NGÀY THỨ CHÍN
6
Theo dấu bóng ma dẻo chân thời chiếnVào thứ Sáu Tuần thánh ngày 12 tháng 4 năm 1968, ngày làm việc của tôi bắt đầu sớm hơn thường lệ. Lúc 8 giờ kém 10, tôi đã ở văn phòng và nhẹ người khi không nhìn thấy lời nhắn nào. Đúng 8 giờ, tôi ra xe, sẵn sàng cho hành trình đơn độc đến Thụy Điển. Tôi chạy xe ngang qua số 25 phố Krebs, nơi mọi thứ dường như vẫn yên bình. Nhưng tôi thực sự cảm thấy có chút gì đó bồi hồi khi rời Oslo.
Quãng đường tôi đi qua cứ trôi dần với một tốc độ ổn định. Xe cộ không nhiều và các con đường đều sạch tuyết trước khi tôi đi lên vùng núi. Tuyết đang tan, nhưng hai bên con đường đến Trysil là một phong cảnh mùa đông tuyệt đẹp của Na Uy. Chốt kiểm soát nơi biên giới với Thụy Điển chỉ là hình thức. Một cán bộ hải quan chào và vẫy cho xe qua mà không cần thủ tục gì ngay khi anh ta thấy đó là một chiếc xe cảnh sát. Không còn bất kỳ lính gác nào ở cả hai phía Na Uy và Thụy Điển. Tôi chợt nghĩ việc kiểm soát này chắc hẳn phải nghiêm ngặt và đáng sợ hơn nhiều đối với những người rời bỏ đất nước Na Uy bị chiếm đóng vì lo sợ cho mạng sống của mình trong thời chiến tranh. Thật là một cảm giác kỳ lạ khi đi tìm những dấu vết đã tan biến từ lâu trên mặt tuyết của một người dẫn đường bí ẩn cùng hai người tị nạn mất tích khoảng hai mươi bốn năm về trước.
Khi đã ở trên đất Thụy Điển, tôi lái xe hàng dặm mà không thấy bóng dáng con người. Rồi đột nhiên, một đồn cảnh sát xuất hiện sau góc cua. Mới hơn 1 giờ chiều. Trên con đường nhánh có gắn dấu hiệu của cảnh sát, và hai chiếc xe cảnh sát Thụy Điển không thể lẫn vào đâu được đang đậu bên ngoài. Đồn này gần giống với một tư gia hai tầng nhiều hơn, và nằm dưới chân sườn dốc của một thung lũng dài.
Đồn trưởng Hans Andersson đã bố trí sẵn cà phê và bánh ngọt chờ tôi trong phòng làm việc. Ông gần giống như những gì tôi đã hình dung: một người đàn ông lục tuần tóc muối tiêu, thấp hơn tôi cỡ nửa cái đầu và có vẻ đậm người hơn tôi. Lưng ông vẫn thẳng, đôi mắt vẫn sáng, cái bắt tay rất chặt và nụ cười thân thiện. Nhưng giọng của ông nhẹ nhàng hơn tôi tưởng, và câu nói đầu tiên của ông càng gây bất ngờ hơn nữa.
“Mừng anh đã đến đây. Tôi luôn cảm thấy dễ chịu khi được một người đồng hương ghé thăm.”
Ông cười rinh rích trước sự ngạc nhiên của tôi và giải thích. “Trước đây, tôi là Hans Andersen, đến từ Na Uy - tôi bắt đầu được huấn luyện ở đó. Nhưng rồi tôi đã gặp một cô gái trẻ tuyệt đẹp trong một dịp nghỉ lễ Phục sinh và cuộc đời tôi đã xoay chuyển thành ra thế này…Tôi đã được huấn luyện để trở thành cảnh sát ở Gothenburg và phục vụ tại đây từ lúc đó.”
Ông nhanh nhẹn nghiêng người về phía tôi và hạ giọng khi nói tiếp.
