Bjorn Erik Svendsen còn hơn cả vui sướng khi được đưa đến căn hộ của ông Harald Olesen bằng xe cảnh sát, nhưng lặp lại nhiều lần trên đường đi rằng cậu ta không hề có chút khái niệm nào về nơi cất giấu quyển nhật ký. Chúng tôi nhanh chóng khẳng định không có dấu vết gì của nó trên bàn làm việc hoặc bất kỳ cái bàn nào khác. Ý tưởng rằng nó có thể được giấu trong những quyển sách khiến Svendsen thích thú. Cậu ta hỏi liệu có khóa học về phương pháp luận bắt buộc nào để trở thành cảnh sát hay không. Tôi đáp rằng cảnh sát cũng được phép suy nghĩ sáng tạo. Cậu ta mau mắn gật đầu và lập tức tìm kiếm mé phải kệ sách của ông Harald Olesen. Tôi vào việc với mé bên trái.
Tôi phải thừa nhận rằng sự hăng hái trước giả thiết của Patricia giảm dần khi tôi lặn lội qua một trăm quyển sách đầu tiên. Tôi đếm sách như thường lệ, để nếu không có gì khác thì cũng có thể gây ấn tượng với các đồng nghiệp về sự tỉ mẩn trong công việc này. Tôi sắp sửa cất lại quyển sách số 246 thì một tiếng kêu đầy kích động vang lên từ phía Svendsen đã phá vỡ sự im lặng trong căn hộ. Với đôi bàn tay run rẩy, cậu ta nhấc lên khỏi sàn một quyển sổ cùng dạng với hai quyển trước. Nó đã rơi ra khỏi cái bìa đồ sộ của quyển 2 bộ Cuộc chiến tranh vĩ đại. Cậu ta đưa nó cho tôi với vẻ mặt đắc thắng. Dấu mốc thời gian “1967-8” trên bìa nhìn tôi trừng trừng, dù chúng chỉ được viết bằng bút chì bởi bàn tay của một ông già.
Tôi thu ngay quyển sổ và không cho cậu nghiên cứu sinh sử học đọc nó qua vai tôi. Lúc đầu cậu ta phản đối vì cho rằng nó có thể chứa đựng nhiều tư liệu lịch sử quan trọng và sẽ cần thiết cho quyển tiểu sử, nhưng nhanh chóng chấp nhận khi tôi bảo đảm rằng cậu ta sẽ được tiếp cận nó sau khi cuộc điều tra hoàn tất. Tôi nói thêm rằng bất kỳ người nào nắm được nội dung quyển nhật ký đều có thể gặp nguy hiểm. Cậu ta lập tức đồng ý ra ngoài và ngồi chờ trong nhà bếp phòng khi tôi có điều muốn hỏi sau khi đã đọc quyển nhật ký.
Theo nhật ký những tháng đầu năm 1967 hầu như chẳng có sự kiện gì đối với ông Harald Olesen. Hai tháng đầu trôi qua chỉ với vài ghi chép ngắn gọn, không có gì ghê gớm, với các tên người đầy đủ. Tuy nhiên, ghi chép ngày 20 tháng 3 năm 1967 ngắn ngủn và bí ẩn, sặc mùi điềm gở nếu chiếu theo nội dung của năm trước: P liên lạc lại. Nói rằng S đã qua đời và đã thú nhận trước khi chết, P giận dữ và đòi tiền.
Những ngày còn lại của tháng 3 và tháng 4 chỉ gồm những ghi chép sự kiện dự các buổi tối sinh nhật và thư từ của những người quen cũ. Vào tháng 3, ông đã viết một bình luận ngắn trước tin con gái của Stalin tị nạn tại Mỹ, còn trong tháng 4, ông ghi nhận cái chết của nhà văn Johan Falkberget và cựu thủ tướng Đức Konrad Adenauer. Nhưng vào ngày 2 tháng 5, P đột nhiên lại xuất hiện một lần nữa: P lại liên lạc với tôi. Đòi tiền và đe dọa nói ra.
Vấn đề với P dường như lại lắng xuống vào tháng 5. Ông Harald Olesen bày tỏ mối quan ngại về tình hình ở Hy Lạp sau vụ đảo chính của quân đội và không chắc Na Uy nên đáp trả như thế nào. P không được đề cập trong phần còn lại của tháng 5. Thay vào đó, một ký tự bí ẩn mới xuất hiện vào ngày 15 tháng 5: C xuất hiện - vào hẳn trong nhà ngày hôm nay. Khi cửa đóng lại, gương mặt C thay đổi hoàn toàn. Mừng là vẫn còn sống sau khi cậu ta ra về. Biết quá rõ những gì C có thể làm. Một đêm tồi tệ - thức dậy hai lần để kiểm tra xem xích an toàn có được gài chưa.
Tháng 6 và tháng 7 trôi qua với vài ghi chép ngắn gọn về những người ông quen, một đoạn khá dài về chiến tranh Sáu ngày ở Trung Đông và các vụ bạo loạn ở Mỹ. Ông Harald Olesen dành thời gian đáng kể để cập nhật tình hình trên thế giới, thông qua báo, đài và tivi. Nhưng vấn đề cá nhân của ông quay trở lại vào mùa thu. Vào tháng 8, đột nhiên có hai ghi chép ngắn, xen giữa bởi một bài viết về việc Mỹ tăng cường quân trong chiến tranh Việt Nam.
