Tiếng kim loại va đập làm tôi giật bắn người. Sau khi thanh tra thám tử Stevens rời khỏi buồng giam tối qua, tôi chỉ nằm đó, mắt trân trân nhìn lên lớp sơn đang bong tróc trên trần nhà, cảm nhận rõ rệt cái lạnh qua tấm nệm đặt trên bệ bê tông dưới lưng đang thấm dần vào da thịt. Khi nhấc mình ngồi dậy, tay chân tôi đau nhức, còn đầu thì ong ong.
Có thứ tiếng sột soạt bên cửa, và tôi nhận ra tiếng ‘thịch’ đó là âm thanh từ một ô cửa hình vuông ở chính giữa cánh cửa lớn được mở ra; từ chỗ đó, một cái khay nhựa đang được một bàn tay đẩy vào.
“Nhận lấy đi, tôi không có nhiều thời gian đâu.”
Tôi nhận lấy cái khay, “Có thể cho tôi xin một ít thuốc giảm đau được không?”
Người cai ngục đang đứng bên ngoài ô cửa khiến tôi không thể nhìn thấy mặt cô ta ngoài việc nhận ra cô đang vận một bộ đồng phục màu đen với một mái tóc vàng xoăn lọn rối bù. “Không có bác sĩ ở đây. Cô sẽ phải chờ cho tới khi ra tòa.” Cô ta gần như nói xong trước cả khi ô cửa hình vuông được đóng lại, hòa cùng tiếng kim loại va lanh canh vọng khắp buồng giam, và tôi nghe thấy tiếng bước chân nặng nề của cô ta xa dần.
Tôi ngồi trên giường và uống cốc trà đã sánh ra vương vãi trên khay. Trà còn hơi ấm và ngọt sắc vì bỏ nhiều đường, nhưng tôi uống như sắp chết khát đến nơi - từ trưa qua đến giờ tôi chẳng có gì bỏ bụng. Bữa sáng có xúc xích và đậu đựng trong một cái hộp có thể dùng trong lò vi sóng. Nhựa đã chảy ra quanh bốn mép hộp, và những hạt đậu ngụp lặn trong một lớp nước sốt màu cam sáng. Tôi bỏ lại chỗ đồ ăn trên khay cùng cái cốc rỗng và đi vệ sinh. Không có bệ để ngồi, chỉ có một cái bồn bằng kim loại và những tờ giấy lau thô ráp. Tôi vội vàng làm thật nhanh trước khi người quản ngục quay lại.
Khi những tiếng bước chân lại vang lên, chỗ thức ăn bỏ mứa của tôi đã nguội ngắt từ lâu. Họ dừng lại bên ngoài buồng giam của tôi và một lần nữa tôi nghe thấy tiếng những chiếc chìa khóa va leng keng vào nhau, rồi cánh cửa nặng nề bật mở và tôi nhìn thấy một cô gái khoảng hai mươi tuổi với vẻ mặt cáu kỉnh. Bộ đồng phục màu đen và mái tóc vàng bóng dầu cho tôi biết cô ta chính là người đã mang bữa sáng cho tôi, và tôi chỉ vào cái khay đang nằm trên nệm.
“Tôi e là mình không thể ăn được thứ đó.”
“Tôi không ngạc nhiên.” Người quản ngục đáp và khịt mũi cười, “Dù có chết đói thì tôi cũng không bao giờ đụng vào nó.”
Tôi ngồi trên băng ghế kim loại đối diện với bàn của trại giam và xỏ chân vào bốt. Bên cạnh tôi có ba người khác: tất cả đều là đàn ông, và đều mặc quần thể thao cùng áo có mũ giống nhau đến nỗi lúc đầu tôi cứ nghĩ là họ mặc một kiểu đồng phục nào đó. Họ thả lỏng người, dựa lưng vào tường, trông thoải mái như ở nhà trong khi tôi cảm thấy mình như một kẻ lạc loài. Tôi xoay mình đọc những thông báo dán chi chít trên trần, nhưng chẳng cái nào khiến tôi lưu tâm. Những thông tin về luật sư, phiên dịch viên, những tội danh “được cân nhắc”. Tôi có cần phải biết chuyện gì đang xảy ra không? Mỗi khi nỗi sợ hãi dâng lên, tôi lại hồi tưởng về những gì mình đã làm, và tôi cần phải sợ hãi.
