghe tin nó đã kết hôn. Vẫn với ý định mua một trang trại có bụi quả gai, nó cưới một bà góa lớn tuổi, xấu xí, không phải vì chút tình cảm nào, mà vì bà ta có tiền. Sống với bà ta, nó vẫn tiếp tục keo kiệt, bỏ đói bà ta, và gửi tiền vào ngân hàng dưới tên mình. Bà vợ vốn là vợ của một trạm trưởng bưu điện, đã quen sống sung túc, nhưng với người chồng thứ hai này, bà thậm chí không có đủ bánh mì đen để ăn; bà héo hon trong cuộc đời mới, và chừng ba năm sau thì về chầu Chúa. Và em trai tôi, trong một phút giây cũng không hề nghĩ mình có lỗi về cái chết của bà. Tiền bạc, giống như rượu vodka, có thể giở những trò quái đản với con người. Có lần ở thị trấn chúng tôi, một thương gia sắp lâm chung. Trước khi chết, ông ta đòi ăn mật ong, và ông ta đã ăn hết toàn bộ giấy nợ và chứng khoán với mật ong để không ai chiếm được của ông ta. Một lần nọ, khi tôi đang kiểm tra một đàn gia súc tại một ga tàu, một gã buôn ngựa ngã nhào xuống dưới đầu tàu, và chân gã bị cắt lìa. Chúng tôi khiêng gã vào phòng chờ, máu chảy lênh láng—một cảnh tượng kinh hoàng—và suốt lúc đó gã cứ lo lắng hỏi về cái chân của mình; gã có hai mươi lăm rúp giấu trong chiếc ủng và không muốn mất số tiền đó."

"Hãy quay lại câu chuyện của anh đi," Bourkin nói.

"Sau cái chết của vợ," Ivan Ivanich tiếp tục, sau một hồi lâu im lặng, "em trai tôi bắt đầu tìm kiếm một điền trang. Tất nhiên anh có thể tìm kiếm suốt năm năm trời, để rồi cuối cùng vẫn mua phải một món đồ vớ vẩn. Thông qua một tay môi giới, Nicholai đã thế chấp vay nợ và mua ba trăm mẫu đất với một trang trại, một căn nhà tranh, và một công viên, nhưng chẳng có vườn cây ăn trái, không bụi quả gai, không ao vịt; có một con sông nhưng nước thì màu cà phê vì điền trang nằm giữa một xưởng gạch và một nhà máy sản xuất gelatin. Nhưng Nicholai không hề bận tâm về điều đó; nó đặt mua hai mươi bụi quả gai và bắt đầu cuộc sống nông thôn."

"Năm ngoái tôi có ghé thăm nó. Tôi nghĩ mình nên đi xem tình hình nó thế nào. Trong những lá thư, em tôi gọi điền trang của mình là Tchimbarshov Corner, hay Himalayskoe. Tôi đến Himalayskoe vào buổi chiều. Trời nóng bức. Những con mương, hàng rào, giậu, những hàng thông non, cây cối khắp nơi, và chẳng biết làm sao để băng qua sân hay đặt con ngựa của mình ở đâu. Tôi vào nhà và bắt gặp một con chó lông đỏ, béo như một con lợn. Nó định sủa nhưng cảm thấy lười quá. Từ nhà bếp đi ra, cô đầu bếp, chân trần, cũng béo như một con lợn, bảo rằng chủ nhân đang nghỉ trưa. Tôi vào gặp em trai, thấy nó đang ngồi trên giường, đầu gối phủ một tấm chăn; nó trông già nua, bệ vệ, nhão nhoét; má, mũi và môi thì xệ xuống. Tôi cứ ngỡ nó sắp ụt ịt như lợn đến nơi rồi."

"Chúng tôi ôm nhau và rơi lệ vì vui mừng, nhưng cũng vì nỗi buồn khi nghĩ rằng chúng tôi đã từng trẻ trung, mà giờ đây cả hai đều đã điểm bạc và sắp gần đất xa trời. Nó thay đồ và dẫn tôi đi xem điền trang của mình."

"'Thế nào? Cậu sống thế nào?' tôi hỏi."

"'Được lắm, tạ ơn Chúa. Tôi sống rất tốt.'"

