Tòa án Hoàng gia Bristol trông cổ kính hơn Tòa sơ thẩm và sự trang nghiêm của nó hiện rõ qua dãy hành lang được ốp gỗ. Phụ tá của tòa án rảo bước thoăn thoắt vào rồi lại ra khỏi phòng xử, mỗi lần đi ngang bàn thư ký, chiếc áo choàng đen dài của họ quệt vào đống giấy tờ trên bàn, bay phấp phới. Không khí im lặng đến ngột ngạt, giống như trong một thư viện, nơi áp lực không được nói chuyện khiến ta chỉ muốn hét lên thật to, khiến tôi phải dùng tay day mạnh vào hai hốc mắt. Khi bỏ tay ra, phòng xử án trở nên mờ ảo trong mắt tôi. Tôi ước hình những hình ảnh này cứ giữ mãi như vậy: những đường nét mờ mờ và những hình thù như sương phủ khiến tôi cảm thấy đỡ bất an và lo lắng hơn.
Quay trở lại với thực tại, tôi đứng đây trong nỗi sợ hãi. Cảm giác can đảm mà tôi có được trong thâm tâm đã hoàn toàn biến mất và mặc dù thấy vô cùng kinh hãi khi nghĩ tới những gì Ian có thể làm với tôi nếu tôi được tự do, tôi bất giác sợ hãi những viễn cảnh trong tù sau khi tôi bị tuyên án. Tôi siết chặt hai tay vào nhau và bấm mạnh móng tay lên bàn tay trái. Trong đầu tôi vẫn văng vẳng tiếng bước chân nện trên sàn mỗi lúc một rõ hơn; những chiếc giường chật chội trong những buồng giam màu xám với những bức tường cách biệt đến nỗi chẳng ai nghe nổi tiếng hét của tôi. Tôi cảm thấy đau nhói ở tay. Tự tôi đã làm mình chảy máu. Tôi lau vết thương và để lại một vệt màu hồng trượt dài trên mu bàn tay mình.
Khu cách ly trong tòa án, nơi tôi được đưa tới, có đủ chỗ cho thêm vài người nữa. Ở đây có hai hàng ghế gắn chặt vào sàn nhà, mặt ghế xoay đang được dựng lên như trong rạp chiếu phim. Một bức vách kính chống đạn bao kín ba mặt của khu vực này và tôi ngồi e dè trên một chiếc ghế ở đằng sau bức vách ấy, khẽ vặn người khi phòng xét xử bắt đầu đông người.
Có nhiều người tham dự phiên tòa hôm nay hơn là ở phiên đầu tiên. Khuôn mặt họ không còn vẻ hiếu kỳ nữa, thay vào đó là sự căm phẫn, mong muốn đòi thực thi công lý. Một người đàn ông có làn da nâu, mặc một chiếc áo khoác rộng thùng thình đang ngồi vươn người về phía trước. Anh ta không hề rời mắt khỏi tôi, môi bặm lại như đang gắng kìm nén cơn giận dữ. Tôi bắt đầu khóc và anh ta lắc đầu, bĩu môi khinh bỉ.
Trong túi tôi là bức ảnh của Jacob và tôi luồn tay vào túi để chạm lấy nó, ve vuốt mấy đầu ngón tay quanh những góc cạnh của bức ảnh.
Các nhóm pháp lý bắt đầu đông dần: mỗi luật sư có một nhóm riêng; họ ngồi phía sau những dãy bàn và ngả người về phía trước để có thể hội ý chớp nhoáng một cách thuận tiện. Các luật sư và trợ lý của họ có lẽ là những người duy nhất cảm thấy thoải mái tại phiên tòa. Họ rôm rả trêu đùa nhau và tôi tự hỏi tại sao một phiên tòa lại có thể như thế này; tại sao một hệ thống như vậy lại cố tình tìm cách xa lánh những người đang cần đến nó. Cánh cửa mở ra và một tốp người khác chen chúc đi vào. Tôi nín thở khi nhìn thấy Anya. Cô ngồi ở hàng ghế đầu, nắm tay một cậu bé đang mặc chiếc áo khoác da ngồi kế bên.
Cô phải nhớ đó là một đứa hé trai. Rằng đứa trẻ đó có một người mẹ. Và trái tim người mẹ đó đang tan vỡ.
