NGÀY THỨ MƯỜI MỘT
6
Dọn dẹp và kết luậnNhư các độc giả lớn tuổi và quan tâm đến vụ án có lẽ còn nhớ, đã không bao giờ có một phiên tòa lớn xét xử những vụ án mạng tại số 25 phố Krebs. Tôi bị đánh thức bởi một cuộc điện thoại sớm ngày 14 tháng 4 năm 1968, mặc dù đó là ngày Chủ nhật, lại còn là ngày Chủ nhật Phục sinh nữa. Lúc đó khoảng gần 8 giờ. Cuộc gọi đến từ trại tạm giam Olso, nơi người ta vừa mới phát hiện Andreas Gullestad đã chết trong phòng giam của mình.
Tôi lái xe thẳng đến trại tạm giam, nơi người trưởng trại báo cho tôi biết chuyện đã xảy ra với một sự ân hận sâu sắc. Khi đến trại, Andreas Gullestad tỏ ra hoàn toàn hợp tác và không làm điều gì để khiến họ phải áp dụng bất kỳ biện pháp đặc biệt nào. Sau đó anh ta đã hỏi xin một ít giấy và cây viết để thảo một bản tự thú đầy đủ chi tiết hơn mà anh ta hy vọng sẽ giúp ích cho cuộc điều tra. Anh ta rõ ràng đã thức rất khuya, vì ba trang giấy ken đặc chữ và một trang đôi bản đồ đã được để lại trên bàn. Nhưng khi bữa sáng được đem vào, anh ta đã nằm chết trên giường với nụ cười trên môi.
Trên bàn là một lá thư được viết như sau:
Oslo, ngày 13 tháng 4 năm 1968
Gửi Thám tử điều tra Kolbjorn Kristiansen - và bất kỳ ai khác mà anh có thể muốn chia sẻ việc này,
Để tiết kiệm những chi phí pháp lý không cần thiết, tôi ký tên dưới đây xin xác nhận là người đã hắn chết ông Harald Olesen ở số 25 phố Krehs vào thứ Năm, 4 tháng 4 năm nay. Động cơ của tôi là trả thù và mong muốn ngăn chặn ông ta tiết lộ những chi tiết của vụ phạm tội vào năm 1944 được trình bày bên dưới. Để ngụy trang cho vụ giết ông Olesen, sau đó tôi giết tiếp ông Konrad Jensen ở cùng địa chỉ vào thứ Ba ngày 9 tháng 4 năm nay.
Tôi cũng thú nhận đã giết người tị nạn Anna Maria Rozenthal ở sát biên giới Thụy Điển gần Trysil vào ngày 21 tháng 2 năm 1944. Tuy nhiên, tôi không chịu trách nhiệm cho cái chết của chồng cô ấy, Felix Rozenthal, người đã bị ông Harald Olesen bắn chết chỉ vài giây trước đó, với sự chứng kiến của tôi. Để biết thêm chi tiết về bốn vụ án mạng này, hãy tham khảo những lời khai mà tôi đã cung cấp cho anh trước sự có mặt của những người làm chứng trong buổi chiều hôm nay.
Tôi muốn chúc mừng anh vì đã tiến hành điều tra một cách hoàn hảo hai vụ sát hại ông Harald Olesen và ông Konrad Jensen. Trong mười ngày qua, anh không chỉ phá được hai vụ án mạng này mà còn hai vụ khác xa xưa hơn, mà anh chưa từng được biết cho đến khi mở cuộc điều tra này. Quả là rất không may cho tôi khi anh được chỉ định cầm đầu cuộc điều tra này. Thật là một sự ngạc nhiên không hề dễ chịu khi biết anh lần theo dấu tôi nhanh chóng như thế nào, nhờ những kết luận sắc sảo có được trong vài ngày tiếp sau cái chết của Harald Olesen. Tuy nhiên, nghiệp vụ của anh sau cái chết của ông Konrad Jensen thậm chí còn tuyệt vời hơn nữa, khi anh chính thức dừng cuộc điều tra nhưng thực tế là đẩy mạnh nó. Tôi đã cảm nhận được anh nguy hiểm như thế nào khi một lần nữa anh hỏi tôi về mối liên hệ trước chiến tranh giữa cha tôi với ông Harald Olesen, vào ngày tiếp theo. Nhưng chỉ đến thứ Sáu, khi tôi nhận được mệnh lệnh phải sẵn sàng để thẩm vấn trong dịp cuối tuần, tôi mới nhận ra nguy hiểm vẫn còn đó, cuộc điều tra thực tế vẫn đeo đuổi tôi và đang tiến triển. Và cuối cùng, anh lại lừa tôi một lần nữa trong cuộc bắt giữ hôm nay khi bố trí một nữ xạ thủ cải trang thành cô thư ký tàn tật ở vị trí khiến tôi không thể quan sát cả hai người cùng một lúc.
Tự đáy lòng, tôi cũng muốn cảm ơn anh vì đã giải thoát tôi khỏi bản thân mình - vì với việc bắt tôi, anh đã ngăn không để tôi gây thêm bất kỳ cái chết nào vào cái gánh nặng vốn đã quá khủng khiếp của mình. Tôi muốn gửi lời xin lỗi chân thành đến anh và đến quý cô Sara Sundqvist về những sự việc gây phiền lụy sâu sắc, và tôi mong rằng hai người sẽ hiểu đó chỉ là những hành động xảy ra trong sự tuyệt vọng hoàn toàn. Nhân đây, nếu việc này được quan tâm, tôi xin tuyên bố tôi đã phạm tội mưu sát một thanh tra cảnh sát.
