Người Ruồi

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 53 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
5

❊ ❊ ❊

Cái bàn lớn của Patricia đã dọn sẵn cho hai người khi tôi được cô giúp việc đưa vào, trễ năm phút. Không quá bất ngờ, một ‘bữa ăn tối nhẹ’ thật ra khá là cầu kỳ đối với những người phục vụ cho gia đình Borchmann. Món đầu tiên - súp măng tây tuyệt ngon - đã được dọn sẵn trên bàn khi tôi đến. Tôi khen ngợi Benedikte về món súp và dĩ nhiên Patricia chỉnh tôi ngay.

“Thứ nhất, các cô giúp việc không chuẩn bị bữa ăn trong nhà. Đầu bếp đã có lương để làm việc đó. Và thứ hai, đây không phải Benedikte.”

Tôi nhìn cô giúp việc, ngơ ngác vì cô rất giống cô gái tôi gặp lần trước. Cô cười e thẹn trước nhầm lẫn của tôi, và Patricia lại lên tiếng.

“Đây là cô chị sinh đôi của Benedikte; cô ấy tên là Beate. Họ luân phiên làm hai ngày rồi nghỉ hai ngày. Việc thu xếp này rất tiện lợi vì về căn bản tôi sẽ luôn có cùng một cô giúp việc với gần như cùng những thói quen tốt xấu, trong khi họ cũng có một thời gian làm việc linh động trong tuần. Bằng cách đó, cả hai cô đều có thời gian để hẹn hò với những anh chàng tương đối thông minh với vẻ ngoài không tệ lắm.”

Beate gượng cười, rõ ràng là không thoải mái lắm. Tôi cố không nói điều gì nhưng suy nghĩ trong tôi lộ liễu đến độ tôi e là cô cũng thấy được: cái cách mà Patricia dùng năng lực trí tuệ của mình không phải lúc nào cũng có duyên.

Sau khi bí ẩn về cô giúp việc được làm rõ, chúng tôi bắt đầu ăn chậm rãi. Tôi kể cho Patricia nghe từng chi tiết câu chuyện của Bjorn Erik Svendsen và ông gác dan, cũng như việc tìm ra quyển nhật ký và những nội dung trong đó. Lần này cô không kiên nhẫn lắng nghe mà thường xuyên ngắt lời tôi với những câu hỏi sắc sảo và chi tiết.

Sau món súp, Patricia vui vẻ gác lại món chính cho đến khi cô được xem quyển nhật ký. Việc này không tốn nhiều thời gian. Patricia thực sự đọc ngấu nghiến các trang viết và xong việc trong vòng năm phút. An toàn trong vương quốc nhỏ bé của mình và cách xa các con phố tăm tối của Oslo, Patricia dường như không hề có cảm giác hốt hoảng như tôi và Bjorn Erik Svendsen đã cảm thấy đối với quyển nhật ký trong căn hộ của ông Harald Olesen. Nhưng cô cho thấy một sự mê mẩn không hề kém cạnh đối với nó. Một vài phút suy tư trôi qua khi chúng tôi ních đầy bụng món thịt thăn bò dùng kèm với rau và khoai tây nướng. Patricia nhai chậm rãi, nhưng không nghi ngờ gì nữa, cô suy nghĩ rất nhanh. Những phút im lặng bất thường được đều đặn cắt ngang bởi những cái chớp mắt nhanh.

“Đúng là một ngày làm việc hiệu quả’, cuối cùng cô nói khi món tráng miệng đã nằm trên bàn và cô Beate trung thành đã rời khỏi phòng. ‘Chúng ta đã tiến những bước dài trong cuộc điều tra và đã thu thập được thông tin mà tôi tin chắc là cực kỳ quan trọng.”

Tôi gật đầu một cách kiêu hãnh.

“Vâng, cảm ơn cô. Có vẻ như vậy. Nhưng tôi vẫn chưa thấy làm cách nào phá được vụ án này.”

Patricia lại nở nụ cười lém lỉnh thường thấy.