Khu vực còn trống duy nhất trong phòng xét xử lúc này là chỗ của Bồi thẩm đoàn; vẫn còn 12 ghế trống. Tôi hình dung các hàng ghế đó sẽ chật kín đàn ông và đàn bà; họ lắng nghe những chứng cứ được đưa ra, dõi xem tôi nói những gì và kết tội tôi. Tôi đã giải thoát cho họ khỏi công việc này; giải thoát họ khỏi sự dằn vặt băn khoăn, không biết mình có đưa ra quyết định đúng không; tôi giải thoát cho Anya khỏi nỗi đau mất con đang tràn ngập trong phòng xử án. Ruth Jefferson giải thích rằng chuyện này cũng mang lại chút ích lợi cho tôi: các thẩm phán thường nương tay hơn với những bị cáo giúp tiết kiệm thời gian tiến hành tranh tụng.
“Yêu cầu tất cả mọi người trong phòng xử án đứng dậy.”
Thẩm phán đã già, dấu ấn câu chuyện của hàng ngàn gia đình in đậm nét trên gương mặt ông. Đôi mắt sắc sảo của ông nhìn quanh phòng xử nhưng không nhìn về phía tôi. Tôi có lẽ chỉ là một chương khác trong sự nghiệp liên quan đến vô vàn những quyết định khó khăn trong cuộc đời ông. Tôi tự hỏi liệu ông đã sẵn sàng đưa ra quyết định cho vụ của tôi - liệu ông đã có sẵn mức án phạt tù cho tôi hay chưa.
“Thưa ngài Thẩm phán, hôm nay tòa mở phiên xử chống lại Jenna Gray…” Thư ký phiên tòa đọc lời khai mạc từ một tờ giấy, giọng cô ta rõ ràng và đầy sự nghiêm trọng. “Bị cáo Gray bị buộc tội vì đã gây ra cái chết do lái xe nguy hiểm, bỏ trốn và không trình báo vụ việc.” Cô ta nhìn tôi dò xét, “Bị cáo có muốn đưa ra tuyên bố gì không?”
Tôi bấm mạnh tay vào bức hình trong túi. “Tôi có tội.”
Một tiếng khóc nghẹn vang lên từ trong đám đông.
Trái tỉm người mẹ đó đang tan vỡ.
“Xin mời ngồi xuống.”
Luật sư bên cơ quan công tố đứng dậy. Anh ta nhấc chiếc bình đựng nước khỏi cái bàn phía trước mặt rồi rót một cách từ từ và thận trọng. Âm thanh của dòng nước đang chảy vào chiếc cốc thủy tinh là thứ tiếng động duy nhất vang lên trong phòng xử án, và khi tất cả mọi con mắt dồn vào anh ta bắt đầu cất giọng.
“Thưa Quý tòa, bị cáo đã thú nhận gây ra cái chết của cậu bé 5 tuổi Jacob Jordan. Bị cáo đã thừa nhận rằng cái đêm xảy ra tai nạn hồi cuối tháng Mười một, cô ta đã phóng xe với tốc độ vượt xa mức bình thường cho phép. Trên thực tế, kết quả điều tra của cơ quan cảnh sát chỉ ra rằng chiếc xe của Gray không đi trên đường mà lao lên vỉa hè ngay trước khi xảy ra va chạm. Cô ta đã di chuyển với tốc độ khoảng 38-42 dặmgiờ - vượt xa tốc độ cho phép là 30 dặmgiờ.”
Tôi siết chặt hai bàn tay lại với nhau. Tôi cố gắng thở thật chậm lại để điều hòa nhịp thở nhưng ngực cứng lại và sống mũi đau buốt vì từng luồng hơi ra vào dồn dập. Trong đầu tôi như văng vẳng tiếng nhịp đập của trái tim và tôi nhắm mắt lại. Tôi có thể nhìn thấy cơn mưa bên ngoài lớp kính chắn gió của chiếc xe, nghe thấy tiếng hét - tiếng hét của chính tôi - khi nhìn thấy Jacob trên vỉa hè; đang vừa chạy vừa ngoảnh đầu lại để nói to điều gì đó với mẹ.
