Tôi đã từng thấy vô số ngôi nhà trong đời mình, nhỏ có, lớn có, cũ có, mới có, nhà xây bằng đá hay bằng gỗ cũng đều có cả, nhưng có một ngôi nhà đã để lại trong tôi ký ức vô cùng sống động. Nói đúng hơn thì đó là một túp lều tranh chứ chẳng phải nhà - một túp lều một tầng bé tí tẹo với ba ô cửa sổ, trông giống hệt một bà lão gù lưng đội mũ trùm đầu. Những bức tường trát vữa trắng toát, mái ngói và cái ống khói xiêu vẹo của nó đều chìm nghỉm giữa một biển xanh mướt. Túp lều khuất dạng hoàn toàn sau những tán dâu, tán keo và những hàng dương được trồng từ đời ông, đời cụ của những người đang cư ngụ ở đó hiện nay. Thế mà, nó lại là một ngôi nhà trong phố. Cái sân rộng của nó nằm liền kề với những cái sân xanh tương tự khác, tạo thành một phần của dãy phố. Chẳng có gì đi qua con phố đó, và cũng hiếm khi thấy bóng người nào đi lại trên con phố ấy.
Những cánh chớp của ngôi nhà nhỏ lúc nào cũng đóng chặt; những cư dân ở đó chẳng bận tâm đến ánh nắng mặt trời – vì ánh sáng chẳng có ích gì cho họ. Các khung cửa sổ không bao giờ mở, bởi họ chẳng ưa gì không khí trong lành. Những con người dành cả đời mình giữa những tán keo, dâu tằm và cỏ tầm ma thì không bao giờ có niềm đam mê với thiên nhiên. Chỉ có những vị khách ghé thăm vào mùa hè mới được Chúa ban cho đôi mắt để nhìn thấy vẻ đẹp của thiên nhiên. Còn phần còn lại của nhân loại vẫn đắm chìm trong sự thiếu hiểu biết sâu sắc về sự tồn tại của những vẻ đẹp ấy. Người ta chẳng bao giờ trân trọng những gì mình luôn có sẵn. "Cái gì mình có sẵn thì mình chẳng bao giờ giữ gìn", và hơn thế nữa, chúng ta thậm chí còn chẳng yêu quý nó.
Ngôi nhà nhỏ nằm trong một thiên đường hạ giới của những tán cây xanh với những chú chim hạnh phúc làm tổ bên trong. Thế nhưng bên trong... than ôi...! Vào mùa hè, không gian bên trong vừa ngột ngạt vừa bức bối; còn mùa đông thì nóng hầm hập như phòng tắm kiểu Thổ Nhĩ Kỳ, chẳng lấy đâu ra một luồng không khí, và sự ảm đạm nữa chứ!...
Lần đầu tiên tôi ghé thăm ngôi nhà nhỏ ấy là vào nhiều năm trước vì công việc. Tôi mang một lá thư của vị Đại tá, chủ nhân ngôi nhà, đến cho vợ và con gái ông ta. Tôi nhớ rất rõ lần ghé thăm đầu tiên đó. Thực vậy, thật không thể nào quên được.
Hãy tưởng tượng một người đàn bà nhỏ thó, bủng beo bốn mươi tuổi, đang nhìn bạn với vẻ kinh hãi và ngạc nhiên khi bạn bước từ hành lang vào phòng khách. Bạn là một người lạ, một vị khách, "một chàng thanh niên"; bấy nhiêu thôi cũng đủ để khiến bà ta rơi vào trạng thái khiếp sợ và bối rối. Mặc dù trong tay bạn không có dao găm, rìu, hay súng lục, và dù bạn có mỉm cười thân thiện đến đâu, bạn vẫn bị đón tiếp bằng vẻ hoảng hốt.
"Tôi hân hạnh được thưa chuyện với ai đấy ạ?" người đàn bà nhỏ bé hỏi bằng một giọng run rẩy.
Tôi tự giới thiệu và giải thích lý do mình đến. Sự kinh hãi và ngạc nhiên lập tức được thay thế bằng một tiếng "Á!" đầy vui sướng, rồi bà ta đảo mắt nhìn lên trần nhà. Tiếng "Á!" này được đón nhận như một tiếng vang và lặp lại từ tiền sảnh vào phòng khách, từ phòng khách ra đến nhà bếp, và cứ thế vang vọng xuống tận dưới hầm. Chẳng bao lâu sau, cả ngôi nhà rộn vang những tiếng "Á!" với đủ các tông giọng khác nhau.