Ngày 12 tháng 8: P vẫn truy bức tôi vì tiền. Khi nào chuyện này mới kết thúc đây?
Ngày 27 tháng 8: Một cuộc đối thoại căng thẳng nữa với C. Căn bệnh của tôi ngày càng nặng và sự phân vân của tôi cũng ngày càng tăng. Tôi muốn nói ra nhưng C thẳng thừng bác bỏ - và giờ đang đe dọa tôi.
Rõ ràng rằng tình cảnh của ông Harald tệ đi nhanh chóng và sức khỏe của ông cũng thế. Trong suốt tháng 9, ngày càng có nhiều ghi chép về cơn đau và các cuộc hẹn với bác sĩ. Việc bầu cử tại địa phương vào cuối tháng cũng chỉ được mô tả trong vài dòng. Và hai ký tự mới xuất hiện, cách nhau chỉ vài ngày.
Ngày 21 tháng 9: O, người đã hơn 20 năm nay tôi không gặp lại, liên lạc với tôi. O cực kỳ quan ngại cho việc vĩnh viễn giữ bí mật những hoạt động ngày trước của chúng tôi và những người khác. Tôi đồng ý và nói rằng tôi sẽ lục ra các giấy tờ.
Ngày 29 tháng 9: J cũng liên lạc với tôi rồi. Có vẻ thiện cảm. Sau đấy thì không thể ngủ được. Thật là khó xử.
Ông Olesen dường như ít nhiều mất đi sự quan tâm với các sự kiện trên thế giới trong tháng 10 và 11. Cái chết được bàn tán rất nhiều của Che Guevara và vị hoàng đế cuối cùng của Trung Quốc chỉ được ghi vỏn vẹn một dòng, cũng giống như sự kiện biểu tình ủng hộ Việt Nam mùa thu năm đó. Thay vào đó, ngày càng có nhiều ghi chép về vấn đề sức khỏe. Những nội dung này tăng đỉnh điểm vào giữa mùa lễ hội cuối năm.
Ngày 12 tháng 12: Kết luận đau buồn sau khi tái khám. Chỉ vài tháng nữa là kết thúc. Suy nghĩ về cái chết nhẹ như lông hồng trong khi quyết định hệ trọng nhất đời tôi vẫn đè nặng như chì.
Đó là ghi chép đáng quan tâm cuối cùng cho năm 1967. Những ghi chép của năm 1968 khá ít ỏi và thưa thớt; nhưng chúng hoàn toàn liên quan đến các vấn đề cá nhân của ông Harald Olesen.
Ngày 18 tháng 1: Ngày tồi tệ. Đau đớn trên giường cả buổi sáng, P muốn nhiều tiền hơn, cả trong di chúc của tôi nữa. Cảm xúc mạnh mẽ sau một cuộc nói chuyện với J ngày hôm qua. Và bóng dáng đầy đe dọa của C thường xuyên lẩn khuất…
Ngày 22 tháng 1: O tiếp cận tôi và lo lắng cho sức khỏe của tôi. Tôi hứa sẽ đem theo mọi bí mật của chúng tôi xuống mồ. Đi với ma phải mặc áo giấy thôi, O xem qua các giấy tờ và chúng tôi đốt chúng trong lò. Chúng tôi không nói về những bất đồng cá nhân nhưng O tỏ ra rất thoải mái về chuyện đó.
Ngày 28 tháng 1: Đau ghê gớm về thể xác, nhưng nỗi đau tinh thần còn tồi tệ hơn. Không thể nhìn thấy lối ra. Nghi ngại lớn về vấn đề di chúc.
Ngày 14 tháng 2: Cuộc nói chuyện đầy sợ hãi với C, cậu ta đột nhiên phát khùng lên, như vẫn thường thế. C không muốn tiền nhưng muốn sự im lặng mãi mãi và mối hận cũ đối với tôi ngày càng mạnh mẽ. Chưa từng có người nào làm tôi sợ hơn C. Cầu Chúa nhân từ, dù con chưa bao giờ tin Ngài, sớm mở cổng Thánh và dung thứ cho linh hồn con!
Ngày 19 tháng 2: Cuộc nói chuyện ngắn với O, người cảm ơn tôi vì những điều tôi đã làm và hứa không làm phiền tôi nữa. Nhưng liệu tôi có thể tin điều đó?
Ngày 1 tháng 3: J tuyệt vọng và mất kiên nhẫn, de dọa đi gặp báo chí. Không thể chịu đựng nổi với ý nghĩ C sẽ làm gì khi đó - dù là với tôi hay J. Thuyết phục được J hoãn lại, nhưng mọi việc đang gấp lắm rồi và những cơn đau đang xé nát cái thân già bất hạnh này.