“Hơn nữa thưa Quý tòa, sau khi đâm Jacob Jordan và hành động được cho là nguyên nhân khiến cậu bé tử vong ngay tại chỗ, bị cáo đã bỏ chạy.” Luật sư nhìn xung quanh phòng xét xử; tiếc là chẳng có ai trong bồi thẩm đoàn ngồi nghe giọng điệu hùng hồn của anh ta. “Cô ta thậm chí còn không buồn ra khỏi xe. Cô ta đã không gọi người giúp đỡ. Cô ta đã không hề hối hận, hay có một sự trợ giúp thiết thực. Thay vào đó, bị cáo lái xe rời khỏi hiện trường, bỏ lại cậu bé 5 tuổi Jacob trong vòng tay của người mẹ đau khổ.”
Mẹ Jacob nghiêng người bên con trai, tôi vẫn còn nhớ, chiếc áo khoác của cô trùm gần hết người cậu bé, che cho con khỏi những giọt nước mưa đang rơi. Ánh đèn pha của chiếc xe soi rõ mọi chi tiết và tôi lấy tay ôm chặt lấy miệng mình, quá sợ hãi đến mức không thể thở nổi.
“Thưa Quý tòa, các vị có thể hình dung phản ứng ban đầu như vậy có thể là do bị sốc. Bị cáo có lẽ đã quá sợ hãi và lái xe bỏ đi. Và vài phút sau, có thể là vài giờ sau - thậm chí có thể là một ngày sau đó - cô ta sẽ cảm thấy ăn năn và làm điều đúng đắn. Nhưng thưa Quý tòa, thay vào đó cô ta chạy trốn đến một nơi khác, ẩn mình trong một ngôi làng cách xa nơi đây 100 dặm, nơi mà không một ai biết đến mình. Cô ta đã không đầu thú. Bị cáo có thể đã nhận tội vào ngày hôm nay nhưng đó là một lời thú tội xuất phát từ việc không còn nơi nào để chạy trốn nữa và cơ quan công tố kính đề nghị Quý tòa cân nhắc điều này khi tuyên án.”
“Cảm ơn anh Lassiter.” Thẩm phán ghi chép vào một tập giấy và luật sư của cơ quan công tố cúi đầu, trước khi ngồi xuống, tay vắt nhẹ chiếc áo choàng ra phía sau. Lòng bàn tay tôi trở nên ẩm ướt. Có một cái vẫy tay phản đối trong đám đông.
Luật sư bào chữa thu gom đống giấy tờ của cô. Mặc dù tôi đã tuyên bố nhận tội, mặc dù nhận thức rằng mình phải trả giá cho chuyện đã xảy ra, đột nhiên tôi lại muốn Ruth Jefferson chiến đấu bảo vệ mình. Cơn buồn nôn dâng lên trong dạ dày, khi tôi nhận ra đây là cơ hội cuối để mình lên tiếng. Chỉ một chút nữa thôi, thẩm phán sẽ tuyên án và khi đó sẽ quá muộn.
Ruth Jefferson đứng dậy, nhưng trước khi cô ấy có thể nói, cửa phòng xét xử bỗng mở tung. Thẩm phán nhìn lên với vẻ khó chịu.
Patrick có vẻ đã xuất hiện không đúng chỗ và trong một khoảnh khắc, tôi còn chẳng nhận ra anh. Anh nhìn tôi, rõ ràng là run rẩy khi thấy tôi bị còng tay, ngồi sau vách chống đạn. Anh ấy đang làm gì ở đây? Tôi nhận ra người đàn ông đi cùng anh là thanh tra thám tử Stevens, người đang gật đầu hướng về phía thẩm phán, trước khi đi đến giữa phòng xử và ngả người nói thầm với luật sư của bên công tố.
Luật sư chăm chú lắng nghe. Anh ta viết vội vào một tờ giấy ghi chú, sau đó vươn dài cánh tay để chuyển nó cho Ruth Jefferson. Một sự im lặng bao trùm như thể mọi người đang nín thở.
Luật sư của tôi đọc tờ ghi chú và chầm chậm đứng dậy. “Thưa Quý tòa, tôi có thể xin tòa tạm nghỉ một lúc được không?”
Thẩm phán King thở dài. “Cô Jefferson, tôi cân phải nhắc cô nhớ là có rất nhiều vụ việc tôi phải xét xử trong buổi chiều nay? Cô đã có 6 tuần để tư vấn cho thân chủ của mình.”
“Tôi xin lỗi, thưa Quý tòa nhưng thông tin mới được làm sáng tỏ có thể ảnh hưởng đáng kể đến tình tiết giảm nhẹ cho khách hàng của tôi.”