“Điều đó không có gì lạ - bản thân tôi cũng chưa thấy mà. Chúng ta vẫn còn thiếu một vài thông tin chủ chốt, điều này có nghĩa là chúng ta chưa có được bức chân dung rõ ràng của hung thủ. Nhưng cả quyển nhật ký lẫn câu chuyện của ông gác dan đã góp vài chi tiết mới vào bức vẽ này.”

Patricia dừng nói để suy nghĩ một chút trước khi tiếp tục.

“Các chữ cái trong quyển nhật ký chắc chắn phải có nghĩa và có thể mang tính quyết định. Ông Harald Olesen có vẻ không chọn chúng theo một hệ thống đã biết, vì trong trường hợp đó, phải bắt đầu với A hoặc X. Ông đã dùng các chữ cái để tạo ra một sự liên hệ trực tiếp cho ông, hoặc với một cái tên, hoặc với một biệt danh mà ông đặt cho người có liên quan. Bằng cách đó, ông sẽ dễ dàng nhận ra chúng, nhưng đối với chúng ta, chúng lại là trò chơi ô chữ cực kỳ khó giải. Dường như ông có chủ ý gây khó cho người viết tiểu sử, họ hàng hoặc bất kỳ người nào có được quyển nhật ký sau này. Tôi gần như chắc chắn rằng ông Olesen không dùng tên cho những người quan trọng, C, J, P hoặc O, mà là biệt danh hoặc từ ngữ nào đó mà ông gán cho những người này. O dường như làm việc một mình và có vẻ ít nguy hiểm, dù rằng người này và ông Harald Olesen rõ ràng từng có những bí mật và xung đột trong quá khứ. Ngược lại, C, J và P dường như liên quan với nhau theo một cách nào đấy.”

‘J có thể là Konrad Jensen’, tôi đề xuất; với hy vọng đóng góp điều gì đó không quá ngớ ngẩn.

Patricia khẽ lắc đầu.

“Dĩ nhiên tôi cũng cân nhắc khả năng đó; nhưng các ghi chép không khớp lắm. Dường như J là một người gợi lên sự cảm mến và cảm giác tội lỗi trong ông Harald Olesen. Và mặc dù chúng ta không bao giờ biết hết những điều ẩn giấu trong quá khứ, khó có khả năng một ông Phát xít già khớp với vai trò đó.”

Patricia đột nhiên bỏ cái muỗng dùng tráng miệng xuống và suy nghĩ rất lung. Tôi gần như nghe thấy tiếng cót két trong đầu cô ấy. Rồi cũng đột ngột như thế, cô bật ra một câu hỏi bất ngờ.

“Tôi chắc chắn là anh đã kiểm tra việc này, tuy nhiên, tôi không chắc anh đã nói cho tôi nghe hay chưa… Người mẹ đã khuất của Kristian Lund tên là gì?”

Chưa ai nói cho tôi biết và tôi cũng chưa hỏi. May mắn là tôi có nhớ đem theo tất cả các giấy tờ hộ tịch mà Patricia yêu cầu, nên nhanh chóng tìm ra thông tin liên quan đến Kristian Lund. Một suy nghĩ chợt lóe lên khi tôi lật xem các tờ giấy, và tôi nhìn Patricia với ánh mắt ngạc nhiên.

“Nhưng mẹ của Kristian Lund đã qua đời khi ông Harald Olesen bắt đầu ghi chép về C, J, P và O.”

Có chút châm biếm trong giọng nói của Patricia khi cô trả lời: “Chính thế!”

Tôi liếc nhanh thông tin trên tờ giấy, hy vọng không tỏ ra quá chậm chạp như tôi cảm thấy.

“Kristian dĩ nhiên mang họ mẹ, vì không có cha. Tên bà ấy là Nathalie.”

Patricia cau mày, lắc đầu và thở dài.

“Tôi e là cái tên Nathalie Lund không giúp gì nhiều cho chúng ta… Biết đâu bà ấy có tên lót hay biệt danh nào mà bà từng dùng hoặc được biết đến chăng?”

Tôi nhìn vào tờ giấy trong hồ sơ hộ tịch, tiếp đó là hai trang ghi chép về phiên tòa xử bà tội phản quốc.