Chúng tôi chờ khoảng nửa tiếng hoặc hơn tới khi có tiếng chuông rè rè vang lên và trung sĩ canh giữ ngước nhìn màn hình CCTV trên tường, nơi một chiếc xe tải lớn màu trắng đang choán hết màn hình.
“Xe Limo đến rồi kìa, các vị.” Anh ta bảo chúng tôi.
Gã trai ngồi cạnh tôi rít qua kẽ răng, lẩm bẩm gì đó tôi không nghe ra và tôi cũng chẳng muốn nghe.
Trung sĩ cảnh sát mở cửa cho hai viên bảo vệ của công ty Reliance. “Hôm nay anh có bốn người, Ash.” Anh ta nói với một viên sĩ quan nam khác, “Này, City tối qua bị kêu ca lắm hả?” Anh ta chậm rãi gật đầu như thể cảm thông, nhưng lại nở một nụ cười rõ tươi, và người tên Ash đấm nhẹ lên vai anh ta một cách thân mật.
“Rồi chúng ta sẽ thắng thôi.” Anh ta nói. Anh ta lần đầu liếc nhìn chúng tôi, “Có đầy đủ giấy tờ của họ rồi phải không?”
Hai người đàn ông tiếp tục tán chuyện về bóng đá, và nữ sĩ quan Reliance còn lại tiến về phía tôi.
“Cô ổn chứ?” Cô ấy hỏi. Nữ sĩ quan có vẻ ngoài phúc hậu như một bà mẹ, trái ngược với vẻ nghiêm nghị của bộ đồng phục cô đang mặc, và hình ảnh đó khiến tôi muốn bật khóc một cách kỳ cục. Cô ấy bảo tôi đứng lên, rồi lướt tay quanh hai cánh tay, lưng và hai chân tôi. Cô luôn một ngón tay vào lưng quần tôi và kiểm tra dây áo lót qua lớp áo sơ mi của tôi. Tôi biết những gã trai trên băng ghế đang lấy khuỷu tay huých nhau và tôi có cảm giác như mình bị lột trần ra trước những cặp mắt hau háu ấy. Viên sĩ quan còng cổ tay phải của tôi vào tay trái của cô ấy, rồi đưa tôi ra ngoài.
Tôi được đưa tới tòa án trong một chiếc xe tải có vách ngăn, làm tôi nhớ tới những toa chở ngựa tại những buổi diễn ở quê nhà mà mẹ từng đưa tôi và Eve đi xem. Tôi cố gắng ngồi vững trên băng ghế hẹp khi chiếc xe tải ngoặt ở một chỗ rẽ, hai cổ tay tôi bị còng vào một sợi xích chạy dài hết chiều rộng của buồng ngăn. Không gian tù túng khiến cảm giác sợ hãi bị giam cầm trong tôi trỗi dậy và tôi nhìn chằm chằm vào khung cửa sổ bằng kính mờ đang đưa những tòa cao ốc ở Bristol lướt qua tôi trong một lăng kính vạn hoa đủ hình dáng và màu sắc. Tôi cố nương theo những cú giật và rẽ, nhưng chuyển động của chiếc xe làm tôi thấy như bị say sóng, và tôi nhắm mắt lại, tựa trán vào lớp kính lạnh lẽo.
Buồng giam di động của tôi được thay thế bằng một căn buồng cố định sâu trong tòa sơ thẩm. Họ cho tôi một tách trà - lần này là trà nóng - và bánh mỳ nướng vỡ vụn ra thành những que diêm trong cổ họng tôi. Luật sư của tôi sẽ tới vào lúc 10 giờ, họ bảo tôi. Làm thế nào mà bây giờ vẫn còn chưa tới 10 giờ? Tôi đã trải qua quãng thời gian dài bằng cả đời người ngày hôm nay rồi.
“Cô Gray?”