“Tốt thôi. Cô có 15 phút, cô Jefferson, sau đó tôi sẽ kết án thân chủ của cô.” Thẩm phán gật đầu với thư ký phiên tòa.
“Phiên tòa đứng dậy.” Cô ta nói.
Khi thẩm phán King rời khỏi phòng xét xử, một nhân viên an ninh đến và đưa tôi trở lại phòng giam.
“Chuyện gì đang xảy ra vậy?” Tôi hỏi anh ta.
“Chúa mới biết được em gái à, nhưng tòa án lúc nào cũng thế. Xét xử rồi lại tạm nghỉ, chuyện cứ lặp đi lặp lại như thế…”
Anh ta đưa tôi trở lại căn phòng thiếu khí mà tôi đã nói chuyện với luật sư của mình chưa đầy một giờ trước. Ngay lúc đó Ruth Jefferson cũng bước vào, theo sau là thanh tra thám tử Stevens. Ruth bắt đầu nói chuyện trước khi cánh cửa đóng sầm lại ở phía sau họ.
“Cô Gray, cô biết rằng cản trở công lý không phải là tội mà tòa án coi nhẹ đúng không?”
Tôi không nói gì và luật sư ngồi xuống. Cô vuốt mấy sợi tóc đen ra phía sau và gài dưới bộ tóc giả.
Thanh tra thám tử Stevens lục trong túi mình và lấy ra một quyển hộ chiếu để lên bàn. Tôi không cần mở nó ra cũng biết nó là của mình. Tôi nhìn ông ta và vị luật sư đang rất bực tức ở trước mặt, rồi giơ tay ra chạm vào quyển hộ chiếu. Tôi vẫn còn nhớ đã điền thông tin vào tờ khai để thay đổi tên mình trước lễ cưới. Tôi đã ký thử chữ ký của mình cả trăm lần, rồi hỏi Ian chữ ký nào trông người lớn nhất, hợp với tôi nhất. Khi quyển hộ chiếu được gửi tới tôi, nó đã trở thành bằng chứng hữu hình đầu tiên cho thấy sự thay đổi trong cuộc sống và tôi đã rất nôn nóng muốn được khoe nó cho nhân viên xuất nhập cảnh ở sân bay.
Thanh tra thám tử Stevens vươn người về phía trước, để hai tay lên bàn, khuôn mặt ông đối diện với khuôn mặt tôi. “Cô không phải bảo vệ anh ta nữa, Jennifer.”
Tôi giật mình. “Xin đừng gọi tôi bằng cái tên đó.”
“Nói cho tôi biết chuyện gì đã xảy ra.”
Tôi im lặng.
Thanh tra thám tử Stevens nói nhỏ nhẹ, sự bình tĩnh của ông khiến tôi cảm thấy an toàn hơn, yên tâm hơn.
“Chúng tôi sẽ không để anh ta làm tổn thương cô lần nữa, Jenna.”
Vậy là họ đã biết. Tôi thở một hơi thật chậm và nhìn thanh tra thám tử Stevens, trước khi đảo mắt qua Ruth Jefferson. Đột nhiên tôi cảm thấy kiệt sức. Thanh tra thám tử mở một tập hồ sơ màu nâu được ghi là Peterson; cái tên sau khi đã lập gia đình của tôi. Tên họ của Ian.
“Rất nhiều cuộc gọi báo về tình trạng bạo hành trong gia đình.” Ông nói, “Hàng xóm, bác sĩ, người qua đường đã gọi báo khi thấy có chuyện, nhưng không bao giờ là cô, Jenna. Cô chưa bao giờ gọi chúng tôi. Và khi chúng tôi đến, cô đã không hé răng nửa lời. Cô không đâm đơn tố cáo. Tại sao cô không để chúng tôi giúp đỡ?”
“Bởi vì anh ta sẽ giết tôi mất.” Tôi đáp.
Có một sự im lặng trước khi thanh tra thám tử Stevens tiếp tục nói. “Lần đầu tiên anh ta đánh cô là khi nào?”
“Chuyện đó có liên quan sao?” Ruth nói và nhìn vào chiếc đồng hồ của cô.
“Có.” Thanh tra thám tử Stevens ngắt lời, khiến Ruth lại ngồi xuống, tựa lưng vào ghế chiếc ghế của mình và nheo mắt lại.