“Không có tên lót, nhưng có một ghi chú ở đây cho thấy người ta thường gọi bà là Sonja trong chiến tranh, vì vẻ ngoài của bà giống minh tinh màn bạc Sonja Henie.”

Một thoáng im lặng. Khi tôi nhìn lên, tôi phát hiện ra Patricia đang nhìn tôi chằm chằm đầy kết tội.

“Anh có thể giúp chúng ta tiến nhanh hơn nếu nói ngay cho tôi biết điều này! Nó hoàn toàn ăn khớp với kịch bản hiển nhiên. Chúng ta vẫn chưa biết kẻ sát nhân là ai, nhưng ít nhất chúng ta đã nhận diện được chữ P bí ẩn là người quản lý cửa hàng Kristian Lund, người có địa chỉ nhà là 25 phố Krebs.”

Tôi nhìn Patricia như thể cô ấy là một người sao Hỏa da xanh đi giày trượt chứ không phải một phụ nữ da trắng đang ngồi xe lăn. Cô đảo mắt.

“Căn cứ trên việc chữ ‘S’ có thể là ‘Sonja’ và điều này dựa trên vẻ ngoài giống với nữ minh tinh nổi tiếng và xinh đẹp ấy của bà ta, thì phần còn lại khá là cơ bản, thưa anh Kristiansen thân mến. Toàn bộ các sự kiện ăn khớp nhau đến nỗi không thể là trùng hợp. Konrad Jensen đã đúng khi nói đã thấy ông Harald Olesen đến đón một người phụ nữ trẻ từ một cuộc họp của đảng NS ở Asker năm 1939. Bà ấy đến từ Drammen và có mối quan hệ với Harald Olesen. Một điều ông ta tuyệt đối không muốn được nhắc đến sau này, vì nhiều lí do mà tôi hy vọng không cần phải giải thích. Như vậy ‘S’, người được đề cập ngắn gọn trong nhật ký của ông Harald Olesen, nghĩa là ‘Sonja’. Một cách hoàn toàn tự nhiên, ông ta sẽ vẫn dùng một cái tên thân mật để chỉ người tình cũ. Điều này đồng nghĩa nhân vật P mà ông Harald Olesen gặp tình cờ cùng với S, người sau này tống tiền ông, dĩ nhiên là con trai của bà ta. Trong trường hợp này cũng không có gì ngạc nhiên khi Kristian Lund không muốn cho anh xem các chứng từ ngân hàng của anh ta.”

Tôi sực nhớ ra chi tiết về chiếc xe khi đến gặp bà vợ ông gác dan, nhưng rồi lại nhanh chóng quên mất nó. Việc đó làm tôi bực dọc, nên tôi hỏi tiếp.

“Vậy thì ‘P’ có nghĩa là gì?”

Patricia sốt ruột nhíu mày.

“Đó là một câu hỏi không mấy quan trọng mà tôi chưa thể trả lời một cách chắc chắn lúc này và có lẽ chúng ta cũng không bao giờ có câu trả lời chính xác được. Nhưng tôi đoán chữ P đó có nghĩa đại loại là ‘Phát xít con’. Quan trọng hơn, dường như anh ta chính là con đẻ của ông Harald Olesen.”

Như thế này rõ ràng là quá nhiều thứ cùng một lúc. Căn phòng bắt đầu xoay quanh tôi, nhưng giọng nói của Patricia vẫn rõ ràng và đầy thuyết phục khi cô nói tiếp.