“Mọi chuyện không phải lúc nào cũng dễ dàng. Sự tan rã của liên minh chỉ mới diễn ra vài thập kỷ trước và những thế hệ già hơn vẫn giữ một thành kiến không nhỏ đối với những người Na Uy. Cha vợ tôi đã nói ngay rằng ông có thể chấp nhận một người Na Uy là con rể, nhưng không thể chấp nhận cháu mình mang họ Na Uy. Vì thế Hans Andersen trở thành Hans Andersson.”
Ông ngừng lời và trầm ngâm nhai một cái bánh nhỏ.
“Mọi việc trở nên tốt đẹp hơn trong một thời gian, nhưng rồi chiến tranh nổ ra và mọi thứ lại phức tạp. Trong hai năm đầu của cuộc chiến, đã có một sự đồng tình đáng kể với người Đức và một niềm tin vững chắc rằng họ sẽ giành chiến thắng. Có lẽ anh đã biết ngoại trưởng Halvdan Koht của Na Uy đã đến Salen vào năm 1940 chỉ để được bảo rằng ông ấy không được chào đón ở đây, và nhà vua có nguy cơ bị bỏ tù nếu tới Thụy Điển.”
Tôi gật đầu và ra hiệu cho ông nói tiếp. Tôi nhận ra rằng có thể đây sẽ là một cuộc đối thoại dài và hấp dẫn.
“May mắn thay, tâm lý đó nhanh chóng thay đổi trong khoảng từ năm 1942 đến 1943. Tin tức về những vụ hành hình và bắt bớ ở Na Uy thu hút sự chú ý nhiều hơn. Càng ngày càng rõ người Đức đang ở vào thế chống đỡ. Những mệnh lệnh ban bố từ Stockholm yêu cầu những người tị nạn từ Na Uy phải được đón tiếp và chăm sóc tốt. Chúng tôi đã áp dụng một cách tiếp cận đầy thực tiễn cho tình huống này. Những người tị nạn đầu tiên sẽ được đăng ký tại đây, ở tầng trệt. Sau đó họ sẽ được đưa lên phòng khách trong căn hộ của tôi trên lầu để ăn mừng với cà phê và thức ăn. Nhiều lần chúng tôi để họ ngủ lại qua đêm ở một trong số những phòng dành cho khách. Có rất nhiều khoảnh khắc tuyệt vời, tôi tin chắc anh có thể hình dung được. Một số trong những người hạnh phúc nhất mà tôi từng thấy trong đời mình, tôi đã gặp họ ở phía ngoài tòa nhà này trong thời chiến tranh.”
“Ông có nhớ lần đầu tiên gặp ông Harald Olesen là khi nào không?”
Ông gật đầu và mỉm cười.