Năm phút sau, tôi đang ngồi trên một chiếc ghế dài êm ái, ấm áp trong phòng khách, lắng nghe tiếng "Á!" vang vọng khắp cả dãy nhà. Trong phòng sực nức mùi băng phiến và mùi giày da dê, một đôi giày nằm trên chiếc ghế cạnh tôi được gói trong một chiếc khăn tay. Ở cửa sổ có những chậu hoa phong lữ, những tấm rèm đăng ten, và trên rèm là những con ruồi đang lờ đờ. Trên tường treo một bức chân dung một vị giám mục vẽ bằng sơn dầu, bị vỡ kính ở một góc, và cạnh vị giám mục là hàng loạt tổ tiên với gương mặt vàng vọt kiểu dân du mục. Trên bàn là một cái đê khâu, một cuộn chỉ, một chiếc tất đang đan dở, và trên sàn nhà là những mẫu giấy cùng một chiếc áo cánh màu đen đang được khâu lược tạm. Trong căn phòng kế bên, hai bà lão đang hoảng hốt và rối rít nhặt những mảnh mẫu giấy và phấn may trên sàn.
"Ông làm ơn, hãy thứ lỗi cho chúng tôi; chúng tôi bừa bộn quá," người đàn bà nhỏ bé nói.
Trong khi nói chuyện với tôi, bà ta lén nhìn đầy bối rối về phía căn phòng bên kia, nơi những mảnh mẫu giấy vẫn đang được nhặt lên. Cánh cửa cũng có vẻ bối rối, hé mở ra một hoặc hai inch rồi lại đóng sập lại.
"Chuyện gì thế?" người đàn bà nhỏ bé nói, hướng về phía cánh cửa.
"Où est mon cravatte lequel mon père m'avait envoyé de Koursk?" một giọng nữ vang lên ở phía cánh cửa.
"Ah, est-ce que, Marie... que... Thật đấy, không thể được... Nous avons donc chez nous un homme peu connu de nous. Hỏi Lukerya xem sao."
"Chúng ta nói tiếng Pháp giỏi thật đấy!" tôi đọc được ý nghĩ đó trong ánh mắt của người đàn bà nhỏ bé, bà đang đỏ mặt vì vui sướng.
Ngay sau đó cánh cửa mở ra và tôi thấy một cô gái cao, gầy, mười chín tuổi, trong chiếc váy đăng ten dài với chiếc thắt lưng mạ vàng, từ đó, tôi nhớ là có treo một chiếc quạt khảm xà cừ. Cô bước vào, nhún mình chào và đỏ bừng mặt. Chiếc mũi dài, hơi rỗ vì bệnh đậu mùa của cô đỏ lên trước, rồi sắc đỏ ấy lan dần lên đến mắt và trán.
"Con gái tôi," người đàn bà nhỏ bé nói, "còn Manetchka, đây là một chàng trai trẻ đã đến," vân vân.
Tôi được giới thiệu, và bày tỏ sự ngạc nhiên trước số lượng mẫu giấy. Cả mẹ và con gái đều hạ mắt xuống.
"Chúng tôi có một phiên chợ Lễ Thăng Thiên ở đây," người mẹ nói; "chúng tôi luôn mua vải vóc ở chợ, rồi chúng tôi lại bận rộn may vá cho đến khi phiên chợ năm sau quay lại. Chúng tôi không bao giờ đem đồ đi may ở ngoài. Lương của chồng tôi không dư dả lắm, và chúng tôi không thể cho phép mình xa xỉ. Vì vậy, chúng tôi phải tự tay may mọi thứ."
"Nhưng ai mà mặc hết ngần ấy thứ? Hai người chỉ có hai người thôi mà?"
"Ồ... cứ như thể chúng tôi định mặc hết vậy! Chúng đâu phải để mặc; chúng là của hồi môn!"
"Á, mamam, mẹ đang nói gì vậy?" cô con gái nói, và cô lại đỏ bừng mặt. "Vị khách của chúng ta có thể tưởng là thật đấy. Con không có ý định lấy chồng. Không bao giờ!"