"Nó không còn là viên chức nghèo khổ, mệt mỏi ngày xưa nữa, mà là một địa chủ thực thụ và là một nhân vật quan trọng. Nó đã quen với nơi này và yêu thích nó, ăn uống rất nhiều, tắm kiểu Nga, bắt đầu béo lên, đã bắt đầu kiện tụng với giáo xứ và hai nhà máy, và rất tự ái nếu đám nông dân không gọi nó là 'Ngài'. Và, như một địa chủ tử tế, nó chăm lo cho linh hồn mình và làm việc thiện một cách khoa trương, không bao giờ làm một cách giản dị. Làm việc thiện gì ư? Nó chữa bệnh cho nông dân bằng soda và dầu thầu dầu, còn vào ngày sinh nhật của mình, nó tổ chức lễ tạ ơn ngay giữa làng, và chiêu đãi nông dân nửa thùng rượu vodka, việc mà nó cho là đúng đắn. Ôi! Những thùng rượu vodka kinh khủng đó. Một ngày nọ, gã địa chủ đẫy đà ấy lôi những người nông dân ra trước tòa án Zembro vì tội xâm phạm, và ngày hôm sau, nếu là ngày lễ, hắn sẽ cho họ một thùng rượu vodka, và họ uống, hét vang chúc mừng! rồi liếm giày hắn trong cơn say. Sự thay đổi sang ăn ngon và nhàn rỗi luôn khiến một người Nga trở nên tự phụ đến lố bịch. Nicholai Ivanich, người từng khiếp sợ không dám có ý kiến riêng khi còn làm ở Tòa Ngân khố, giờ đây tưởng rằng những lời nó nói đều là luật lệ. 'Giáo dục là cần thiết cho quần chúng, nhưng họ không phù hợp với nó.' 'Hình phạt thể xác nhìn chung là có hại, nhưng trong một vài trường hợp thì nó hữu ích và không thể thiếu.'"

"'Tôi hiểu người dân và tôi biết cách đối xử với họ,' nó thường nói. 'Người dân yêu quý tôi. Tôi chỉ cần giơ ngón tay lên là họ sẽ làm theo ý tôi.'"

"Và tất cả những điều này, các anh chú ý nhé, đều được nói với một nụ cười hiền hậu đầy vẻ thông thái. Nó cứ liên tục nói: 'Chúng tôi, những quý tộc,' hoặc 'Tôi, với tư cách là một quý tộc.' Rõ ràng nó đã quên rằng ông nội chúng ta là nông dân còn cha chúng ta là một người lính quèn. Ngay cả cái họ của chúng ta, Tchimacha-Himalaysky, vốn thực sự là một cái tên lố bịch, cũng dường như đầy vang vọng, cao quý và rất đáng tự hào trong mắt nó."

"Nhưng điều tôi muốn nói không liên quan nhiều đến nó mà là đến chính tôi. Tôi muốn kể cho các anh nghe sự thay đổi đã diễn ra trong tôi chỉ trong vài giờ tôi ở nhà nó. Buổi tối, trong lúc đang dùng trà, cô đầu bếp đặt một đĩa quả gai lên bàn. Chúng không phải là đồ mua, mà là quả gai của chính nhà nó, được hái lần đầu tiên kể từ khi trồng bụi cây. Nicholai Ivanich cười rạng rỡ vì vui sướng và trong một hoặc hai phút, nó lặng lẽ nhìn những quả gai với đôi mắt đẫm lệ. Nó không thể nói nên lời vì quá phấn khích, rồi bỏ một quả vào miệng, nhìn tôi đầy đắc thắng, như một đứa trẻ lần đầu tiên được tặng món đồ chơi yêu thích, và nói:"

"'Ngon quá!'"

"Nó tiếp tục ăn một cách ngon lành, và luôn miệng nói:"

"'Ngon quá! Anh thử một quả xem!'"