Vị luật sư còn trẻ tuổi và trông khá vô tư, bộ vest của anh ta có vẻ đắt tiền với những đường sọc thể hiện sự tự tin.
“Tôi không yêu cầu có luật sư.”
“Cô phải có một người đại diện pháp lý, cô Gray ạ, hoặc cô phải tự đại diện cho chính mình. Cô có muốn đại diện cho chính mình không?” Cái nhướn mày của anh ta cho thấy chỉ có những kẻ cực kỳ ngu ngốc mới cân nhắc một lựa chọn như vậy.
Tôi lắc đầu.
“Tốt. Nào, tôi hiểu cô đã thừa nhận trong buổi thẩm vấn về các tội danh gây chết người do lái xe thiếu an toàn, và không dừng lại khai báo sau khi tai nạn xảy ra. Tôi nói đúng chứ?”
“Vâng.”
Anh ta lật giở tập hồ sơ mang theo, dải ruy băng màu đỏ buộc hồ sơ bị tháo ra và vứt bừa trên bàn. Anh ta chẳng thèm nhìn tôi lấy một lần.
“Cô muốn tòa tuyên có tội hay vô tội?”
“Có tội.” Tôi đáp, và từ đó dường như bay lơ lửng trong không khí; đó là lần đầu tiên tôi nói ra câu đó thật rõ ràng. Tôi có tội.
Anh ta viết gì đó dài hơn một từ vào giấy, khiến tôi muốn nhòm qua vai anh ta để xem thử. “Tôi sẽ thay mặt cô xin tại ngoại, và xem ra cô có khá nhiều cơ hội để được phê chuẩn đấy. Không có tiền án tiền sự, tuân thủ các điều kiện tại ngoại hiện tại, trình diện khi hết hạn tại ngoại đúng hạn. Tất nhiên việc cô bỏ trốn lúc đầu sẽ chống lại chúng ta. Cô có vấn đề gì về sức khỏe tâm thần không?”
“Không.”
“Thật đáng tiếc. Nhưng không sao. Tôi sẽ cố gắng hết sức. Nào, cô có câu hỏi gì không?”
Hàng tá luôn, tôi nghĩ thầm.
“Không.” Tôi đáp.
“Mời mọi người đứng dậy.”
Tôi kỳ vọng sẽ nhiều người có mặt tại đây hơn, nhưng ngoài một người đàn ông trông chán chường ôm một quyển sổ ngồi ở góc tòa mà sĩ quan dẫn đường bảo tôi là người của báo giới, phiên tòa lần này có rất ít người tham dự. Luật sư của tôi ngồi ở giữa phòng, quay lưng lại với tôi. Một người phụ nữ trẻ mặc váy màu xanh hải quân ngồi cạnh anh ta, cắm cúi dùng bút nhấn dòng đánh dấu lên một tờ giấy in. Cũng ở chỗ cái bàn dài đó, nhưng cách vài bước chân là một cặp nhìn y hệt họ - các công tố viên.
Sĩ quan dẫn đường bên cạnh kéo tay áo tôi, và tôi nhận ra mình là người duy nhất vẫn còn đang đứng. Thẩm phán, một người đàn ông có gương mặt bé tẹo với mái tóc lưa thưa đã đến, và phiên tòa đã bắt đầu. Tim tôi bỗng đập mạnh và mặt tôi nóng bừng lên vì hổ thẹn. Những con người ít ỏi trong cái phòng triển lãm công cộng này đang nhìn tôi với vẻ tò mò, như thể tôi là một món đồ trưng bày trong bảo tàng. Tôi nhớ lại những gì mình từng đọc về những vụ hành quyết công khai ở Pháp: máy chém được đặt ở quảng trường thị trấn để tất cả dân chúng chứng kiến; những người phụ nữ vừa đan len vừa chờ đến giờ hành hình. Tôi rùng mình nhận ra hôm nay tôi giống như trò giải trí của họ.
“Mời bị cáo đứng dậy.”
Tôi đứng lên và báo tên khi người thư ký hỏi.
“Bị cáo biện hộ thế nào?”
“Có tội.” Giọng tôi nghe khàn khàn và tôi phải ho để làm trong họng, nhưng họ không bắt tôi nhắc lại.
