Khi xe buýt đến Port Ellis, Patrick đã đứng sẵn ở đó đợi tôi. Chúng tôi dần có những buổi đi dạo cùng nhau trên bãi biển vào mỗi sáng từ nửa tháng nay. Và khi Patrick gợi ý muốn đi chơi cùng tôi vào buổi chiều anh được nghỉ, tôi chỉ thoáng do dự trong giây lát trước khi gật đầu đồng ý. Tôi không thể dành cả đời sống trong sợ hãi được.
“Chúng ta đang đi đâu đây?” Tôi hỏi, nhìn quanh tìm gợi ý. Chúng tôi vừa đi qua nhà Patrick nhưng không rẽ vào, cứ thế đi qua cả quán rượu trong làng.
“Rồi em sẽ biết.”
Chúng tôi ra khỏi làng và đi dọc con đường dẫn xuống phía biển. Tay chúng tôi chạm vào nhau khi sóng đôi. Những ngón tay của Patrick đan vào tay tôi. Tôi cảm thấy như có một luồng điện chạy qua, và tôi để tay mình giữ yên trong tay anh một cách thoải mái.
Thời gian gần đây, chuyện tôi và Patrick qua lại với nhau đã lan truyền khắp Penfach với tốc độ nhanh chóng mặt. Hôm qua tôi tình cờ gặp Iestyn tại cửa hàng trong làng.
“Tôi nghe nói cô đang hẹn hò với con trai của Alun Mathews.” Ông nhếch mép cười, “Cậu ta là người tốt, Patrick ấy. Cô có thể đã vớ phải những anh chàng tệ hơn rất nhiều.” Mặt mũi tôi đỏ ửng lên.
“Khi nào ông rẽ qua xem hộ cháu cái cửa trước được không?” Tôi hỏi để đổi sang chủ đề khác, “Tình hình vẫn chẳng khá hơn tí nào: ổ khóa vẫn kẹt chìa khiến đôi khi cháu không tài nào vặn nổi.”
“Cô không cần phải lo chuyện đó.” Iestyn đáp, “Ở đây chẳng có trộm cắp gì đâu.”
Tôi phải hít vào một hơi trước khi tiếp lời Iestyn vì biết rằng ông sẽ nghĩ tôi kỳ lạ khi suốt ngày khóa cửa. “Giúp cháu đi”, tôi nói, “cháu sẽ thấy yên tâm hơn nếu được sửa khóa.”
Một lần nữa Iestyn hứa sẽ rẽ qua chỗ tôi để xử lý cái cửa, nhưng khi tôi tranh thủ ra ngoài vào giờ ăn trưa thì đã chẳng thấy bóng dáng ông đâu. Và tôi phải mất tới mười phút mới khóa được cửa.
Con đường như tiếp tục bị thu hẹp lại, và tôi có thể thấy thấp thoáng hình ảnh những làn sóng biển dập dềnh phía cuối con đường.
Nước biển xám xịt, đầy vẻ hăm dọa; bọt nước trắng xóa của những con sóng dữ vỡ tung vào không gian. Những con mòng biển chao liệng, liên tục bị những cơn gió náu mình quanh vịnh thổi táp vào người. Cuối cùng, tôi cũng nhận ra nơi Patrick đưa tôi đến.
“Trạm thuyền cứu hộ! Chúng ta có thể vào được không?”
“Anh định thế mà.” Anh nói, “Em biết phòng khám thú y rồi; anh nghĩ có thể em sẽ thích chỗ này - anh dành thời gian ở đây cũng nhiều gần bằng ở đó vậy.”
Trạm thuyền cứu hộ Port Ellis là một tòa nhà trông khá kỳ lạ, có thể bị nhầm thành một cơ sở công nghiệp nào đó nếu không có đài quan sát nhô lên trên nóc; bốn khung cửa sổ bằng kính của nó làm tôi nghĩ rằng nó giống đài kiểm soát không lưu hơn.
Chúng tôi bước qua hai cánh cửa trượt lớn màu xanh dương ở sảnh tòa nhà, rồi Patrick nhập mật khẩu vào cái hộp màu xám đặt cạnh một cánh cửa nhỏ hơn phía bên kia.
“Đi nào, anh sẽ dẫn em tham quan xung quanh.”