“Dĩ nhiên hoàn toàn có thể là Kristian Lund chỉ tống tiền ông Harald Olesen đơn thuần dựa trên việc anh ta biết ông này từng có mối quan hệ với một người phụ nữ theo đảng NS. Nhưng nguyên nhân sẽ lớn hơn và cảm xúc sẽ mãnh liệt hơn, nếu ông Harald Olesen thật sự là cha ruột của anh ta. Mọi thứ cũng phù hợp về mặt thời gian, nếu chúng ta cho rằng ông Harald Olesen có quan hệ với mẹ anh ta vào cuối năm 1939, Kristian Lund được sinh ra vào mùa đông 1941. Nếu bà mang thai đứa trẻ vào khoảng tháng 5 hoặc tháng 6 năm 1940, tình hình cũng chẳng đỡ hơn đối với ông Olesen. Ngoài ra, điều đó có thể giải thích một số điểm tương đồng giữa người cha và con trai. Cả hai rõ ràng đều thông minh và đầy năng lượng. Và cả hai đều có năng khiếu trong những việc trái đạo đức, đặc biệt là cặp kè với những người phụ nữ xinh đẹp trong khi những bà vợ ngây thơ của họ không hề hay biết.”

Tiếp theo câu nói cuối cùng, Patricia bật ra một tiếng cười khúc khích trẻ con nghe không dễ chịu chút nào. Tôi nhận ra quan điểm của Patricia về tình yêu khá là cổ hủ. Tuy nhiên, tôi không thấy có lí do để mất thời gian thảo luận về việc này, vì sự đột phá trong các lí lẽ của cô rất quan trọng và có sức thuyết phục lớn.

“Chuyện này sẽ đẩy Kristian Lund vào tình thế khó khăn.” Patricia lập tức ngưng cười, cô nhanh chóng tỏ ra nghiêm túc và sốt sắng trở lại. “Có và không. Có, theo nghĩa là anh ta rõ ràng không chỉ thiếu chung thủy với vợ, mà còn tống tiền cha ruột mình. Vâng, đúng là anh ta không chỉ nói dối, mà còn là một kẻ nói dối bệnh hoạn và quỷ quyệt. Anh ta có thể còn vượt ngưỡng hình sự trong vấn đề chứng cứ giả. Nhưng không, theo nghĩa rằng việc anh ta có bắn ông Harald Olesen hay không vẫn là một câu hỏi mở. Theo quyển nhật ký, P dĩ nhiên là một kẻ sát nhân tiềm năng, nhưng J, O và chắc chắn là C, cũng đều có thể. Ngoài ra, cũng còn có thể có kẻ thứ năm, có hoặc không có liên quan với một trong bốn người đó, người mà ông Harald Olesen không hề biết gì. Anh nhất định phải thẩm vấn Kristian Lund lần nữa. Trong thời gian đó, chúng ta cố gắng xác định cho được danh tính của C, J và O. Với những thông tin ít ỏi lúc này, tôi chỉ có thể đặt ra vài giả thiết mong manh mà thôi.”

Tôi chờ nửa phút hy vọng rằng cô sẽ chia sẻ các giả thiết của mình về danh tính của C, J và O với tôi - mong manh hay không mong manh cũng được - nhưng thay vào đó, Patricia lại đặt ra một câu hỏi bất ngờ khác.

“Thời hạn truy tố tội giết người ở Na Uy vẫn là hai mươi lăm năm, phải không?”

Tôi xác nhận, nhưng nói thêm rằng mình thật tình hy vọng chúng tôi có thể hoàn tất việc điều tra trước thời điểm đó. Cô cười lịch sự, nhưng nhanh chóng nghiêm túc trở lại.

“Tôi đang nghĩ về quá khứ chứ không phải tương lai. Cũng có thể tôi bị ảnh hưởng bởi gần đây có đọc một quyển tiểu thuyết của tác giả trinh thám bậc thầy người Bỉ-Pháp tên là Simenon, trong đó thời hiệu của một vụ án mạng cũ đột nhiên làm phát sinh vài vụ án mạng mới. Và nó có thể cũng rất quan trọng với chúng ta. Những sự kiện mà ông gác dan kể đều xảy ra vào mùa thu năm 1944. Nếu chúng ta giả thiết rằng trong khoảng thời gian này có một hoặc vài vụ án mạng mà ông Harald Olesen biết, trong đó có liên quan đến Chân nai và một số người còn sống khác… như thế họ vẫn là những tội phạm, nhưng chỉ sau một năm nữa kể từ bây giờ, họ sẽ được miễn trừ do đã hết thời hạn truy tố.”