Tôi cũng gửi lời xin lỗi sâu sắc đến cô Sundqvist về trách nhiệm của mình trong cái chết của mẹ cô. Tôi vẫn nhìn nhận đó là tội ác lớn nhất của mình. Tôi hy vọng rằng nỗ lực cứu sống cô bắng cách nào đó có thể bù đắp cho tội ác trên. Vì giờ đây tôi hiểu rằng cô có một mong ước lớn lao được viếng phần mộ của cha mẹ mình, tôi để lại một bản đồ vẽ tay cùng với lá thư này, để có thể giúp cô tìm được cái hang đó.
Tôi ý thức rất rõ rằng tiền bạc không bao giờ có thể bù đắp đầy đủ cho sự mất mát người thân, nhưng hy vọng sẽ mang lại chút an ủi khi tôi để lại cho cô Sara Sundqvist một nửa tài sản của mình. Một nửa còn lại tôi để lại cho chị gái của tôi, một lần nữa xin gửi lời tạ lỗi sâu sắc đến chị về những nỗi đau đớn có thể gây ra cho chị và gia đình khi tội ác của tôi bị phơi bày. Theo gương ông Harald Olesen, tôi để lại căn hộ số 25 phố Krebs cho bà Randi Hansen luôn-luôn-tận-tâm.
Tôi hy vọng rằng lá thư này sẽ giúp anh hiểu cho cái chết đang đến gần của tôi, thứ mà giờ đây sẽ tránh cho tôi việc ra hầu tòa. Tôi thừa nhận rằng hành động tự sát của tôi chủ yếu được dẫn dắt bởi sự ích kỷ. Viễn cảnh của một phiên tòa kéo dài, trong đó phơi bày chi tiết những án mạng mà tôi đã gây ra, còn đau đớn hơn mức án nặng nề mà chắc chắn tôi sẽ phải chịu. Tuy nhiên, tôi hy vọng và tin rằng cái chết của tôi trước bất kỳ phiên tòa nào cũng là một sự khuây khỏa không chỉ cho tôi và gia đình, mà cả cho cô Sara Sundqvist và những người hàng xóm tại phố Krebs, cũng như với các bạn bè thân hữu của ông Harald Olesen và ông Konrad Jensen.
Như trước đây tôi đã kể với anh, tôi đánh mất đức tin vào một ngày tháng 1 năm 1941 khi nhận được tin cha mình đã bị bắn chết bởi quân Đức. Tôi chưa bao giờ khôi phục niềm tin vào Chúa lòng lành và toàn năng được nữa. Do đó tôi chết đi trong sự hài lòng với niềm tin rằng, xét hoàn cảnh hiện tại, không có thiên đường và cũng không có địa ngục ở thế giới bên kia, chỉ có một khoảng trống mênh mông, nơi cuối cùng tôi cũng có thể tìm được sự bằng an trước những ký ức và sự ăn năn vô hạn, vốn đã đeo đuổi tôi mỗi ngày và hầu như mỗi đêm trong phần đời trưởng thành của mình.
Và cuối cùng, để giải mã bí ẩn cái chết của bản thân tôi: tôi tự sát bằng cách nuốt một viên thuốc độc mà tôi đã đem theo vào phòng giam. Anh chắc đã biết rằng trong suốt chiến tranh, nhiều thành viên của phong trào Kháng chiến đã tự sát với những viên thuốc được giấu trong người này. Trong những chuyến vượt biên giới với người tị nạn của tôi vào thời chiến, tôi luôn mang theo viên thuốc độc trong một mặt dây chuyền bạc, ngụy trang như một phần của sợi dây đeo cổ. Tôi bắt đầu đeo nó trở lại sau chỉ thị của anh vào thứ Sáu. Hy vọng rằng tôi là người cuối cùng ở Na Uy còn đem theo một trong số những viên thuốc độc thời chiến này và rằng khi kết thúc lá thư dưới đây, tôi sẽ là người cuối cùng phải nuốt một viên.
Với sự kính trọng sâu sắc, Andreas Gullestad
(Tên thánh Ivar Storkkog và thường được biết với bí danh Chân nai trong chiến tranh)
Trưởng trại giam nhẹ nhõm thấy rõ khi tôi tỏ ra thông cảm với ông ta về việc đã không thu giữ sợi dây chuyền của phạm nhân. Tôi phải thừa nhận rằng bản thân tôi cũng không hình dung nó che giấu một bí mật chết người.
Khi tin tức về sự thành công của cuộc điều tra lan rộng, điện tín và hoa tươi tràn vào văn phòng. Việc hung thủ tự sát trong phòng tạm giam không làm giảm nhẹ sự thật rằng cuộc điều tra phá án đã được tiến hành hoàn hảo - và rõ ràng không hề làm giảm bớt những lời tán dương. Tôi cũng nhanh chóng nhận ra rằng những câu hỏi có tiềm năng gây khó chịu về chi tiết vụ án giờ không còn phù hợp nữa.