Bên trong, trạm cứu hộ có mùi mồ hôi và mùi biển, vị muối mặn mòi còn vương lại trên quần áo. Nhà để thuyền bị choán chỗ bởi cái mà Patrick bảo tôi là “cái xuồng” - một con thuyền hơi màu cam sáng, với đáy cứng và có thể bơm phồng lên khi cần.
“Bọn anh thường bám vào thành thuyền khi đi cứu hộ.” Anh nói, “nhưng khi thời tiết xấu, thì tất cả những gì có thể làm là ngồi yên trên thuyền mà thôi.”
Tôi đi lang thang quanh khu nhà, xem xét những tờ thông báo đính ở cửa, những danh sách thiết bị được đánh dấu cẩn thận. Trên tường có treo một tấm bảng tưởng niệm ba tình nguyện viên thiệt mạng hồi năm 1916.
“Coxswain P. Grant cùng hai thành viên trong đội, Harry Ellis và Glyn Barry.” Tôi đọc to, “Thật khủng khiếp.”
“Họ đã thiệt mạng khi đang đi cứu một con tàu hơi nước gặp sự cố trên bán đảo Gower.” Patrick nói và bước đến gần, quàng cánh tay lên vai tôi giải thích. Chắc hẳn anh đã nhìn thấy vẻ mặt của tôi, bởi sau đó anh nói thêm, “Hồi đó không như bây giờ - số thiết bị họ có khi ấy không bằng một nửa số bọn anh có bây giờ.”
Anh nắm lấy tay và dẫn tôi rời nhà để thuyền sang một căn phòng nhỏ khác. Ở đây có một người đàn ông, trong bộ đồ lông cừu màu xanh dương đang pha cà phê. Anh ta có gương mặt với nước da sần sùi của một người đã dành cả đời lăn lộn bên ngoài.
“Khỏe không, David?” Patrick chào, “Đây là Jenna.”
“Cậu ta đang dẫn cô đi tham quan hả?” David nháy mắt với tôi và tôi mỉm cười trước lời bông đùa của David.
“Trước kia tôi không để tâm nhiều về những con thuyền cứu hộ.” Tôi nói, “Tôi chỉ coi sự hiện diện của chúng như một lẽ đương nhiên.”
“Chúng sẽ không ở đây được lâu hơn nữa nếu chúng tôi không đấu tranh”, David vừa nói vừa khuấy một thìa đầy đường vào cốc cà phê sóng sánh. “Chi phí vận hành của chúng tôi do RNLI [1] chi trả chứ không phải chính phủ. Vì thế chúng tôi luôn phải tìm cách gây quỹ, chưa kể tới việc còn phải tìm tình nguyện viên.”
“David là người quản lý các hoạt động tại đây.” Patrick nói, “Anh ấy điều hành cái trạm này - và kiểm soát mọi thứ.”
David cười to, “Cậu ta nói không sai lắm đâu.”
Điện thoại bỗng đổ chuông, âm thanh vang lên chói tai trong căn phòng trống của đội cứu hộ và David chạy ra ngoài nghe máy. Vài giây sau anh ta quay lại, cởi cái áo lông cừu rồi chạy sang nhà để thuyền.
“Ca nô lật ngoài khơi vịnh Rhossili.” Anh ta hét lên với Patrick, “Ông bố và đứa con trai đang mất tích. Helen đã gọi Gary và Aled.”
Patrick mở một tủ có khóa và kéo ra một mớ cao su lùng nhùng màu vàng, một cái áo phao cứu sinh màu đỏ và một bộ áo quần chống thấm nước màu xanh đậm. “Anh rất xin lỗi, Jenna, anh phải đi bây giờ.” Patrick vận một bộ đồ chống thấm nước ở bên ngoài quần jean và áo nỉ. “Em cầm chìa khóa và về nhà anh đợi nhé. Anh sẽ về nhanh thôi.” Patrick rời đi rất nhanh. Trước khi tôi kịp đáp lại, anh đã chạy vào nhà để thuyền trong khi hai người đàn ông khác lao vút qua cánh cửa trượt đã được mở rộng sẵn sàng.
Chỉ trong vài phút, bốn người đàn ông đã kéo con thuyền xuống nước, nhẹ nhàng nhảy lên nó. Một người trong số đó - tôi không nhận ra là ai - kéo sợi dây để nổ máy động cơ trên thuyền, và nó lao vút đi, dập dềnh theo những con sóng.