Tôi gật đầu và hỏi liệu cô có nghĩ điều đó có tính quyết định đến vụ án này.

“Một lần nữa, có và không. Tôi càng ngày càng có cảm giác rằng có việc gì đó lớn lao và nghiêm trọng xảy ra trong chiến tranh, điều mấu chốt của vụ án này. Tôi nghĩ trong một chừng mực nào đó nó thuộc về cảm xúc hoặc đại loại thế, nhưng sự dính líu đến pháp luật vẫn có thể quan trọng. Đặc biệt khi chúng ta cân nhắc việc có ai đó cực kỳ mong ước ông Harald Olesen sẽ tiếp tục giữ im lặng về chuyện đã xảy ra trong chiến tranh - vĩnh viễn là tốt nhất, nhưng chắc chắn là cho đến khi hết thời hạn truy tố. Điều này cũng tương đối phù hợp với các ghi chú trong quyển nhật ký.”

Patricia chìm trong suy nghĩ một lúc. Sau đó cô một lần nữa phục kích tôi bằng một câu hỏi hoàn toàn bất ngờ.

“Vì anh rất cao, và quan trọng là có thể đứng lên được, anh có thể lấy xuống cho tôi quyển niên giám năm 1967 được không? Nó có thể rất quan trọng đối với vụ án, và thật dễ tìm. Đó phải là quyển thứ tám tính từ phía bên phải của kệ sách trên cùng bên trái, sau lưng tôi.”

Tôi đứng lên một cách máy móc và theo hướng dẫn, tìm đến quyển niên giám năm 1967 của cô. Tôi không cưỡng lại được mong muốn trẻ con để nói rằng thật ra quyển sách là thứ mười chứ không phải thứ tám. Ngay lập tức tôi hối hận vì đã nói ra điều đó. Gương mặt Patricia sa sầm, và khi cô ấy cầm lấy quyển niên giám, cô càu nhàu gì đó về Benedikte và Beate, quở trách họ đã gây xáo trộn trong đợt dọn dẹp mùa xuân. Sau khi lướt nhanh nội dung, cô có vẻ quả quyết và đắc thắng trong mắt khi ngước lên nhìn tôi.

“Thôi, vị trí quyển sách rõ ràng không liên quan. Tuy nhiên, tôi đã đúng về điều duy nhất quan trọng trong quyển niên giám này, đó là vào năm ngoái, lễ Hiện xuống rơi vào kỳ cuối tuần từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 5.”

Sau một phút suy nghĩ căng thẳng, tôi phải ngậm đắng nuốt cay thừa nhận rằng tôi không hiểu lễ Hiện xuống năm ngoái có ý nghĩa gì đối với vụ án mạng năm nay. Patricia trả lời với một giọng ngọt như đường và nụ cười tươi tắn.

“Chuyện này hoàn toàn có thể hiểu được. Có rất nhiều sự kiện khác thường liên quan đến vụ án này và đòi hỏi một trí nhớ đặc biệt tốt để nhận ra tầm quan trọng của nó. Nhưng dù sao thì chi tiết này cũng rất quan trọng.”

Ngay lúc đó tôi chợt nhận ra những người tỏ ra rất hiểu biết thỉnh thoảng lại tỏ ra cực kỳ châm biếm. May thay, sự bực dọc của tôi nhanh chóng chuyển sang tò mò và Patricia ngay lập tức giải thích cho tôi nghe.

“Lần đầu tiên C được đề cập trong quyển nhật ký của ông Harald Olesen là khi anh ta đến căn hộ của ông ta vào ngày 15 tháng 5 năm 1967. Andreas Gullestad, người tình cờ có một trí nhớ đáng nể, đã nói rằng vào dịp lễ Hiện xuống năm ngoái anh ta đã thấy một người bí ẩn mặc áo khoác đi mưa màu xanh dương trong tòa nhà đó. Chúng ta chưa thể biết liệu C có hiện diện tại tòa nhà 25 phố Krebs vào đêm xảy ra án mạng hay không, và dĩ nhiên càng không thể biết liệu C có sát hại ông Harald Olesen hay không. Điều tương tự cũng đúng với người mặc áo khoác đi mưa màu xanh dương. Tuy nhiên, rất có khả năng nhân vật này chính là C, và C đã đến thăm ông Harald Olesen ngày 15 tháng 5 năm 1967. Việc này càng trở nên đáng quan tâm hơn khi có một cái áo mưa màu xanh dương được tìm thấy trong thùng rác vào đêm ông Harald Olesen bị ám sát. Hay là có chi tiết căn bản nào mà tôi đã bỏ sót nhỉ?”

