Tuyển Tập Văn Xuôi Hoàn Chỉnh

Lượt đọc: 1747 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Cái Chết Của Ba Chàng Trai Trẻ

❊ ❊ ❊

Ngày 20 tháng Chạp.—Hôm nay chẳng hiểu sao tôi lại miên man nghĩ về cái chết của những chàng trai trẻ—hoàn toàn không phải với nỗi sầu bi hay niềm ủy mị, mà bằng tâm thế trầm mặc, trần trụi, và có lẽ pha chút chất nghệ thuật. Tôi xin ghi lại ba trường hợp sau đây trích từ xấp ghi chép cá nhân mà tôi đã lật giở, nghiền ngẫm rồi suy tưởng lại khi ngồi một mình trong phòng suốt buổi chiều mưa này. Há có ai mà chủ đề này lại chẳng chạm tới tâm can? Tôi không rõ người khác cảm thấy thế nào, song riêng với tôi, những cảnh ngộ ấy chẳng hề mang vẻ ảm đạm hay bi lụy—trái lại, như những hồi ức, chúng đem đến cho tôi sự xoa dịu, niềm vững lòng và một nguồn sinh lực mát lành.

ERASTUS HASKELL.—{Tôi xin chép nguyên văn từ một lá thư do chính tay tôi viết tại một bệnh viện dã chiến của quân đội, mười sáu năm về trước, trong thời kỳ nội chiến ly khai.} Washington, ngày 28 tháng Bảy năm 1863.—M. thân mến,—Tôi đang viết những dòng này ngay tại bệnh viện, ngồi cạnh bên một người lính mà tôi e rằng chẳng thể cầm cự được bao nhiêu giờ nữa. Số phận cậu ấy thật nghiệt ngã—trông cậu chỉ độ mười chín đôi mươi—Erastus Haskell, thuộc Đại đội K, Trung đoàn 141 New York—nhập ngũ chừng một năm nay, thì hơn nửa thời gian đó ốm đau quặt quẹo—cậu từng đóng quân dưới bán đảo—được điều vào đội quân nhạc làm chân thổi sáo. Dù ốm, viên quân y vẫn bắt cậu phải theo kịp đơn vị—(chắc hẳn đã phải làm việc và hành quân quá sức). Cậu là một chàng trai bẽn lẽn, và theo tôi thấy là rất hiểu chuyện—tác phong nhã nhặn—chẳng bao giờ một lời than vãn—bị sốt thương hàn khi đang ở dưới bán đảo trong một kho chứa cũ kỹ. Tuần đầu tháng Bảy này cậu được chuyển lên đây—chuyến đi thật khủng khiếp, chẳng có tiện nghi, chẳng có chút đồ bồi dưỡng, chỉ toàn xóc nảy dằn vặt và dãi dầu sương gió đủ làm ngã bệnh cả một người khỏe mạnh; (những chuyến đi hãi hùng ấy đã cướp đi sinh mạng của biết bao người)—tới nơi vào ngày 11 tháng Bảy—một chàng trai lặng lẽ với làn da ngăm mang nét Tây Ban Nha, đôi mắt to màu xanh thẳm, diện mạo thật khác thường. Bác sĩ F. ở đây coi nhẹ bệnh tình của cậu—bảo rằng cậu sẽ sớm bình phục thôi, v.v.; nhưng tôi lại nghĩ hoàn toàn khác, và đã nhiều lần nói thẳng với F.; (ngay từ đầu tôi suýt nữa đã cãi nhau to với ông ta về chuyện này)—song ông ta chỉ cười xòa, gạt đi chẳng thèm nghe. Chừng bốn hôm trước, tôi bảo với bác sĩ rằng theo ý tôi chắc chắn ông sẽ để mất cậu bé này—nhưng F. lại một lần nữa cười cợt tôi. Sang ngày hôm sau ông ta mới đổi ý—mời cả trưởng y tế của đồn trú đến—vị này bảo rằng cậu bé có lẽ khó qua khỏi, song họ sẽ dốc sức cứu chữa đến cùng.