Tôi đứng đó, nhìn cái bóng màu da cam ngày một nhỏ dần, cho tới khi nó mất hút trong khung màu xám xịt của biển cả.
“Họ nhanh thật, phải không?”
Tôi quay lại và nhìn thấy một người phụ nữ tựa người vào cánh cửa phòng của đội cứu hộ. Người phụ nữ trạc năm mươi tuổi, với những sợi tóc xám bạc lẫn trong mái tóc đen. Bà mặc một chiếc áo cánh có họa tiết với phù hiệu RNLI ghim trước ngực.
“Tôi là Helen.” Bà nói, “Công việc của tôi trả lời điện thoại, dẫn khách tham quan đi ngắm nghía vòng quanh, những việc đại loại như vậy. Cô chắc hẳn là bạn gái của Patrick?”
Tôi lại đỏ bừng mặt trước sự suy đoán quen thuộc này. “Tôi là Jenna. Đầu tôi đang quay mòng mòng đây. Toàn bộ hoạt động triển khai cứu hộ lúc này chắc không đến 15 phút đâu nhỉ?”
“12 phút và 35 giây.” Helen nói. Bà mỉm cười trước sự ngạc nhiên không giấu giếm của tôi. “Chúng tôi phải ghi lại hồ sơ tất cả những cuộc gọi cấp cứu và công tác chuẩn bị. Tất cả các tình nguyện viên chỉ sống cách đây vài phút đi bộ. Gary ở ngay phía đường trên kia, còn Aled có một cửa hàng thịt ở ngay phố này.”
“Cửa hàng sẽ ra sao khi anh ấy được gọi đi làm nhiệm vụ?”
“Anh ấy treo một tấm biển thông báo ngoài cửa. Dân ở đây đã quá quen với điều này rồi, bởi anh ấy đã làm như thế suốt hai mươi năm qua.”
Tôi quay lại nhìn mặt biển, bây giờ đã không còn con thuyền nào, trừ một con tàu lớn ở ngoài khơi rất xa. Những đám mây nặng trĩu đã sà xuống, che lấp cả đường chân trời; bầu trời và đại dương hòa với nhau, tạo thành một đống hỗn độn màu xám xoáy tít.
“Họ sẽ ổn thôi.” Helen nhẹ nhàng trấn an, “Cô sẽ không bao giờ ngừng lo lắng, nhưng rồi cô sẽ quen với việc đó thôi.”
Tôi nhìn Helen một cách tò mò.
“David là chồng tôi.” Helen giải thích, “Sau khi về hưu, anh ấy dành nhiều thời gian ở trạm hơn ở nhà, nên cuối cùng tôi đành chiều theo nhiệm vụ cao cả mà anh ấy muốn gắn bó và hy sinh này. Tôi rất ghét cảm giác khi lần đầu thấy David ra khơi cứu hộ trong tiếng la hét. Bởi điều đó đồng nghĩa với việc anh ấy phải xa nhà. Thực lòng mà nói khi nhìn thấy đội cứu hộ ra đi trong thời tiết như thế này…”, bà rùng mình, “nhưng họ đã trở lại. Họ luôn luôn trở lại.”
Helen chạm nhẹ lên cánh tay tôi, và tôi thấy biết ơn sự thấu hiểu của người phụ nữ luống tuổi này.
“Cô cũng thấy thế đúng không?” Tôi nói, “Rằng cô…” Tôi dừng lại, không dám thừa nhận, ngay cả với bản thân mình.
“Cô mong họ về nhà đến nhường nào?” Helen nhẹ nhàng tiếp lời.
Tôi gật đầu, “Đúng vậy.”
“Cô có muốn tôi dẫn đi xem nốt cả trạm không?”
“Không, cảm ơn cô.” Tôi nói, “Tôi nghĩ mình sẽ quay lại nhà của Patrick và đợi anh ấy ở đó.”
“Cậu ta là một người đàn ông tốt.”
Tôi tự hỏi lời nói của bà có phải là thật không. Tôi tự hỏi làm sao bà biết điều đó. Tôi rảo bước lên dốc, chốc chốc lại ngoái nhìn với hy vọng con thuyền màu cam sẽ xuất hiện trở lại. Nhưng tôi chẳng nhìn thấy gì và trong lòng quặn lên nỗi lo lắng khôn nguôi. Tôi cảm giác sẽ có một điều tồi tệ gì đó sắp xảy ra.