“Chuyện đó bắt đầu ngay trong đêm tân hôn.” Tôi nhắm mắt và nhớ lại nỗi đau bỗng chẳng biết từ đâu xuất hiện, cùng cảm giác hổ thẹn rằng cuộc hôn nhân của tôi thất bại ngay từ trước khi nó bắt đầu. Tôi còn nhớ Ian đã nhẹ nhàng thế nào khi anh ta quay lại trở lại căn phòng khách sạn ở Italy; cách anh ta dịu dàng xoa lên khuôn mặt đau đớn của tôi. Tôi đã nói xin lỗi anh ta và vẫn tiếp tục nói như vậy trong suốt bảy năm trời.
“Cô đã tìm tới điểm lánh nạn trên phố Grantham vào thời gian nào?”
Tôi ngạc nhiên bởi ông ta biết quá nhiều điều. “Tôi chưa bao giờ đến đó. Họ đã nhìn thấy những vết bầm tím trên người tôi ở bệnh viện và hỏi han về cuộc hôn nhân. Tôi đã không nói bất cứ điều gì nhưng họ đưa tôi một tấm thẻ màu xanh nhạt có ghi địa chỉ của nơi lánh nạn và nói tôi có thể đi tới đó bất cứ khi nào muốn, rằng tôi sẽ được an toàn ở đó. Tôi đã không tin lời họ - làm sao tôi có thể an toàn tại một nơi ở quá gần Ian như thế? - nhưng tôi đã giữ lại tấm thẻ. Tôi cảm thấy bớt đơn độc khi có nó.”
“Cô chưa bao giờ thử bỏ đi sao?” Thanh tra thám tử Stevens nói. Ông gần như không che giấu cơn giận trong đôi mắt của mình, cơn giận dữ không hề nhằm vào tôi.
“Rất nhiều lần”, tôi nói, “Ian đi làm và tôi bắt đầu gói ghém đồ đạc của mình. Tôi đã đi quanh ngôi nhà để nhặt lấy những món đồ lưu giữ kỷ niệm, tính toán xem thực tế mình có thể mang theo những gì. Tôi sẽ chất tất cả lên xe - chiếc xe vẫn thuộc sở hữu của tôi, anh biết đây.”
Thanh tra thám tử Stevens lắc đầu, không lắng nghe tiếp câu chuyện.
“Chiếc xe vẫn được đăng ký bằng cái tên thời con gái của tôi. Chuyện này hoàn toàn là vô tình - khi kết hôn tôi quên không thay đổi thông tin đăng ký xe - nhưng sau đó lại hóa hay. Ian sở hữu gần như mọi thứ khác; ngôi nhà, công việc kinh doanh… Tôi đã bắt đầu cảm thấy mình không hề tồn tại, rằng tôi sẽ trở thành một món đồ thuộc sở hữu của anh ta. Vì thế tôi không bao giờ đổi thông tin đăng ký xe nữa. Chỉ là một món tài sản nhỏ bé, tôi biết, nhưng…” Tôi nhún vai, “Tôi thường đóng gói mọi thứ mà mình dự định mang theo trong cuộc chạy trốn, sau đó cẩn thận lấy chúng ra và trả lại chỗ cũ. Lần nào cũng thế.”
“Tại sao?”
“Bởi vì anh ta sẽ tìm thấy tôi.”
Thanh tra thám tử Stevens lướt nhanh qua tập hồ sơ. Nó dày một cách đáng kinh ngạc, nhưng tất cả những gì có bên trong đều là những vụ đánh đập, dẫn tới việc cảnh sát được báo tin. Có những lần Jenna đã bị đánh tới gãy xương sườn và phải nhập viện một thời gian. Có nhiều vụ đánh đập được ghi trong hồ sơ, nhưng hẳn còn vài chục vụ khác đã bị che giấu không báo cáo.
Ruth Jefferson đặt tay lên tập hồ sơ.
“Tôi có thể xem chứ?”
Thanh tra thám tử Stevens nhìn tôi và tôi gật đầu. Ông chuyển tập hồ sơ qua cho nữ luật sư và cô bắt đầu xem qua nó.
“Nhưng cô đã rời khỏi hiện trường vụ tai nạn.” Thanh tra thám tử Stevens nói, “Có sự thay đổi gì xuất hiện à?”