“Tôi nhớ ngày tháng đó rất rõ vì đó là hôm trước đêm Giáng sinh năm 1942. Họ đã đi bộ suốt đêm và xuống đến phía bên này của thung lũng chỉ vừa sau bữa ăn sáng. Chúng tôi chỉ mới vừa bắt đầu trang trí cây thông Noel khi họ đến. Rất lâu sau này tôi mới biết tên thật của ông ấy là gì. Trong chiến tranh; ở phía Thụy Điển ông được gọi là Mắt ưng. Cái tên đó được lấy từ một quyển sách về người Da đỏ và rất hợp với ông. Khuôn mặt nhìn nghiêng của ông Harald Olesen giống với một con chim ưng và ông có tầm nhìn tốt hơn hầu hết mọi người. Lúc đó ông cũng gần năm mươi tuổi rồi nhưng trông trẻ hơn tuổi nhiều. Sau này tôi đã nghĩ về việc đó - các bí danh có lẽ khá là lộ liễu mặc dù chúng tôi cũng ít khi dùng chúng. Cái tên Mắt ưng rất khớp với Harald Olesen, và Chân nai thì rõ là phù hợp với người bạn đồng hành của ông ấy. Tôi từng một lần đề cập việc này với ông Harald Olesen nhưng ông chỉ mỉm cười bảo rằng không ai có thể nghi ngờ Chân nai điều gì hết; và rằng thực ra cái tên ‘Chân mèo’ có lẽ còn hay hơn. Điều đó là đúng. Về nhiều mặt, Chân nai rõ ràng là một thiếu niên đáng chú ý. Cậu ấy có đôi chân rất dẻo. Cả mùa hè lẫn mùa đông, Chân nai đều đi như lướt trên mặt đất, và chúng tôi thường đùa rằng cậu ta sẽ không bao giờ để lại dấu vết nào ngay cả trên lớp tuyết vừa rơi. Trước đó và ngay cả sau này, tôi cũng chưa từng bao giờ thấy một người nào có thể nhún nhảy nhẹ nhàng trên tuyết như Chân nai. Cậu ấy luôn giống như được gắn lò xo, sẵn sàng nảy lên. Như một võ sĩ quyền anh hạng lông, nếu anh hiểu tôi muốn nói gì.”
Tôi đã từng xem vài trận quyền anh và biết chính xác điều ông muốn nói. Tôi cũng nhanh chóng hiểu ra Hans Andersson không phải là một người kể chuyện mau lẹ và có thiên hướng cường điệu hóa.
“Rất hấp dẫn. Lần đầu ông gặp ông Harald Olesen, có Chân nai ở đó không?”
Ông gật đầu hớn hở.
“Có chứ, cả hai người bọn họ, và những lần sau cũng vậy. Đó là một câu chuyện thú vị. Đối với tôi, Harald Olesen luôn là một người đàn ông rất thông minh và có năng lực. Tôi không hề ngạc nhiên khi ông ấy trở thành thành viên của nội các sau chiến tranh. Nhưng là một thành viên của phong trào Kháng chiến, ông ấy chỉ có đúng một điểm yếu mà luôn có cách khắc phục, bởi vì ông ấy ý thức rất rõ về nó. Ông ấy đã nói cho tôi biết khi đến đây lần thứ ba hoặc thứ tư, và rõ ràng tôi chưa từng nhận ra nó. Harald Olesen hầu như không có khả năng định hướng. Nếu ông ấy đi lên núi một mình với những người tị nạn, họ có thể sẽ không bao giờ tìm được đường ra. Ông ấy thường gọi Chân nai là bản đồ và la bàn của mình. Theo như tôi hiểu, Chân nai nắm rõ vùng núi này từ trước chiến tranh và cũng có khả năng định hướng rất tốt.”
Ông dừng lại và lịch sự chờ tôi ghi chép xong. Tôi sốt ruột ra dấu cho ông kể tiếp.
“Có rất nhiều người tị nạn đã được hưởng lợi từ khả năng định hướng không-thể-sai-sót của Chân nai, và họ vô cùng biết ơn. Chúng tôi kéo cao lá cờ ở đây mỗi ngày như một tín hiệu kín đáo cho bất kỳ người tị nạn nào có thể băng qua biên giới. Sự phấn khích vỡ òa nhiều lần khi họ xuống đến bên này của thung lũng, thấy lá cờ và nhận ra rằng cuối cùng họ đã tới được Thụy Điển an toàn. Tôi đặc biệt nhớ rõ lần đầu tiên, bởi vì một trong số những người tị nạn mà họ đưa đi cùng có tuổi đời rất trẻ. Đó là vào năm 1942, cậu ấy mới chỉ mười sáu tuổi. Chính cậu ta cho tôi biết điều đó khi quay lại đây mười năm sau cùng với vợ con để cảm ơn và tặng quà cho chúng tôi.”