Các luật sư tranh luận về việc xin tại ngoại trong một cuộc đấu khẩu dài dòng khiến đầu óc tôi quay cuồng.
Có quá nhiều rủi ro; bị cáo có thể bỏ trốn.
Bị cáo đã tuân thủ các điều kiện bảo lãnh; cô ấy sẽ tiếp tục chấp hành những điều kiện đó.
Cần cân nhắc một bản án chung thân.
Cần cân nhắc tới cả một cuộc đời.
Họ tranh cãi qua lại trước mặt thẩm phán, như những đứa trẻ đang có xích mích cãi nhau trước mặt phụ huynh. Những lời lẽ của họ cực kỳ giàu cảm xúc, được minh họa bằng những cử chỉ khoa trương bị phí phạm giữa phòng xử án trống trải. Họ rôm rả tranh luận với nhau về việc xin tại ngoại: rằng tôi nên tiếp tục ở trong tù cho tới phiên xử của Tòa án Hoàng gia, hay được ra tại ngoại và chờ phiên xét xử tại nhà. Tôi nhận ra rằng luật sư của mình đang bào chữa để tôi được thả ra, tôi muốn tóm lấy tay áo anh ta và bảo rằng tôi không muốn được tại ngoại. Trừ Beau, chẳng có ai đợi tôi ở nhà. Chẳng có ai sẽ nhớ tôi. Tôi sẽ an toàn ở trong tù. Nhưng tôi ngồi im không lên tiếng, hai tay đặt vào lòng, không biết chắc mình nên thể hiện hình ảnh như thế nào. Mà có lẽ cũng chẳng có ai nhìn tôi. Tôi chỉ là một kẻ vô hình. Tôi cố bám sát biện luận của các luật sư để xem ai sẽ thắng cuộc khẩu chiến này, nhưng rồi nhanh chóng lạc lối ngay trong vở kịch sân khấu mà họ tạo ra.
Cuộc tranh luận ồn ào có phần tạm lắng xuống, viên thẩm phán nhìn tôi một cách nghiêm nghị. Tôi bỗng có mong muốn kỳ cục là phải nói cho ông ta biết rằng tôi không giống như những nghi phạm khác ra trình diện trước tòa án của ông ta trước đó.
Rằng tôi cũng lớn lên trong một gia đình giống ông ta, và rằng tôi cũng từng đi học đại học; cũng từng tổ chức những bữa tiệc tối; cũng từng có bạn bè. Rằng tôi từng là một người tự tin và sôi nổi. Rằng trước sự kiện năm ngoái, tôi chưa bao giờ vi phạm luật pháp, và rằng những gì đã xảy ra là một sai lầm khủng khiếp. Nhưng ánh mắt thẩm phán không tỏ ra hứng thú, và tôi nhận ra ông ta không quan tâm tôi là ai, cũng như tôi đã tổ chức bao nhiêu bữa tiệc tối. Tôi chỉ đơn giản là một kẻ tội phạm bước qua những cánh cửa phòng xử án của ông ta; chẳng có gì khác biệt so với những người khác. Một lần nữa, tôi lại cảm thấy nhân phẩm của mình bị coi thường.
“Luật sư đã tha thiết biện hộ cho cô quyền được tại ngoại, cô Gray”, thẩm phán cất tiếng, “và bảo đảm với tôi rằng cô sẽ không bỏ trốn lần nữa trước khi cô lên được mặt trăng.” Một tiếng cười khúc khích vang lên từ hàng ghế ngồi dân sự, đó là tiếng cười của hai bà già nhét mình vào dãy ghế thứ hai cùng một cái bình giữ nhiệt. Những người phụ nữ đan len thời hiện đại của tôi. Khóe miệng thẩm phán nhếch lên một cách tán dương, “Luật sư biện hộ rằng hành động bỏ trốn khỏi hiện trường vụ án của thân chủ, thực sự đáng lên án nhưng đó chỉ là một khoảnh khắc điên rồ, hoàn toàn không giống với tính cách của cô và sẽ không bao giờ lặp lại. Vì lợi ích của tất cả chúng ta, cô Gray à, tôi hy vọng là anh ta nói đúng.” Ông ta dừng lại, và tôi nín thở.