Tôi hít một hơi thật sâu. Tôi đã tìm lại được dũng khí của mình, nhưng đó không phải là tất cả. “Ian đe dọa tôi.” Tôi nói khẽ khàng, “Anh ta nói rằng nếu tôi có ý định đến đồn cảnh sát - nếu tôi định kể chuyện này với bất kỳ ai - anh ta sẽ giết tôi. Và tôi biết anh ta thực sự có ý như vậy. Đêm đó, sau vụ tai nạn, anh ta đã đánh tôi khủng khiếp đến mức tôi không thể đứng lên nổi. Anh ta lôi tôi đứng dậy và ghì chặt cánh tay tôi trên bồn rửa, trước khi dội nước sôi vào, khiến tôi ngất đi vì đau đớn. Sau đó anh ta kéo lê tôi ra xưởng sáng tác. Buộc tôi phải chứng kiến cảnh anh ta đập phá mọi thứ - những thứ mà tôi từng làm ra.”
Tôi không thể nhìn thanh tra thám tử Stevens. Tôi cố gắng hết mức có thể để nói ra câu chuyện của mình. “Ian đã bỏ đi sau đó. Tôi không biết anh ta đi đâu. Đêm đầu tiên đó, tôi nằm luôn trên sàn bếp. Sau đó tôi bò lên lầu và nằm lên giường, rồi cầu nguyện là mình sẽ chết ngay trong đêm để đến lúc Ian quay lại, anh ta sẽ không thể làm đau tôi được nữa. Nhưng anh ta không quay lại. Anh ta biến mất trong nhiều ngày và dần dần tôi cũng khỏe hơn. Tôi đã bắt đầu tưởng tượng rằng Ian biến mất vĩnh viễn, nhưng do anh ta không đem theo bất kỳ thứ gì nên tôi biết anh ta sẽ quay trở lại vào lúc nào đó. Tôi đã nhận ra rằng nếu vẫn ở lại, anh ta sẽ trở lại vào một ngày nào đó và giết tôi. Đó là khi tôi quyết định bỏ đi.”
“Nói cho tôi biết chuyện gì đã xảy ra với Jacob?”
Tôi đút tay vào túi và chạm vào bức ảnh. “Chúng tôi đã xảy ra tranh cãi. Tôi có một buổi triển lãm - buổi triển lãm lớn nhất từ trước đến nay mà tôi tham gia - và tôi dành nhiều ngày để chuẩn bị với người tổ chức buổi triển lãm - anh Philip. Đó là một sự kiện diễn ra vào ban ngày nhưng dù vậy, Ian vẫn uống say. Anh ta buộc tội tôi ngoại tình với Philip.”
“Cô có ngoại tình không?”
Tôi đỏ mặt với câu hỏi riêng tư đó. “Philip là người đồng tính”, tôi nói, “nhưng Ian không chấp nhận câu chuyện đó. Tôi đã khóc và tôi không thể tập trung lái xe. Trời đang mưa và những ánh đèn pha ô tô làm tôi chói mắt. Anh ta đang hét vào mặt tôi, gọi tôi là một con điếm. Tôi đã đi qua Fishponds để tránh tắc đường nhưng Ian buộc tôi dừng xe lại. Anh ta đánh tôi, giật lấy chìa khóa xe, dù quá say để có thể đứng vững.”
“Anh ta đã lái xe như một kẻ điên loạn, miệng không ngừng la hét về việc sẽ dạy cho tôi một bài học ra sao. Chúng tôi đã đi qua một dãy nhà, qua những con đường dân sinh và Ian ngày càng đi nhanh hơn. Tôi thấy kinh hãi.” Tôi vặn hai bàn tay vào nhau ở trong lòng.
“Sau đó tôi nhìn thấy cậu bé ấy. Tôi đã hét lên nhưng Ian không hề giảm tốc độ. Chúng tôi đã đâm vào cậu bé và tôi nhìn thấy mẹ cậu bé quằn quại như thể cô cũng bị đâm. Tôi đã cố gắng ra khỏi xe nhưng Ian đã khóa cửa và bắt đầu lùi lại. Anh ta không để cho tôi chạy tới chỗ xảy ra tai nạn.”
Tôi hít một hơi và sau đó thở ra cùng với tiếng khóc nghẹn ngào. Có một sự im lặng bao trùm trong căn phòng nhỏ hẹp.
“Ian đã giết Jacob”, tôi nói, “nhưng tôi cảm thấy như chính mình đã làm việc đó.”