Hẳn nhiên cô đã không bỏ qua chi tiết căn bản nào. Tôi thì ngược lại, bỏ qua nhiều thứ quan trọng hơn. Tuy nhiên, tôi chưa hiểu một việc và buộc phải hỏi lại.

“Trong trường hợp đó, chuyện gì đã xảy đến cho C? Có thể nào C cũng chính là Chân nai không?”

Rõ ràng chúng tôi đang nắm bắt được một điều gì đó. Patricia khẽ gật đầu và hăm hở nói tiếp: “Tôi đã suy nghĩ nhiều về hai câu hỏi cụ thể và quan trọng trên, C tất nhiên có thể là một cái tên hoặc một từ thông dụng: Carlsen, Christensen, Chim sẻ - hoặc Chân nai. Nếu là Chân nai, C có thể phù hợp với nhân vật đã vào tòa nhà vào ngày 15 tháng 5 để gặp ông Harald Olesen và không muốn có nguy cơ bị ai đó nhận ra. Nhưng lúc này chúng ta chưa biết gì về người Chân nai mà ông Harald Olesen quen trong chiến tranh. Chúng ta không có một cái tên hay gương mặt gợi ý nào, và không biết gã ta đến từ đâu, đã làm gì. Thật ra thì, chúng ta còn chưa thể loại trừ khả năng ‘gã’ là một ‘ả’. Danh tính của Chân nai và việc gã hay ả còn sống hay không có thể không quan trọng mấy nhưng cũng có thể là chìa khóa cốt yếu để mở bí ẩn này. Lần tới anh hãy hỏi về việc này với Bjorn Erik Svendsen, Jesper Christopher Haraldsen hoặc bất kỳ ai khác từng nghe nói tới Chân nai. Nhưng nếu ‘C’ ám chỉ ‘Chân nai’ và cũng chính C xuất hiện từ trong quá khứ vào đêm ông Harald Olesen bị ám sát, chúng ta không những phải giải thích bằng cách nào gã hay ả đã xoay xở để trốn thoát, mà còn phải tìm ra bằng cách nào gã hay ả lọt được vào nhà mà không bị phát hiện. Trừ phi…”

Patricia ngồi nhìn chằm chằm phía trước mặt và chìm trong suy nghĩ.

“Trừ phi…” tôi tiếp lời, với hy vọng có thể cắt đứt dòng suy nghĩ của cô. Tôi nhận ra Patricia không thích nói những điều mà về sau hóa ra là sai. Cô do dự trong nửa phút, nhưng rồi bắt đầu.

“Trừ phi C không cẩn phải đi vào và ra khỏi tòa nhà, bởi vì gã hay ả sống trong tòa nhà và vẫn luôn hiện diện ở đó. Như vậy, C là một trong số những người anh đã gặp. Hai vợ chồng nhà Lund và cô Sara Sundqvist đều được sinh trong chiến tranh, Ivar Storskog, mà nay là Andreas Gullestad, chỉ là một cậu bé khi cha mình bị bắn chết trong chiến tranh và chúng ta có thể an tâm nói rằng ông Konrad Jensen không hề tham gia vào phong trào Kháng chiến. Nhưng Darrell Williams là một người đàn ông trẻ tuổi, từng ở Na Uy và từng tích cực chiến đấu chống lại quân Đức. Có vẻ không phù hợp lắm khi một người Mỹ lại được sử dụng với vai trò dẫn đường ở Na Uy, nhưng những hoàn cảnh xung quanh toàn bộ câu chuyện này vẫn còn chưa rõ. Một số căn cứ lỏng lẻo có thể là Darrell Williams hồi đó có bước chân nhẹ nhàng hơn, ngoài ra Chân nai là một cái tên nổi tiếng của văn học thiếu nhi Mỹ. Và cụ thể hơn là trong những quyển sách của Edward S. Ellis.”