“Được phép tại ngoại.”
Tôi buông một tiếng thở dài mà người ngoài có thể nhầm lẫn với một tiếng thở phào.
Có tiếng ồn từ khu vực báo giới ngồi và tôi thấy một người đàn ông trẻ tuổi tay cầm sổ len lén rời hàng ghế, cuốn sổ bị nhét một tùy tiện vào túi áo khoác của anh ta. Đầu anh ta va nhẹ vào dãy ghế trước khi bỏ đi, để lại cánh cửa đu đưa sau lưng.
“Mời đứng dậy.”
Khi thẩm phán rời phòng xử án, tiếng rì rầm trò chuyện dần to lên, và tôi thấy luật sư của mình nghiêng người về phía công tố viên. Họ cười về chuyện gì đó, rồi anh ta đi về phía vành móng ngựa để nói chuyện với tôi.
“Một kết quả tốt!” Anh ta nói, mỉm cười rạng rỡ, “Vụ án đã được hoãn lại để xét xử ở Tòa án Hoàng gia vào ngày 17 tháng Ba - cô sẽ nhận được thông tin về hỗ trợ pháp lý và những lựa chọn đại diện tại tòa của mình. Về nhà an toàn nhé, cô Gray.”
Thật kỳ lạ khi được tự do rời khỏi phòng xử án, sau 24 tiếng ngồi trong tù. Tôi đến căng tin và mua một cốc cà phê mang đi, tự mình làm bỏng lưỡi vì không thể kiên nhẫn chờ uống một thứ gì đó mạnh hơn nước trà ở đồn cảnh sát.
Một mái nhà bằng kính lợp phía trên lối vào Tòa sơ thẩm Bristol, chắn những giọt mưa tí tách nhỏ xuống những nhóm người đang túm năm tụm ba phía dưới, trò chuyện với nhau một cách vội vã giữa những cữ xì gà. Khi đang bước xuống các bậc cầu thang, tôi bị một người phụ nữ đi ngược chiều huých phải, cà phê tràn ra từ cái nắp nhựa đóng cẩu thả đổ tung tóe vào tay tôi.
“Xin lỗi.” Tôi nói một cách máy móc. Nhưng khi tôi dừng lại và ngước lên, người phụ nữ đó cũng dừng lại, và cô ta đang cầm trong tay một chiếc micro. Một ánh đèn chớp nhoáng lóe lên làm tôi giật mình, và tôi nhìn thấy một người chụp ảnh đứng cách tôi vài bước.
“Cô cảm thấy thế nào về khả năng ngồi tù, Jenna?”
“Gì cơ? Tôi…”
Chiếc micro bị đẩy lại gần đến mức gần như đập vào môi tôi. “Cô sẽ vẫn giữ lời biện hộ là có tội ngày hôm nay chứ? Cô nghĩ gia đình Jacob hiện đang cảm thấy thế nào?”
“Tôi, vâng, tôi…”
Rất nhiều người đang dồn ép tôi từ mọi hướng, những câu hỏi của phóng viên ồn ào chồng lên một câu thần chú nào đó mà tôi không giải mã nổi. Có nhiều tiếng ồn đến nỗi tôi có cảm giác như đang đứng giữa một sân bóng đá, hay một quảng trường nơi tổ chức đại nhạc hội. Tôi không thở nổi, và khi cố quay đi tôi lại bị đẩy về hướng ngược lại. Có người túm vào áo khoác của tôi, và tôi mất thăng bằng, ngã dúi dụi về hướng một ai đó, người đó bèn thô bạo đẩy tôi đứng dậy. Tôi nhìn thấy một tấm biểu ngữ vụng về được khua khoắng trên đầu của một nhóm những người biểu tình. Ai đó đã viết tấm biểu ngữ với những chữ đầu quá to khiến những chữ cái cuối cùng phải viết díu vào nhau mới vừa đủ chỗ. Công lý cho Jacob!
Chính là nó. Đó chính là câu thần chú tôi nghe thấy.
