Nằm trơ trọi giữa bàn làm việc của tôi là một bao thư màu trắng đơn giản, với dòng địa chỉ được viết nắn nót và một con tem. Lá thư thật ngắn ngủi.
Ngày 7 tháng 4 năm 1968
Gửi ngài Thanh tra cảnh sát Kolbjorn Kristiansen
Người duy nhất ở số 25 phố Krebs đã khai thật với anh là ông Konrad Jensen.
Patricia Louise I. E. Borchmann
Thật không thể nào không phá lên cười trước đoạn văn ngắn ngủi và nghiêm túc đó. Tôi đã quên cô gái trẻ Patricia trong cơn phấn khích sau cái chết của ông Konrad Jensen và niềm vui sướng khi giải được vụ án mạng bí ẩn. Tôi nhanh chóng nhận ra vì sự tôn trọng tôi nên báo cho cô ấy biết rằng vụ án đã khép lại, trước khi cô nghe thấy điều đó trên tivi hoặc đọc trên báo. Và tôi cũng phải chỉ ra rằng những giải thích chi tiết của cô là thừa thãi. Với cảm giác nhẹ nhõm đáng kể so với ngày hôm trước, tôi nhấc điện thoại và quay số của cô, chuỗi số mà tôi đã thuộc nằm lòng. Tôi không thấy có lí do gì phải che giấu bớt thông tin khi cô bắt máy.
“Tôi vừa mới phát hiện ra ông Konrad Jensen đã chết. Ông ta đã tự nhốt mình trong căn hộ với một vết thương trên đầu và một khẩu súng cỡ nòng 0,45 trên sàn kế bên ông ta. Trên chiếc bàn trước mặt ông ta là một lá thư tuyệt mệnh, trong đó ông ta thú nhận đã sát hại Harald Olesen.”
Phản ứng của Patricia thật mãnh liệt, nhưng không hề tích cực như tôi đã hy vọng.
Tiếng “Chết tiệt!” của cô vang như sấm trong tai tôi.
Sau đó là một sự im lặng trong vài giây. Rồi cô nói tiếp, với giọng nhẹ nhàng hơn.
“Xin lỗi vì đã nói như thế với anh. Tôi không nổi giận với anh, mà giận chính bản thân tôi. Bởi lẽ chính điều tôi lo sợ đã xảy ra: kẻ sát nhân cảm thấy bị dồn vào chân tường và gây án lần nữa. Và tôi có lí do để tin rằng ông Konrad Jensen có thể là nạn nhân, nhưng lại không muốn nói ra do sợ sẽ sai lầm. Chết tiệt, chết tiệt - nhưng chúng ta sẽ phá cả hai vụ án mạng!”
Tôi cười thầm và nói với một giọng bề trên tử tế: “Nhưng cô Patricia thân mến, chỉ có duy nhất một vụ án, và giờ nó đã được phá rồi. Konrad Jensen đã bắn chết ông Harald Olesen rồi tự sát. Chúng tôi đã có lời tự thú bằng văn bản có ký tên của ông ta, và không có dấu vết của người nào khác trong căn hộ.”
Đầu dây bên kia lại im lặng thêm một lúc nữa, rồi giọng nói sắc sảo của Patricia vang lên trở lại.
“Tôi đồng ý rằng chúng ta đang đối đầu với một tên sát thủ đặc biệt quỷ quyệt và một vụ án mạng thứ hai cực kỳ tinh vi. Nhưng với tất cả sự tôn trọng, liệu anh có thực sự tin những gì anh vừa nói?”
Giờ thì tôi bắt đầu bực bội và muốn đáp trả bằng một câu trả lời ngạo mạn.
“Dĩ nhiên tôi tin những gì tôi vừa nói, mọi người ở đây cũng vậy. Cô thấy đấy, chúng tôi là cảnh sát - và sống trong thế giới thực.”
Im lặng tiếp tục, nhưng rõ ràng Patricia vẫn không có ý định bỏ cuộc.
“Trong trường hợp đó, có một vài điều đơn giản trong thế giới thực mà phiền anh giải thích cho cô gái ngu muội bị cấm cung trong tháp ngà như tôi. Thứ nhất là cái áo khoác đi mưa màu xanh: ai đã mặc nó và tại sao nó bị vứt đi vào đêm xảy ra án mạng? Thứ hai là quyển nhật ký: ai là J và O mà ông Harald Olesen đã đề cập, đó là còn chưa nói đến C, người mà ông ta rất sợ?”
Chỉ khi Patricia tung ra các câu hỏi, tôi mới lần đầu tiên có cảm giác gờn gợn rằng quả thực có điều gì đó còn thiếu và có thể kết luận của chúng tôi đã sai.