Tôi gật đầu, nhận ra một người quen. Đó là một câu chuyện cảm động, nhưng tôi đã từng nghe rồi. Rõ ràng anh ta cũng chính là người tị nạn đã được hai vợ chồng ông gác dan che giấu dưới tầng hầm của tòa nhà tại Oslo nơi ông Harald Olesen bị bắn chết sau này. Có cảm giác chúng tôi đang nóng dần lên và Chân nai sẽ sớm xuất hiện.
“Câu chuyện rất hấp dẫn, nhưng tôi muốn biết thêm một số chi tiết về người Chân nai này. Theo những gì tôi hiểu thì ông chưa bao giờ biết tên thật của anh ta. Nhưng có những chi tiết nào khác mà ông có thể nói cho tôi biết về nhân vật này? Ví dụ như tuổi tác, quê quán, hay đại loại như thế. Và liệu anh ta có ngữ âm giọng Mỹ hay không?”
Hans Andersson lắc đầu một cách nuối tiếc.
“Chân nai nói tiếng Na Uy không lẫn ngữ âm nào khác và theo như tôi có thể nhớ được thì cũng không lẫn bất kỳ thổ ngữ nào. Cậu ấy có thể đến từ bất kỳ đâu ở phía đông Na Uy. Chân nai kín đáo và ít khi nói về bản thân. Nhưng tôi đã tìm thấy một tấm hình cũ của cậu ấy.”
Tôi ngây người nhìn ông đứng dậy, đến bên bàn giấy và lấy một tấm hình đen trắng từ trong một ngăn kéo, với vẻ mặt gần giống như một sự ngưỡng mộ.
“Tôi không nhớ đã chụp hình, nhưng chúng tôi ắt phải làm lúc đó. Tấm hình được cậu tị nạn trẻ tuổi đưa cho tôi khi cậu ta quay lại nhiều năm sau đó, và tôi lại lôi nó lên một lần nữa sau khi nhận được điện tín của anh. Tấm hình này chắc là được chụp vào ngày 23 tháng 12 năm 1942. Người tị nạn trẻ đứng bên tay phải và Chân nai bên tay trái.”
Ông lật sấp tấm hình ẩn chứa bí mật và đẩy nó qua bàn.
“Có lẽ anh sẽ hiểu những gì ông Harald Olesen ngụ ý khi nói rằng sẽ không ai nghi ngờ Chân nai điều gì - và tại sao tôi nói rằng cậu ấy là một thiếu niên đáng chú ý.” Ông bình phẩm với nụ cười láu lỉnh.
Tôi nhanh chóng lật ngửa tấm hình và lập tức hiểu ra hàm ý của ông. Giả thiết Darrell Williams là Chân nai có thể dẹp được rồi.
Trong tấm hình ố vàng của ngày 23 tháng 12 năm 1942, anh chàng tị nạn tóc sẫm là một thanh niên mười sáu tuổi cực kỳ hạnh phúc và tươi tắn. Rõ ràng anh ta chưa trưởng thành, nhưng trong hình vẫn là người cao hơn. Có một tia sáng lóe lên từ mặt dây chuyền bạc đeo trên cổ của Chân nai, nhưng gương mặt cậu ta hoàn toàn vắng bóng nụ cười. Ánh nhìn chằm chằm của cậu hướng vào máy ảnh từ bên dưới lớp tóc mái đen nhánh nom rất tập trung và nghiêm nghị. Vào tháng 12 năm 1942, Chân nai là một cậu bé gầy còm, đen nhẻm và thậm chí chưa có râu. Tôi đoán tuổi cậu ta tối thiểu mười ba và tối đa mười lăm.
Ông Hans Andersson mỉm cười trong thoáng chốc trước sự ngạc nhiên của tôi và tiếp tục nói trước khi tôi kịp đặt câu hỏi.