“Công lý cho Jacob! Công lý cho Jacob!” Câu đó lặp đi lặp lại, cho tới khi tứ phía xung quanh tôi đều đã ngập tràn câu nói cay đắng đó. Tôi nhìn sang bên tìm một khoảng trống, nhưng chỗ đó cũng kín đặc người. Cốc cà phê tuột khỏi tay tôi, văng cả nắp ra khi rơi xuống đất, cà phê bắn tung tóe lên giày tôi và chảy ròng ròng theo các bậc thang. Tôi lại loạng choạng, và trong một thoáng tôi nghĩ mình sẽ ngã và bị đám đông giận dữ kia giẫm nát dưới chân.
“Đồ thối tha!”
Tôi nhìn ra một khuôn miệng xoắn lại giận dữ và một đôi vòng tai to tướng đang đung đưa từ bên này sang bên nọ. Người phụ nữ rít lên một tiếng như người nguyên thủy trong cổ họng, rồi khạc thứ dính nhớp đó vào mặt tôi. Tôi quay mặt đi vừa kịp lúc và miếng nước bọt âm ấm dính vào cổ tôi rồi trôi tuột xuống bên dưới cổ áo khoác. Nó khiến tôi bị sốc giống như bị chính bà ta đấm vào mặt, và tôi bật khóc, giấu mặt sau hai cánh tay giơ lên, chờ đợi đợt tấn công tiếp theo.
“Công lý cho Jacob! Công lý cho Jacob!”
Tôi bỗng cảm thấy một bàn tay nắm lấy vai mình và tôi như đông cứng người lại, dáo dác nhìn quanh và điên cuồng tìm một lối thoát.
“Chúng ta nên đi đường nào có phong cảnh đẹp hơn chứ nhỉ?”
Đó là thanh tra thám tử Stevens, gương mặt ông ta trông dữ tợn và đầy cương quyết khi mạnh mẽ kéo tôi lùi lên những bậc thang và quay lại bên trong tòa án. Ông ta buông tôi ra khi chúng tôi đã an toàn đi qua cửa an ninh, nhưng không nói gì. Tôi bám gót ông ta trong im lặng qua nhiều cánh cửa dẫn ra một khoảng sân tĩnh mịch ở phía sau tòa án. Ông ta chỉ về phía một cánh cổng.
“Lối đó sẽ dẫn cô ra bến xe buýt. Cô không sao chứ? Cô có cần tôi gọi cho ai giúp cô không?”
“Tôi không sao. Cảm ơn ông. Tôi không biết mình sẽ phải làm gì nữa nếu không có ông ở đây.” Tôi nhắm mắt lại trong một giây.
“Lũ kền kền chết tiệt.” Thanh tra thám tử Stevens càu nhàu, “Báo chí nghĩ họ đang làm việc của mình, nhưng họ sẽ không bao giờ dừng lại tới khi moi ra được một câu chuyện. Những người biểu tình thì, chà, có thể nói rằng trong số đám người kia, có vài kẻ thậm chí chẳng bận tâm đến việc tắm rửa hay gì khác ngoài việc đứng ôm khẩu hiệu xoay đi xoay lại. Cho dù vấn đề là gì, cô sẽ luôn thấy họ đứng trên bậc thềm tòa án biểu tình. Thế nên đừng nghĩ rằng hành động của họ đang nhắm vào cá nhân cô.”
“Tôi sẽ gắng để không cảm thấy thế.” Tôi mỉm cười một cách lúng túng và quay người định đi, nhưng ông ta ngăn tôi lại.
“Cô Gray?”
“Vâng?”
“Cô có từng sống tại số 127 phố Grantham không?”
Mặt tôi bỗng cắt không còn giọt máu; và tôi cố nặn ra một nụ cười.
“Không, thanh tra”, tôi cẩn thận đáp, “không, tôi chưa bao giờ sống ở đó.” Ông ta trầm ngâm gật đầu, rồi giơ một tay lên vẫy chào tạm biệt tôi.
Tôi đi về phía cánh cổng, vừa đi vừa ngoái đầu lại và thấy ông ta vẫn đang đứng đó, dõi theo tôi.