Ngày 12 tháng 3: Vẫn còn sống, hay đúng hơn là tồn tại. J chao đảo giữa nước mắt và cuồng nộ, có thể bùng nổ và làm điều gì đó thiếu suy nghĩ, C không nổi giận trong suốt cuộc nói chuyện lần trước, mà đầy đe dọa và bình tĩnh đến đáng sợ, chỉ mình C có thể như thế… P vẫn liên tục nã tiền tôi. Tôi sợ C nhiều hơn là khinh miệt P. Giằng xé với những cảm xúc ngổn ngang về J. Hiện giờ P và J có thể đã biết về nhau rồi. Chỉ hy vọng là không ai trong số họ biết về C và C cũng không biết họ. Nếu không thì không biết chuyện khủng khiếp gì sẽ xảy ra ở Torshov nữa!
Ngày 20 tháng 3: Thay đổi di chúc dưới sức ép đáng kể. Dù sao đi nữa, thiếu nợ thì phải trả, cho dù chủ nợ có đáng ghét đến thế nào.
Ngày 25 tháng 3: Sau vài đêm mất ngủ, ở ranh giới giữa sự sống và cái chết, tôi lại thay đổi di chúc lần nữa. Phải hy sinh để chuộc lại tội lỗi lớn nhất đời tôi!
Ngày 30 tháng 3: Áp lực tăng lên từ mọi phía. J, C và P có thể nhảy bổ vào tôi bất cứ lúc nào. Cả ba đều đáng sợ và thất thường. Những bóng ma từ quá khứ đang dồn tôi xuống lỗ. Sẽ để nguyên di chúc như thế và hy vọng rằng nó sẽ mang hạnh phúc đến với người mà tôi mang nợ nhiều nhất. Trong cơn tuyệt vọng, đã hẹn một cuộc gặp cuối cùng vào tối thứ Năm, bất chấp những nguy cơ hiện hữu.
Sau ghi chép này, quyển nhật ký dừng lại đột ngột. Tất cả những trang còn lại đều để trắng.
Ông Harald Olesen bị bắn trong một cuộc gặp tại nhà vào đêm ngày 4 tháng 4, tức là ngày thứ Năm đầu tiên sau ngày 30 tháng 3. Nhưng tôi không biết liệu ông đã thu xếp cuộc hẹn này với C, J, P, O hay không ai trong số họ. Không có ký tự nào phù hợp với tên họ của bất kỳ ai trong tòa nhà. Trừ phi ‘J’ có thể chỉ đơn giản là ‘Jensen’.
Tôi ra gặp Svendsen và hỏi liệu cậu ta có từng bao giờ nghe ông Harald Olesen nhắc đến các ký tự C, J, P hoặc O hoặc từng bắt gặp chúng ở một ngữ cảnh khác. Cậu ta quả quyết lắc đầu. Trong cơn tuyệt vọng, tôi đọc to một số ghi chép cho cậu ta nghe, nhưng điều đó cũng không giúp làm rõ danh tính của những người này. Tuy nhiên, gương mặt của Svendsen tái đi. Cậu ta nói rằng trong tất cả cuộc nói chuyện với ông Harald Olesen, cậu ta chưa từng nghe ông đề cập đến các từ như ‘lo sợ’ hay ‘kinh hãi’. Thật là một cú sốc khi được biết người anh hùng Kháng chiến đã sống những tháng cuối đời sợ hãi như thế nào.
Tôi ra lệnh cho Svendsen không được tiết lộ bất kỳ điều gì về sự tồn tại của quyển nhật ký, cậu ta thề sẽ làm vậy. Sau đó tôi yêu cầu cậu ta không được rời thành phố và phải báo ngay cho tôi biết nếu nhớ ra điều gì quan trọng liên quan đến danh tính của C, J, P hay O, hoặc đến cuộc điều tra nói chung. Svendsen cam đoan với tôi sẽ làm thế và hai lần yêu cầu tôi đừng công bố việc cậu ta biết về quyển nhật ký.
Một phút sau, qua cửa sổ tôi thấy Bjorn Erik Svendsen hối hả chạy đi trên vỉa hè. Tôi nhận ra vụ án mạng này đã ảnh hưởng sâu sắc như thế nào đến cuộc đời cậu ta, và đến những người hàng xóm khác tại số 25 phố Krebs. Thật lạ lùng khi nghĩ rằng tình huống sẽ khác hẳn đi như thế nào với họ và với cả tôi nữa nếu ông Harald Olesen được để cho nhắm mắt xuôi tay vì bệnh tình của mình vài ngày hoặc vài tuần sau đó.
Tôi ngồi đó một mình xem tới xem lui quyển nhật ký trong một giờ, nhưng không sáng ra được điều gì hơn. Tôi tuyệt vọng và nhớ đến giọng nói của Patricia, và một đôi lần tôi đã định lái xe thẳng đến nhà cô. Nhưng sau đó, khi ngồi vào trong xe, tôi không đi về phố Erling Skjalgsson mà đến bệnh viện. Có một người đàn ông đang chờ tôi ở đó, người đã nhắn rằng tôi nên đến hôm nay vì không ai dám tin rằng mình sẽ còn sống ngày mai.