Cảm giác thật lạ khi ở trong nhà Patrick mà không có anh, và tôi phải cố ngăn mình không bước lên cầu thang để lên tầng và ngắm phần còn lại của ngôi nhà. Không muốn để bản thân nhàn rỗi rồi suy nghĩ vẩn vơ, tôi mở radio nghe đài phát thanh địa phương và rửa số chén bát đang chất chồng trong bồn rửa.
“Một người đàn ông và cậu con trai tuổi teen đang mất tích sau khi ca nô của họ bị lật úp cách vịnh Rhossili một dặm.”
Tiếng radio kêu xoèn xoẹt với những âm thanh nhiễu và tôi phải vặn tới vặn lui cái nút dò để tìm một tần số tốt hơn.
“Tàu cứu hộ ở Port Ellis đã xuất phát sau khi nhận được tin báo từ người dân địa phương, nhưng đến lúc này hai người bị mất tích vẫn chưa được tìm thấy. Chúng tôi sẽ tiếp tục cập nhật thông tin.”
Gió đang thổi mạnh liên hồi qua những hàng cây tới mức khiến chúng gần như bị cong lại. Từ ngôi nhà của Patrick, tôi không thể trông thấy biển, và tôi không chắc là mình thấy vui vì điều đó, hay nên xuôi theo cảm giác thôi thúc phải đi ra trạm tàu cứu hộ và đứng ngóng cái chấm màu da cam nhỏ xíu ở ngoài xa.
Tôi rửa xong chén bát và lau tay vào khăn lau bát cho khô rồi rảo bước quanh căn bếp. Chạn bát đĩa chất đầy giấy tờ và không hiểu sao tôi thấy vẻ lộn xộn của nó mang đến cảm giác dễ chịu đến khó hiểu. Tôi đặt tay lên tay nắm cửa tủ, trong đầu vẫn vang lên những lời dặn dò của Patrick.
Dù em có làm gì, cũng đừng mở cửa.
Trong đó có gì mà anh ấy không muốn tôi thấy? Tôi ngoái lại nhìn qua vai, như thể sợ anh sẽ bước vào bất cứ lúc nào, rồi kéo cánh cửa một cách quyết đoán. Ngay lập tức, một số thứ rơi ra, tôi ré lên, đưa một tay ra để chộp lấy cái bình trước khi nó rơi xuống sàn nhà lát gạch và vỡ tan. Tôi xếp lại nó giữa những món đồ thủy tinh lộn xộn; bên trong tủ thoảng mùi hoa oải hương ẩm mốc tỏa ra từ lớp khăn vải lót bên trong. Trong này không có gì đáng nghi cả: chỉ là một bộ sưu tập những ký ức.
Tôi toan đóng cửa tủ lại nhưng vô tình trông thấy phần cạnh bạc của một khung ảnh thò ra giữa một đống khăn trải bàn. Tôi cẩn thận kéo cái khung ảnh ra. Đó là một bức ảnh chụp Patrick, vòng tay quanh một người phụ nữ có mái tóc ngắn màu vàng hoe và hàm răng trắng đều. Họ đều đang mỉm cười, không phải với ống kính máy ảnh, mà là với nhau. Tôi tự hỏi cô ấy là ai, và tại sao Patrick giấu tôi bức ảnh này. Có phải anh từng nghĩ sẽ lấy cô gái này làm vợ hay không? Tôi quan sát bức ảnh, cố tìm một dấu hiệu gì đó chỉ ra thời điểm chụp ảnh. Patrick trông vẫn như bây giờ, và tôi tự hỏi người phụ nữ này đã là dĩ vãng, hay vẫn là một phần trong cuộc sống hiện tại của anh. Có lẽ tôi không phải là người duy nhất giấu những bí mật. Tôi đặt lại khung ảnh vào giữa những tấm khăn trải bàn và đóng cánh cửa tủ, những vật bên trong lại trở về đúng vị trí mà tôi đã tìm thấy chúng.
Tôi đi qua đi lại trong bếp, dần phát mệt vì sự bồn chồn của mình và quyết định đi pha một tách trà, rồi ngồi xuống bàn và uống.