“Tôi biết vẫn còn nhiều điều chúng tôi chưa làm rõ, nhưng có nhiều cách giải thích khả dĩ. C, J và O có thể là ai đó trong số phân nửa thành phố này, người đàn ông trong chiếc áo khoác đi mưa màu xanh dương cũng vậy, và không hẳn phải có liên quan đến vụ án. ‘J’ có thể là ‘Jensen’ như tôi đã đề xuất. Nhưng giờ chúng ta đã có vũ khí giết người và lời tự thú từ một gã cựu Phát xít ở trong cùng một tòa nhà với nạn nhân vào đêm xảy ra án mạng và sau đó đã tự sát. Chừng đó là đủ rõ ràng đối với tôi.”
Patricia không nói gì; trong một lúc dường như cô đang nghi ngờ, rồi giọng nói của cô tiếp tục vang lên.
“Tôi thừa nhận rằng việc này quá sức thông minh, nhưng chính điều đó khiến nó đâm ra kỳ quặc. Hãy thử nghĩ về ông Konrad Jensen, một tên Phát xít tép riu có trí thông minh ở mức trung bình, chưa bao giờ thật sự sử dụng nó thành công, yếu đuối và có bản chất khép kín. Làm sao có chuyện ông ta đủ khả năng bày ra một âm mưu phức tạp như thế để giết hại một người anh hùng thời Kháng chiến như ông Harald Olesen. Càng phi lý hơn nữa khi ông ta đương nhiên sẽ là người đầu tiên bị nghi ngờ và là mục tiêu nhắm vào của mọi phản ứng. Anh có thể nào tưởng tượng nổi ông Konrad Jensen nghĩ ra được kế hoạch khôn ngoan với bộ dàn âm thanh và lạnh lùng kết liễu ông Harald Olesen không? Tôi rõ ràng không giàu trí tưởng tượng đến thế.”
Thật lòng mà nói, tôi cũng không. Tôi cảm thấy mặt đất đang rung chuyển, nhưng kiên quyết bảo vệ thành công của mình.
“Đúng là không dễ gì hình dung được như vậy. Tôi cũng đã ngờ rằng hung thủ không phải ông ta, nhưng việc tìm thấy vũ khí giết người và bản tự thú đánh máy tạo nên một cơ sở khá thuyết phục.”
Giọng nói ở đầu dây bên kia im lặng trong khoảng nửa phút. Thế rồi nó vang lên trở lại - chất chứa nhiều ngờ vực hơn trước.
“Đánh máy! Có phải anh vừa nói là bản tự thú của ông ta được đánh máy?”
Khi nghe thấy sự hoài nghi sâu sắc của giọng nói của Patricia; tôi dâng trào cảm giác nuối tiếc giống như khi người ta nhận ra có gì đó không đúng - mặc dù không biết chính xác điều đó là gì.
“Phải. Nội dung thư tuyệt mệnh của Konrad Jensen được đánh máy nhưng chữ ký bên dưới dứt khoát là của ông ta!”
Lại im lặng. Giọng Patricia rắn đanh khi cô trả lời.
“Nhưng hẳn là Konrad Jensen còn không rành mặt chữ cái; chứ đừng nói tới các phím của một cái máy đánh chữ. Và anh chưa bao giờ đề cập tới việc ông ta có một cái máy đánh chữ trong căn hộ của mình. Đúng không?”
Câu hỏi đập vào tôi như một cú đấm giáng vào bụng. Bản thân tôi từng khám xét vài đồ vật trong nhà ông Konrad Jensen sau vụ án mạng; và đã kiểm tra lại các phòng ngày hôm nay; nhưng không thấy một cái máy đánh chữ ở đâu cả.
“Nếu không có máy đánh chữ trong căn hộ, bằng cách nào ông Konrad Jensen có thể đánh máy một lá thư tuyệt mệnh khi đã nhiều ngày nay bản thân ông ta không dám bước chân ra khỏi cửa? Hãy hy vọng rằng anh có câu trả lời thích đáng cho việc đó, trong trường hợp một phóng viên có chỉ số IQ dưới mức trung bình xuất hiện - ngoài kia, trong thế giới thực.”
Lần này thực sự là đòn chí mạng. Tôi để cái ghế xoay nuốt chửng mình, và đột nhiên cảm thấy vui mừng vì chỉ có mỗi tôi trong phòng.
Khi Patricia hỏi xem tôi có còn ở đó không, tôi đáp có và nói sẽ sớm đến gặp cô. Cô bảo sẽ chờ và nhắc tôi đem theo cả vũ khí sát nhân lẫn lá thư tuyệt mệnh, sau đó cúp máy. Tôi ghi nhận, rồi gần như chạy băng qua các hành lang để đến với thế giới thực.