"Nó cứng và chua, nhưng, như Poushkin đã nói, ảo tưởng giúp nâng cao tinh thần chúng ta còn quý giá hơn mười ngàn sự thật. Tôi thấy một người đàn ông hạnh phúc, một người có ước mơ ấp ủ nhất đã thành hiện thực, người đã đạt được mục tiêu trong cuộc đời, người đã có được điều mình muốn, và hài lòng với số phận cũng như với chính bản thân mình. Trong quan niệm của tôi về cuộc sống con người, luôn có một chút pha trộn của nỗi buồn, nhưng giờ đây, trước cảnh một người hạnh phúc, tôi thấy lòng tràn ngập một cảm giác gần như tuyệt vọng. Và vào ban đêm, cảm giác đó càng đè nặng lên tôi. Một chiếc giường đã được dọn sẵn cho tôi trong căn phòng gần phòng em trai, và tôi có thể nghe thấy nó, không thể chợp mắt, cứ đi lại nhiều lần tới đĩa quả gai. Tôi nghĩ: 'Rốt cuộc, có biết bao nhiêu con người hài lòng, hạnh phúc! Điều đó có nghĩa là một sức mạnh áp đảo biết bao! Tôi nhìn vào cuộc sống này và thấy sự ngạo mạn và nhàn rỗi của kẻ mạnh, sự thiếu hiểu biết và thú tính của kẻ yếu, sự nghèo đói kinh khủng ở khắp mọi nơi, sự chen chúc, say xỉn, đạo đức giả, dối trá... Trong khi đó, ở tất cả mọi ngôi nhà, mọi con phố, mọi thứ đều bình lặng; trong năm mươi ngàn người sống ở thị trấn chúng ta, không một ai đứng lên phản kháng điều đó. Hãy nghĩ về những người đi chợ mua thức ăn: ban ngày họ ăn; ban đêm họ ngủ, nói những điều nhảm nhí, kết hôn, già đi, mộ đạo đưa người chết ra nghĩa trang; người ta không bao giờ nhìn thấy hay nghe thấy những kẻ đang đau khổ, và toàn bộ nỗi kinh hoàng của cuộc sống vẫn diễn ra ở đâu đó phía sau sân khấu. Mọi thứ đều lặng lẽ, bình yên, và chống lại tất cả những điều đó chỉ có tiếng phản đối thầm lặng của những con số thống kê; bao nhiêu người phát điên, bao nhiêu gallon rượu đã được uống, bao nhiêu đứa trẻ chết vì đói... Và một trạng thái như vậy rõ ràng là điều chúng ta muốn; có vẻ như một người hạnh phúc chỉ cảm thấy hạnh phúc vì những người bất hạnh đang gánh chịu nỗi đau của họ trong im lặng, mà nếu không có sự im lặng đó thì hạnh phúc sẽ là điều không thể. Đó là một kiểu thôi miên chung. Mỗi người hạnh phúc nên có ai đó cầm một chiếc búa nhỏ gõ cửa để nhắc nhở rằng còn có những người bất hạnh, và rằng, dù anh ta có hạnh phúc đến đâu, cuộc đời sớm muộn gì cũng sẽ nhe nanh vuốt, và một tai họa nào đó sẽ ập đến—ốm đau, nghèo khó, mất mát, và rồi sẽ chẳng có ai nhìn thấy hay lắng nghe anh ta, cũng như giờ đây anh ta không nhìn thấy hay lắng nghe người khác. Nhưng chẳng có ai cầm búa cả, và những người hạnh phúc cứ tiếp tục sống, chỉ hơi xao động một chút với những lo toan vụn vặt thường nhật, giống như một cây dương trước gió—và mọi thứ vẫn ổn thỏa.'"

"Đêm đó, tôi đã có thể hiểu được tại sao tôi, cũng từng hài lòng và hạnh phúc," Ivan Ivanich tiếp tục, đứng dậy. "Tôi cũng vậy, trong những bữa ăn hay khi đi săn, từng lớn tiếng giảng giải về cách sống, về tôn giáo, về cách cai trị quần chúng. Tôi cũng từng nói rằng giáo dục là ánh sáng, rằng giáo dục là cần thiết, nhưng với những người dân thường thì biết đọc biết viết là đủ rồi. Tự do là một món quà, tôi từng nói, thiết yếu như không khí chúng ta hít thở, nhưng chúng ta phải chờ đợi. Phải—tôi từng nói như vậy, nhưng giờ đây tôi tự hỏi: 'Tại sao chúng ta phải chờ đợi?'" Ivan Ivanich nhìn Bourkin đầy giận dữ. "'Tại sao chúng ta phải chờ đợi, tôi hỏi các anh? Những lý do gì đang kìm hãm chúng ta? Người ta bảo tôi rằng chúng ta không thể có mọi thứ ngay lập tức, và rằng mọi ý tưởng đều được hiện thực hóa theo thời gian. Nhưng ai nói thế? Bằng chứng ở đâu mà nói như vậy? Các anh lấy trật tự tự nhiên của vạn vật, lấy quy luật nhân quả ra để biện minh cho tôi, nhưng liệu có trật tự hay quy luật tự nhiên nào trong việc tôi, một sinh vật sống, biết suy nghĩ, lại phải đứng chờ bên cạnh một con mương cho đến khi nó được lấp đầy, hoặc thu hẹp lại, trong khi tôi có thể nhảy qua nó hoặc bắc một cây cầu qua đó? Hãy nói cho tôi biết, tôi nói, tại sao chúng ta phải chờ đợi? Chờ đợi, khi chúng ta không còn sức lực để sống, nhưng vẫn phải sống và tràn đầy khao khát được sống!"