“Tôi không biết Chân nai tên là gì, đến từ đâu và bao nhiêu tuổi. Lần đầu tiên tôi hỏi tuổi, cậu ấy chỉ cười và đùa rằng mình mới mười tuổi và to xác so với tuổi. Tôi chưa bao giờ nhận được một câu trả lời chính xác sau đó. Chân nai phổng phao thêm một chút trong những năm tôi biết cậu ấy, nhưng tôi không nghĩ cậu ấy có thể lớn hơn mười sáu tuổi vào lần cuối tôi gặp cậu, hồi mùa đông năm 1944.”
Ông bước đến bên tôi và chỉ vào tấm hình.
“Tôi chưa bao giờ thấy cậu ấy không đeo cái mặt dây chuyền này. Hình như đó là một cái bùa mà cậu ấy luôn đeo. Anh có thể thấy gương mặt cậu ấy nghiêm túc và già dặn đến như thế nào trong hình. Đó là những gì mà chúng tôi dễ thấy nhất. Cậu ấy bị ảnh hưởng nặng nề khi lớn lên trong chiến tranh, nhưng đôi khi cậu ấy cũng có một gương mặt trẻ con và vui vẻ hơn. Đó không phải là một người dễ nắm bắt.”
Tôi tin ngay điều đó. Chân nai chắc chắn không phải là một người dễ nắm bắt và càng khó bắt giữ. Trong tấm hình, các đường nét trên khuôn mặt cậu rất mờ nhạt và không nhắc tôi nhớ đến bất kỳ người nào tôi từng gặp cho đến nay trong cuộc điều tra này. Điều này chỉ làm tôi bực bội hơn, vì tôi càng lúc càng có cảm giác rằng cậu bé nghiêm nghị trong tấm hình từ năm 1942 này về mặt nào đó đang nắm giữ chìa khóa giải mã vụ sát hại ông Harald Olesen hiện giờ, vào năm 1968. Tôi dừng một lúc để nghĩ đến một câu hỏi quan trọng.
“Ấn tượng của ông về mối quan hệ giữa hai người họ - ông Harald Olesen và Chân nai, là gì?”
Hans Andersson trầm ngâm gật đầu.
“Một câu hỏi hay - tôi cũng thường tự hỏi về điều đó. Vào năm 1942 và 1943, đó dường như là một mối quan hệ tốt đẹp kiểu cha-con. Tôi thậm chí từng nghe Chân nai nói về ông Harald Olesen như một người cha vài lần, và ông ấy mỉm cười chấp nhận như vậy. Nhưng rõ ràng Chân nai không phải là con trai của Harald Olesen. Ông ấy từng nói với tôi một lần là buồn thay ông ấy không có con, điều này cũng được xác nhận trên báo chí sau khi ông mất. Tôi nghĩ rằng có lẽ trong thời kỳ chiến tranh đó, Chân nai giống như là cậu con trai mà ông ấy luôn ước ao có được. Do vậy tôi hình dung Chân nai là đứa trẻ mồ côi, đặc biệt khi cậu ấy không bao giờ kể về gia đình mình. Nhưng dĩ nhiên cũng có thể là do cậu ấy cẩn trọng.”
Mặc dù còn rất trẻ, dường như Chân nai đã rất giỏi che đậy các dấu vết của mình sau chiến tranh. Điều này hé mở những mối liên hệ trực tiếp với kẻ sát nhân bí ẩn năm 1968.
“Vậy là lần cuối cùng ông thấy Chân nai ở đây là vào mùa đông năm 1944. Có phải đó cũng là lúc cô Sara Sundqvist đến đây?”
Ông ta gật đầu lần nữa nhưng đột nhiên sầm mặt lại.
“Vâng, nhưng để nghe câu chuyện đó, anh cần phải ra ngoài với tôi.”
Không đợi câu trả lời, Hans Andersson đứng lên, vớ lấy cái ống nhòm trên bàn và đi theo hành lang ra cửa chính. Tôi cầm lấy quyển sổ tay và nối gót ông.