Hai ngày nay cậu chỉ nằm thở dốc—một cảnh tượng thật xót xa. Từ khi cậu tới, ngày hay đêm nào tôi cũng ghé bên cậu một lúc. Cậu chịu đựng nỗi khổ sở ghê gớm vì cơn sốt nóng—chẳng nói chẳng rằng—ba hôm nay đôi lúc lại mê sảng—tuy vậy vẫn luôn nhận ra tôi—cứ gọi tôi là "Walter"—(thỉnh thoảng cậu cứ lẩm bẩm nhắc đi nhắc lại cái tên ấy, trầm ngâm, lơ đễnh một mình). Cha cậu sống ở Breesport, hạt Chemung, New York, làm thợ máy với đàn con đông đúc—ông là người điềm đạm, sùng đạo; mẹ cậu cũng còn sống. Tôi đã viết thư cho hai người họ, và hôm nay sẽ lại viết tiếp—đã nhiều tháng nay Erastus chẳng nhận được một tin tức nào từ gia đình.

Ngồi đây viết thư cho bạn, M. ơi, tôi ước gì bạn có thể tận mắt chứng kiến khung cảnh này. Chàng trai trẻ nằm ngay trong tầm tay với của tôi, nằm ngửa bất động, hai tay đan lại trước ngực, mái tóc đen dày cắt ngắn sát da đầu; cậu thiu thiu ngủ, thở dốc nhọc nhằn, từng hơi thở như một cơn co giật—trông đau xót khôn cùng. Cậu là một thanh niên khôi ngô, khẳng khái—tôi nhận thấy cậu đã vượt quá mọi niềm hy vọng sống. Thường thì chẳng có ai ở bên cậu suốt một hồi lâu. Tôi cố gắng túc trực nơi này nhiều nhất khi có thể.

WILLIAM ALCOTT, lính cứu hỏa. Camden, tháng Mười một năm 1874.—Chiều thứ Hai vừa qua, người vợ góa, người mẹ, thân bằng quyến thuộc, những người đồng đội thuộc đội cứu hỏa, cùng những bằng hữu khác của cậu, (trong đó có tôi, dẫu chỉ mới quen gần đây thôi, song mối thâm tình giữa chúng tôi đã lớn lên thật nhanh và sâu sắc qua những ngày đêm ròng rã suốt tám tuần lễ bên chiếc ghế của người suy sụp từng ngày, rồi bên giường bệnh lâm chung,) đã tề tựu về đưa tiễn chàng trai trẻ vốn sinh trưởng và nức tiếng quen thuộc nơi đây. Dẫu có lẽ chẳng mang nét gì phi thường để lưu vào sử sách, tôi vẫn muốn dành đôi lời tưởng nhớ cậu. Trong mắt tôi, về cả phẩm tính lẫn khí chất, cậu là một mẫu người điển hình sáng giá cho cái khối đông đảo những con người Mỹ thiện lương bình dị, vẫn muôn đời chảy trôi bền bỉ bên dưới lớp bọt bèo phù phiếm nổi trôi trên bề mặt xã hội. Cậu luôn mực thước, trầm lặng, dáng vẻ phục sức gọn gàng, tính tình hòa nhã—luôn đúng giờ và cần mẫn với công việc cho tới khi sức tàn lực kiệt—cậu cứ thế sống một cuộc đời vững vàng, ngay thẳng, khiêm nhường trong chốn riêng giản dị của mình, hẳn chẳng mảy may tự phụ hay nghĩ ngợi về bản thân. (Dẫu tôi tin rằng bên dưới vẻ ngoài ấy vẫn ngấm ngầm những mạch nguồn cảm xúc và trí tuệ chưa được khai mở, sâu sắc hơn nhiều so với những gì người quen của cậu—hay chính bản thân cậu—từng ngờ tới). Cậu chẳng phải kẻ ba hoa. Những nỗi muộn phiền, nếu có, cậu đều giữ kín cho riêng mình. Lúc sinh thời chẳng một lời than vãn oán thán ra sao, thì trong cơn bạo bệnh cuối cùng cậu cũng chịu đựng không một lời kêu ca như vậy. Cậu là một trong những người mà bằng hữu chẳng bao giờ nghĩ đến việc gán cho tài năng hay sự duyên dáng đặc biệt nào, song tự đáy lòng, ai nấy đều thầm yêu mến Billy Alcott.