Thật may mắn, chuyến tàu tới Swansea gần như chẳng có một bóng người. Tôi vùi mình vào ghế ngồi và nhắm mắt lại. Tôi vẫn chưa hết run sau khi đối mặt với những người biểu tình. Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ và buông một tiếng thở dài nhẹ nhõm vì biết mình đang trở lại xứ Wales.
Bốn tuần. Tôi còn bốn tuần nữa trước khi vào tù. Suy nghĩ đó thật khó tưởng tượng, nhưng đồng thời không có điều gì thực tế hơn thế. Tôi gọi cho Bethan và báo cho chị biết là tối nay tôi sẽ về nhà.
“Em được tại ngoại?”
“Tới ngày 17 tháng Ba.”
“Thế cũng tốt mà. Đúng không?” Chị bối rối vì thái độ không mặn mà của tôi.
“Hôm nay chị có ra bãi biển không?” Tôi hỏi Bethan.
“Chị có dẫn lũ chó ra chỗ vách đá hồi trưa. Có chuyện gì thế?”
“Có gì trên cát không?”
“Chẳng có gì cả, như bình thường.” Chị vừa nói vừa cười, “Em đang chờ cái gì vậy?”
Tôi thở phào nhẹ nhõm. Tôi bắt đầu băn khoăn rằng liệu những con chữ ấy có thực sự ở đó khi tôi nhìn thấy chúng hay không. “Không có gì.” Tôi đáp, “Em sẽ sớm gặp lại chị thôi.”
Khi về đến nhà Bethan, chị giữ tôi ở lại dùng bữa, nhưng biết rằng mình không hợp ở lại làm khách nên tôi xin phép chị ra về. Chị khăng khăng bắt tôi mang theo món gì đó về nhà, vậy là tôi đành đứng chờ chị múc súp vào một cái hộp nhựa cho tôi. Mất tới gần một tiếng sau tôi mới được hôn tạm biệt chị, rồi dẫn Beau đi dọc con đường về căn nhà nhỏ. Cửa nhà đã cong oằn đi rất nhiều do thời tiết xấu, khiến tôi không thể vặn được khóa cũng chẳng mở được cửa. Tôi huých vai vào mặt gỗ và nó vỡ ra một chút, đủ để làm khóa không bị kẹt và giúp tôi vặn được chìa - chiếc chìa khóa bây giờ lại xoay xoay một cách vô dụng trong ổ khóa. Beau bỗng sủa váng lên, và tôi bảo nó yên lặng. Tôi ngờ là mình đã phá hỏng cái cửa, nhưng tôi cũng chẳng quan tâm nữa. Nếu Iestyn chịu rẽ qua sửa cửa ngay khi tôi bảo ông ấy là nó bị kẹt thì chuyện đã đơn giản hơn rồi.
Tôi đổ món súp của Bethan vào một cái chảo và đặt nó lên bếp lò, bên cạnh có một ít bánh mỳ. Trong nhà rất lạnh, và tôi lục tìm một cái áo len chui đầu để mặc, nhưng chẳng có gì dưới nhà. Beau tỏ ra kích động, nó chạy hết bên này sang bên nọ trong phòng khách, như thể nó đã xa nhà lâu hơn 24 tiếng vậy.
Hôm nay cầu thang có vẻ gì đó rất khác, nhưng tôi không thể mô tả được. Trời vẫn chưa tối hẳn khi tôi bước vào trong nhà, nhưng bây giờ thì lại chẳng có tí ánh sáng nào hắt vào qua cánh cửa sổ bé xíu ở đầu cầu thang. Có thứ gì đang đứng chắn ở đó.
Trước khi kịp nhận ra, tôi đã bước lên đến đầu cầu thang. “Em không giữ lời, Jennifer.”
Ian cong một bên gối lên và đạp mạnh lòng bàn chân vào ngực tôi. Tôi trượt tay khỏi tay vịn bằng gỗ và ngã ngửa về phía sau, cả cơ thể va đập liên hồi qua các bậc thang trước khi đập mạnh xuống sàn đá dưới chân cầu thang.