“Tôi tưởng của James Fenimore Cooper,” tôi đáp.

Patricia lắc đầu dứt khoát - với đôi má ửng hồng.

“Chắc chắn là Ellis. Tôi không có những quyển sách đó ở đây, dĩ nhiên rồi. Tôi đã đọc chúng vào giờ nghỉ trưa hồi học cấp hai hoặc cấp ba. Nhưng hoàn toàn không thể nhầm lẫn về cái tên này; bọn con trai ngốc nghếch lớp tôi chắc chắn đã nói đầy tai tôi về mấy quyển sách đó.”

‘Darrell Williams cho đó là Cooper’, tôi thận trọng phản bác.

Đột nhiên sự im lặng bao trùm căn phòng.

“Làm sao anh biết Darrell Williams cho rằng như thế?” Sau phút im lặng nặng nề, Patricia thốt lên với một giọng gần như kết tội. Gương mặt xanh xao của cô đột nhiên trắng bệch, và có điều gì giống như nỗi sợ hãi lóe lên trong đôi mắt sẫm màu của cô.

Tôi nói ngay rằng mình đã thử nhắc đến cái tên ‘Chân nai’ với bà vợ ông gác dan và những người khác nhưng không khám phá được gì qua phản ứng của họ.

Nhận tin này, gương mặt Patricia càng trắng bệch hơn nữa. Tôi chợt nhận ra đằng sau một thái độ đầy tự tin và một giọng nói điềm tĩnh, cô thật ra vẫn là một cô gái trẻ nhạy cảm.

“Tôi hiểu được động cơ của anh và đó là một bước đi táo bạo trong ván cờ hệ trọng này. Có lẽ anh nghĩ rằng nếu thật sự ai đó trong tòa nhà là kẻ sát nhân hoặc thông đồng với gã hoặc ả, mà hoàn toàn có thể thế thật, thì người đó sẽ cảm thấy áp lực nhiều hơn khi nhận ra cuộc điều tra đang có tiến bộ. Nếu tên Chân nai bí ẩn kia có liên quan đến vụ án, áp lực có khả năng sẽ khiến gã hay ả có những động thái đáng ngờ.”

Tôi gật đầu. Đó cũng là những gì tôi đã nghĩ.

“Vấn đề nằm ở chỗ, tuy rằng anh hoàn toàn đúng về giả thiết trên, nguy cơ xảy ra các sự kiện bi kịch hơn giờ đây đã tăng gấp đôi!”

Tôi giơ tay phản đối.

“Tôi đã bố trí những cảnh sát viên tin cậy và có vũ trang ở cả hai phía của tòa nhà. Sẽ là một kỳ công nếu có thể trốn thoát mà không bị họ bắt gặp.”

Patricia gật đầu nhưng không mỉm cười.

“Rất tốt, nhưng việc tên sát nhân tẩu thoát không phải là điều mà tôi e sợ. Chúng ta thậm chí còn hy vọng điều đó xảy ra: nó sẽ vạch mặt kẻ giết người mà không gây thêm bất cứ tổn hại nào. Tôi rất quan ngại rằng một việc gì đó bi thảm sẽ xảy ra trong tòa nhà. Chúng ta vẫn chưa biết ai là kẻ sát nhân, nhưng căn cứ trên những gì đã biết, chúng ta đang truy lùng một sát thủ xảo quyệt và quyết đoán khác thường.”

Patricia bồn chồn cựa quậy trên chiếc xe lăn trong vài phút. Rõ ràng là tình huống hiện nay đã có một bước chuyển biến bất ngờ mà cô không thích, và không còn đơn thuần là một trò chơi trí tuệ đối với cô.

“Tôi chỉ muốn anh bố trí ngay một cảnh sát gác ở từng tầng một của tòa nhà số 25 phố Krebs từ tối nay’, cô đột ngột lên tiếng. ‘Nhưng dĩ nhiên đó là quyết định của anh,” cô nói luôn một hơi.