"Tôi rời nhà em trai từ sớm hôm sau, và kể từ đó, tôi thấy không thể nào sống nổi ở thị trấn nữa. Sự bình yên và tĩnh lặng ở đó làm tôi ngột ngạt. Tôi không dám nhìn vào những khung cửa sổ, vì chẳng có gì đáng sợ hơn cảnh tượng một gia đình hạnh phúc ngồi quanh bàn ăn uống trà. Giờ tôi đã già và chẳng còn sức để đấu tranh nữa. Tôi bắt đầu quá muộn. Tôi chỉ có thể đau buồn trong tâm hồn, bứt rứt và hờn dỗi. Đêm đêm đầu óc tôi ong ong với những dòng suy nghĩ dồn dập và tôi không thể ngủ được... À! Phải chi tôi còn trẻ!"

Ivan Ivanich đi đi lại lại trong phòng đầy vẻ kích động và lặp lại:

"Phải chi tôi còn trẻ."

Đột nhiên ông bước tới chỗ Aliokhin và bắt tay ông, hết tay này đến tay kia.

"Pavel Konstantinich," ông nói bằng giọng khẩn cầu, "đừng thỏa mãn, đừng để bản thân chìm vào giấc ngủ! Khi anh còn trẻ, còn khỏe mạnh, còn giàu có, đừng ngừng làm điều thiện! Hạnh phúc không tồn tại, và cũng không nên tồn tại, và nếu cuộc đời có ý nghĩa hay mục đích gì, thì chúng không nằm ở cái hạnh phúc nhỏ bé, vụn vặt của chúng ta, mà nằm ở một điều gì đó hợp lý và cao cả hơn. Hãy làm điều thiện!"

Ivan Ivanich nói điều này với một nụ cười thảm hại, cầu khẩn, như thể ông đang yêu cầu một ân huệ cá nhân.

Sau đó, cả ba người ngồi ở ba góc khác nhau của phòng khách và im lặng. Câu chuyện của Ivan Ivanich chẳng làm thỏa mãn Bourkin cũng chẳng làm hài lòng Aliokhin. Với những vị tướng và quý bà nhìn xuống từ những khung hình mạ vàng, dường như đang sống động trong ánh lửa, thật tẻ nhạt khi phải nghe câu chuyện về một viên chức khốn khổ ăn quả gai... Bằng cách nào đó, họ khao khát được nghe và nói về những con người quyến rũ, và về phụ nữ. Và chính việc ngồi trong phòng khách nơi mọi thứ—chiếc đèn với chao đèn màu, những chiếc ghế, và tấm thảm dưới chân họ—đều kể cho nghe rằng chính những người hiện đang nhìn xuống họ từ trong khung hình từng bước đi, ngồi xuống và uống trà ở đây, và sự thật là Pelagueya xinh xắn đang ở gần đó—thì điều đó còn tuyệt hơn bất kỳ câu chuyện nào.

Aliokhin rất muốn đi ngủ; anh phải thức dậy làm việc rất sớm, khoảng hai giờ sáng, và giờ thì mắt anh đã díp lại, nhưng anh sợ những vị khách của mình sẽ nói điều gì đó thú vị mà anh không nghe thấy, nên anh không nỡ đi. Anh không bận tâm suy nghĩ xem những điều Ivan Ivanich vừa nói có thông minh hay đúng đắn hay không; những vị khách của anh không nói về lúa mạch, cỏ khô, hay nhựa đường, mà về một điều gì đó không liên quan đến cuộc sống của anh, và anh thích điều đó và muốn họ tiếp tục kể...

"Tuy nhiên, đã đến lúc đi ngủ rồi," Bourkin nói, đứng dậy. "Chúc các anh ngủ ngon."

Aliokhin nói chúc ngủ ngon rồi đi xuống tầng dưới, để mặc những vị khách của mình. Mỗi người có một căn phòng rộng với một chiếc giường gỗ cũ kỹ chạm khắc trang trí; trong góc là một cây thánh giá bằng ngà voi; và những chiếc giường rộng rãi, mát mẻ của họ, được Pelagueya xinh xắn trải ga, thoang thoảng mùi vải sạch.

Ivan Ivanich lặng lẽ cởi quần áo và nằm xuống.

"Xin Chúa tha tội cho con, một kẻ tội lỗi khốn cùng," ông lầm bầm, khi kéo chăn trùm qua đầu.

Mùi thuốc lá cháy thoang thoảng từ chiếc tẩu đặt trên bàn, Bourkin nằm mãi không ngủ được và thấy bồn chồn vì không sao hiểu nổi cái mùi khó chịu ấy từ đâu ra.

Mưa đập vào cửa sổ suốt cả đêm dài.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Anton Pavlovich Chekhov

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.