Cô nói vậy, nhưng ngay khi thốt ra từ "lấy chồng", đôi mắt cô bừng sáng.
Trà, bánh quy, bơ, và mứt được mang ra, tiếp theo là quả mâm xôi và kem. Lúc bảy giờ, chúng tôi ăn tối, gồm sáu món, và trong khi ăn tôi nghe thấy một tiếng ngáp lớn từ căn phòng bên cạnh. Tôi ngạc nhiên nhìn về phía cánh cửa: đó là một tiếng ngáp chỉ có thể phát ra từ một người đàn ông.
"Đó là anh trai của chồng tôi, Yegor Semyonitch," người đàn bà nhỏ bé giải thích khi thấy tôi ngạc nhiên. "Ông ấy đã sống với chúng tôi suốt một năm nay. Xin ông thông cảm cho; ông ấy không thể ra gặp ông được. Ông ấy là người không thích giao du, ông ấy ngại người lạ. Ông ấy sắp vào tu viện. Ông ấy từng bị đối xử bất công khi làm việc, và nỗi thất vọng đó đã vắt kiệt tâm trí ông ấy."
Sau bữa tối, người đàn bà nhỏ bé cho tôi xem chiếc áo lễ mà Yegor Semyonitch đang tự tay thêu để dâng lên nhà thờ. Manetchka rũ bỏ vẻ ngại ngùng trong chốc lát và cho tôi xem chiếc túi đựng thuốc lá cô đang thêu cho cha mình. Khi tôi giả vờ tỏ ra vô cùng ấn tượng với tác phẩm của cô, cô đỏ bừng mặt và thì thầm điều gì đó vào tai mẹ. Người mẹ rạng rỡ hẳn lên và mời tôi đi cùng bà đến nhà kho. Ở đó, tôi được cho xem năm chiếc hòm lớn, và một số hòm, hộp nhỏ hơn.
"Đây là của hồi môn của con bé," mẹ cô thì thầm; "chúng tôi đã tự tay làm hết cả."
Sau khi nhìn những chiếc hòm đáng sợ ấy, tôi từ biệt những người chủ nhà hiếu khách. Họ bắt tôi hứa sẽ quay lại thăm họ một ngày nào đó.
Tình cờ là tôi đã có thể giữ lời hứa này. Bảy năm sau lần ghé thăm đầu tiên, tôi được cử xuống thị trấn nhỏ đó để đưa ra lời khai chuyên môn trong một vụ kiện đang được xét xử tại đó.
Khi bước vào ngôi nhà nhỏ, tôi lại nghe thấy tiếng "Á!" quen thuộc vang vọng khắp nhà. Họ nhận ra tôi ngay lập tức... Cũng phải thôi! Lần ghé thăm đầu tiên của tôi đã là một sự kiện trong đời họ, và khi các sự kiện vốn hiếm hoi thì người ta sẽ nhớ rất lâu.
Tôi bước vào phòng khách: người mẹ, đã trở nên mập mạp hơn và tóc đã lấm tấm bạc, đang lom khom trên sàn nhà, cắt một xấp vải màu xanh. Cô con gái đang ngồi trên ghế sofa, thêu thùa.
Vẫn cái mùi băng phiến đó; vẫn những mẫu giấy đó, vẫn bức chân dung bị vỡ kính đó. Nhưng dẫu vậy, đã có một sự thay đổi. Bên cạnh chân dung vị giám mục treo một bức chân dung vị Đại tá, và hai người đàn bà đang mặc tang phục. Cái chết của vị Đại tá xảy ra một tuần sau khi ông được thăng hàm tướng.
Những hồi ức bắt đầu... Người góa phụ rơi lệ.