Tôi nhìn đồng hồ - đã là 9 giờ 15 phút - và trả lời cô một cách chân thành nhất: sẽ khó mà giải trình một biện pháp quyết liệt như vậy trong thời gian gấp rút thế này, hơn nữa chúng tôi không thể tìm thêm được ba viên cảnh sát sẵn sàng làm nhiệm vụ ngay bây giờ. Quả vậy, bản thân vụ án này đã quá đủ rắc rối và đáng sợ, không cần chúng tôi phải thấy ma giữa ban ngày.

Patricia có vẻ dịu lại. Cô xin lỗi vì phản ứng thái quá và lặp lại rằng chỉ có tôi mới có thể ra quyết định khó khăn đó. Tuy nhiên, cô đã yêu cầu tôi ít nhất cũng suy tính khi đi ngủ tối nay và đánh giá khả năng đó vào buổi sáng. Cứ như thể nỗi sợ hãi và sự bí ẩn trong quyển nhật ký cũng đã ảnh hưởng đến Patricia, dù vài tiếng đã trôi qua, và dù cô ấy đang rất an toàn trong nhà mình.

Không khí trong phòng khá căng thẳng khi chúng tôi chào tạm biệt ít lâu sau đó, vừa đúng lúc đồng hồ điểm 10 giờ. Tôi cảm ơn cô về bữa ăn và những lời khuyên tốt, nhưng đáp lại chỉ nhận được một nụ cười gượng. Patricia có vẻ phần nào dịu lại khi tôi hứa sẽ cân nhắc việc tăng cường an ninh vào sáng hôm sau và sẽ cho cô biết ngay nếu có tiến triển quan trọng trong vụ án.

Có một sự cố nho nhỏ xảy ra khi tôi đứng lên ra về và đưa mắt nhìn lướt qua các kệ sách trong lúc chờ cô nàng Beate trung thành. Patricia đột nhiên trở nên rất lo lắng trước giờ giấc khuya khoắt và nhất quyết không giữ tôi lại thêm một chút nào nữa. Cô lập tức nhấn chuông gọi Beate và yêu cầu cô ta tiễn tôi ra về càng nhanh càng tốt.

Tuy nhiên, bí ẩn nhỏ đã được sáng tỏ mà không cần sự trợ giúp nào, ơn trời, khi tôi theo sau Beate bước xuống các bậc thang ra đường chỉ vài phút sau đó. Nó cũng xác nhận với tôi rằng Patricia một lần nữa đã đúng, và rằng Darrell Williams đã vô tình hoặc cố ý thông tin sai về quyển sách có nhân vật Chân nai. Chúng được viết bởi Edward S. Ellis. Bất chấp nỗ lực của Patricia để che giấu sự thật là chúng nằm ở đó, tôi đã thoáng thấy bốn quyển của bộ sách chễm chệ trên kệ sách.

Khi đã ra bên ngoài, trên đường ra chỗ chiếc xe trong đêm tối, tôi một lần nữa nghĩ đến tính chất nghiêm trọng của vụ án mạng. Mặc dù danh tính của kẻ sát nhân vẫn còn chưa được làm rõ, tôi cảm thấy với sự giúp đỡ của Patricia chúng tôi đã có được một số đột phá quan trọng. Khi tôi mở cửa căn hộ của mình và nằm vật xuống giường, suy nghĩ mạch lạc cuối cùng của tôi là thứ Ba ngày 9 tháng 4 sẽ có thể là một ngày căng thẳng nữa của cuộc điều tra. Và sung sướng làm sao, lúc ấy tôi không hề biết nó sẽ bi kịch đến thế nào.

Đấng quyển năng thương xót cho linh hồn tôi! Đoạn văn được đánh máy nhưng Konrad Jensen ký tên bằng bút bi ngay phía dưới. Tôi gật đầu với chính mình, do tôi đứng đó một mình trong căn hộ với một người đàn ông đã chết và đã ký một lá thư t
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Hans Olav Lahlum

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.