Mưa tạt vào mặt tôi từng cơn tê rát, làm hai mắt tôi nhòe đi và lấp đầy tầm nhìn của tôi bằng những dáng hình mờ ảo. Tôi gần như không nghe thấy tiếng ồn của động cơ trong tiếng gió rít, nhưng vẫn nghe thấy tiếng “thịch” lớn khi Jacob va vào nắp ca pô, tiếng “rầm” khi thân thể con đập xuống mặt đường nhựa.
Và rồi đột nhiên thứ nước đang đọng trong mắt tôi không còn là nước mưa mà là nước biển. Và tiếng động cơ đó không phải là của một chiếc xe hơi, mà là âm thanh bình bịch của chiếc thuyền cứu hộ. Và dù tiếng thét là của tôi, nhưng gương mặt ngước lên nhìn tôi - đôi mắt sâu thăm thẳm với hàng lông mi ướt nhẹp - gương mặt đó không phải của Jacob, mà là của Patrick.
“Em xin lỗi.” Tôi kêu lên, không chắc liệu mình có đang nói ra tiếng hay không, “Em không cố ý!”
Một bàn tay lay lay vai tôi, mạnh mẽ kéo tôi ra khỏi giấc ngủ. Bối rối, tôi ngẩng đầu lên khỏi hai cánh tay đang xếp khoanh lại, góc bàn nơi tôi gục đầu xuống vẫn còn vương hơi ấm và tôi cảm nhận được hơi lạnh của căn bếp đang phả vào mặt. Ánh điện sáng quắc rọi thẳng vào mắt khiến tôi phải đưa tay lên che mặt. “Không!”
“Jenna, tỉnh lại đi. Jenna, em đang mơ.”
Từ từ, tôi thả tay xuống, hé mắt ra và nhìn thấy Patrick đang quỳ trước cái ghế tôi ngồi. Tôi há hốc mồm, nhưng không thể nói gì, vẫn chưa thực sự thoát khỏi cơn ác mộng và choáng ngợp với sự nhẹ nhõm khi anh đang ở đó.
“Em mơ thấy cái gì vậy?”
Tôi trả lời một cách đứt đoạn, “Em… em không chắc nữa. Em đã rất sợ hãi.”
“Em không cần phải sợ nữa.” Patrick bảo tôi, và anh vuốt lọn tóc ướt đẫm mồ hôi của tôi sang bên thái dương rồi dùng hai tay ôm trọn lấy khuôn mặt tôi, “Có anh ở đây rồi.”
Gương mặt anh trông trắng nhợt, với những giọt nước mưa vương trên tóc và đôi bờ mi. Đôi mắt anh, bình thường luôn sáng rỡ, giờ đây trống rỗng và tăm tối. Trông anh có vẻ bị tổn thương, và không một chút nghĩ ngợi, tôi nghiêng người về phía trước và hôn lên môi anh. Anh đáp lại nụ hôn của tôi một cách đầy khao khát, ôm trọn lấy gương mặt tôi bằng cả hai tay. Nhưng rồi anh đột ngột buông tôi ra và áp trán anh vào trán tôi.
“Họ đã dừng việc tìm kiếm.”
“Dừng ư? Ý anh là cha con họ vẫn đang mất tích?”
Patrick gật đầu, và tôi nhìn thấy những cảm xúc trĩu nặng đang dâng đầy trong mắt anh. Anh khuỵu xuống sàn nhà. “Bọn anh sẽ lại ra đó ngay khi mặt trời mọc vào sáng mai.” Patrick nói dứt khoát, “Nhưng không ai giả vờ gì nữa.” Rồi anh nhắm mắt lại, gối đầu vào lòng tôi và gạt đi những giọt lệ xót thương cho hai cha con đã bất chấp tất cả những dấu hiệu cảnh báo mà tự tin dong buồm ra khơi.
Tôi vuốt tóc anh, nước mắt cũng tuôn rơi. Tôi khóc cho cậu bé đang cô đơn giữa biển; khóc cho mẹ cậu bé; khóc vì những giấc mơ ám ảnh tôi hàng đêm; khóc cho Jacob; cho đứa con trai bé bỏng của tôi.
---------------------------
❀ ❀ ❀
[1] Royal National Lifeboat Institution: Cơ quan Cứu hộ Hoàng gia Anh.