"Chúng tôi đã phải chịu một mất mát khủng khiếp," bà nói. "Chồng tôi, ông biết đấy, đã mất rồi. Giờ chúng tôi chỉ còn trơ trọi trên đời, chẳng còn ai để nương tựa ngoài chính mình. Yegor Semyonitch vẫn còn sống, nhưng tôi chẳng có tin tức tốt lành gì về ông ta cả. Họ không nhận ông ta vào tu viện vì... vì thói nghiện rượu. Và giờ đây trong sự thất vọng, ông ta lại uống nhiều hơn bao giờ hết. Tôi đang định đến gặp Viên Thống đốc quý tộc để khiếu nại. Ông có tin được không, ông ta đã không ít lần phá hòm và... lấy của hồi môn của Manetchka rồi đem cho những kẻ ăn xin. Ông ta đã lấy sạch mọi thứ trong hai cái hòm rồi! Nếu cứ tiếp tục thế này, Manetchka của tôi sẽ chẳng còn lại chút của hồi môn nào mất."
"Mẹ đang nói gì vậy, mamam?" Manetchka nói, vẻ bối rối. "Vị khách của chúng ta có thể tưởng là... không biết ông ấy có thể tưởng tượng ra cái gì nữa... Con sẽ không bao giờ... không bao giờ lấy chồng."
Manetchka ngước đôi mắt lên trần nhà với vẻ đầy hy vọng và khao khát, rõ ràng là không một giây phút nào cô tin vào những gì mình nói.
Một dáng người đàn ông hói đầu nhỏ thó trong chiếc áo khoác màu nâu và đi giày cao su thay vì giày ủng vụt qua hành lang như một con chuột rồi biến mất. "Chắc là Yegor Semyonitch," tôi nghĩ.
Tôi nhìn cả hai mẹ con. Cả hai trông đều già hơn rất nhiều và thay đổi đến mức đáng sợ. Tóc người mẹ đã bạc trắng, còn cô con gái thì đã tàn úa và héo hon đến nỗi người mẹ trông như chị cả của cô, hơn không quá năm tuổi.
"Tôi đã quyết định sẽ đến gặp Viên Thống đốc," người mẹ nói với tôi, quên mất rằng bà đã kể chuyện này với tôi rồi. "Tôi định làm đơn khiếu nại. Yegor Semyonitch cứ đụng vào mọi thứ chúng tôi làm ra, rồi đem dâng hiến cho linh hồn mình. Manetchka của tôi đang bị bỏ lại mà chẳng còn của hồi môn nào cả."
Manetchka lại đỏ mặt, nhưng lần này cô không nói gì.
"Chúng tôi lại phải làm lại tất cả từ đầu. Mà Chúa biết đấy, chúng tôi đâu có dư dả gì. Giờ chúng tôi chỉ còn trơ trọi trên đời này thôi."
"Chúng tôi trơ trọi trên đời," Manetchka lặp lại.
Một năm trước, số phận lại đưa tôi ghé qua ngôi nhà nhỏ ấy một lần nữa.
Bước vào phòng khách, tôi thấy bà lão. Mặc bộ đồ đen tuyền với những dải băng tang đăng ten nặng nề, bà đang ngồi trên ghế sofa khâu vá. Bên cạnh bà là lão già nhỏ thó trong chiếc áo khoác màu nâu và đôi giày cao su thay vì giày ủng. Thấy tôi, lão nhảy dựng lên và chạy ra khỏi phòng.
Đáp lại lời chào của tôi, bà lão mỉm cười và nói:
"Je suis charmée de vous revoir, monsieur."
"Bà đang may gì thế ạ?" một lát sau tôi hỏi.
"Đó là một chiếc áo cánh. Khi may xong, tôi sẽ đem đến nhà linh mục cất, nếu không Yegor Semyonitch sẽ lại lấy mất. Giờ tôi cất giữ mọi thứ ở nhà linh mục," bà nói thêm bằng giọng thì thầm.
Và nhìn vào bức chân dung của con gái đang đặt trên bàn trước mặt, bà thở dài và nói:
"Chúng tôi chỉ còn trơ trọi trên đời này thôi."
Còn cô con gái đâu? Manetchka đâu rồi? Tôi đã không hỏi. Tôi không dám hỏi bà lão đang mặc tang phục đen thẫm ấy. Và trong suốt thời gian tôi ở trong phòng, và cả khi tôi đứng dậy ra về, chẳng có Manetchka nào bước ra chào tôi cả. Tôi không nghe thấy tiếng nói của cô, cũng không nghe thấy tiếng bước chân nhẹ nhàng, rụt rè của cô...
Tôi đã hiểu, và lòng tôi trĩu nặng.