Cả tôi nữa, tôi cũng yêu quý cậu. Rốt cuộc, sau bao ngày tháng tôi cận kề túc trực bên cậu—sau những giờ, những ngày dài đằng đẵng ngạt thở nghẹn lời, phần lớn thời gian chìm trong mê man, (bởi dẫu chứng bệnh lao tiềm ẩn trong cơ thể một khi đã bộc phát toàn diện thì tiến triển rất nhanh, song nhựa sống trong người cậu vẫn còn mãnh liệt lắm, và quả thật cậu đã nằm hấp hối suốt bốn năm ngày trời trước khi trút hơi thở cuối cùng,) vào khuya muộn đêm thứ Tư, ngày 4 tháng Mười một, khi chúng tôi lặng lẽ vây quanh giường bệnh, một thoáng lặng chợt buông xuống—một hơi thở dài trút ra, một quãng ngưng, một tiếng thở dài thoi thóp—rồi thêm một nhịp nữa—hơi thở yếu dần, một tiếng thở dài nữa—lại một quãng ngưng và chỉ khẽ run lên một cái—rồi gương mặt chàng trai trẻ tội nghiệp gầy rộc đi (cậu vừa tròn hai mươi sáu tuổi), khẽ nghiêng sang, trút hơi thở tàn, gục lên tay tôi đang đặt trên gối.

CHARLES CASWELL.—{Tôi xin trích nguyên văn sau đây từ bức thư gửi cho tôi đề ngày 29 tháng Chín, từ người bạn John Burroughs của tôi tại Esopus-on-Hudson, bang New York.} Khi bức ảnh của anh gửi tới thì S. đã đi vắng, đang bận chăm sóc người em trai bị ốm tên là Charles—người vừa mới qua đời—một sự việc khiến tôi vô cùng đau xót. Charlie trẻ hơn S., và là một chàng trai trẻ hết sức cuốn hút. Cậu ấy từng làm công cho cha tôi ròng rã hai năm trời. Cậu là hình mẫu thanh niên làm nông tuyệt vời nhất vùng quê mà tôi từng được biết. Giá anh gặp, chắc hẳn anh sẽ yêu mến cậu. Cậu giống hệt như một bài thơ của anh vậy. Với sức vóc cường tráng, mái tóc hoe vàng, tính tình vui tươi thỏa chí, tấm lòng luôn nhân hậu với hết thảy mọi người, cùng phong thái đàn ông trầm tĩnh, cậu là một trang thanh niên hiếm có khó tìm. Cậu đã bị một lão thầy thuốc hại chết. Cậu mắc thương hàn, thế mà lão già ngu xuẩn ấy lại đem trích máu cậu tới hai lần. Cậu đã ráng sống để vượt qua cơn sốt, nhưng chẳng còn sức lực đâu mà hồi phục nữa. Gần như suốt thời gian ấy cậu đều nói mê sảng. Vào buổi sáng của ngày hôm ấy, trước khi qua đời vào buổi chiều, khi S. đang đứng cạnh bên, Charlie bỗng vòng tay ôm lấy cổ S., kéo mặt anh xuống rồi đặt lên một nụ hôn. S. bảo rằng lúc ấy anh biết ngày tàn đã cận kề. (S. đã túc trực bên cậu ngày đêm cho tới tận giờ phút cuối cùng). Hồi tôi về nhà vào tháng Tám, Charlie đang gặt lúa trên đồi, cảnh tượng cậu sải bước giữa cánh đồng lúa mì đẹp tựa một bức tranh. Mọi công việc nặng nhọc với cậu dường như chỉ là trò chơi. Cậu chẳng vướng chút tật xấu nào, hồn nhiên tựa như Mẹ Thiên Nhiên, và được tất thảy những ai quen biết hết mực thương yêu.

Tôi viết cho anh những dòng này về cậu, bởi những chàng trai trẻ như thế thuộc về tâm hồn anh; cậu ấy mang cùng cốt cách với anh. Tôi ước gì anh đã có dịp biết cậu. Cậu vừa có nét ngây thơ dịu dàng của một đứa trẻ, lại vừa mang sức mạnh, lòng can trường và sự tháo vát của một chàng chiến binh Viking trẻ tuổi. Cha mẹ cậu nghèo lắm; họ chỉ có một nông trại cằn cỗi, nhọc nhằn. Mẹ cậu phải ra đồng cày cuốc cùng chồng mỗi khi mùa màng gấp gáp. Bà đã sinh tới mười hai người con.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Walt Whitman

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.