Phải mất hơn một phút thì Andreas Gullestad mới mở cửa căn hộ 1A. Khi cánh cửa mở ra, người đàn ông ngước nhìn tôi từ chiếc xe lăn có vẻ thân thiện và tươi cười. Tôi được mời vào phòng khách ngay lập tức. Andreas Gullestad có mái tóc màu sáng, khoảng ba mươi chín tuổi. Cuộc sống ru rú trong nhà làm anh ta hơi bị thừa cân, và càng củng cố thêm bản tính vui vẻ của anh. Tôi đoán anh ta sẽ khá cao nếu đứng dậy. Giọng nói anh ta rõ ràng, và cách dùng từ mang dấu ấn của một sự giáo dục tốt. Anh ta tỏ ra không quá rúng động bởi vụ án mạng, và khá hài lòng khi có khách đến thăm.
“Chào mừng đến với tệ xá của tôi, ngài thám tử đáng kính! Tôi đã chờ đợi anh đến và còn hơn cả sung sướng khi được đóng góp chút gì đó để phá vụ án kinh hãi này. Liệu tôi có thể mời anh một tách trà hoặc cà phê được không?”
Anh ta đã dọn bàn cho hai người và đun nước, nên tôi đồng ý dùng một tách trà. Có nhiều loại trà để chọn và rất phù hợp với không khí trong căn hộ. Căn hộ của Andreas Gullestad là một ốc đảo của màu sắc và tĩnh lặng, với tranh trên tường, các giá sách đầy ắp, kệ tivi và các đồ đạc đắt tiền. Ngồi thoải mái trên đệm ghế xe lăn, người chủ nhà ngồi trước mặt tôi có vẻ đã hòa giải với số phận. Anh ta tỏ ra rất bình thản dù đang có một vụ điều tra án mạng trong tòa nhà.
Gullestad cho biết căn hộ trước của mình “phần nào bất tiện’ với anh ta sau tai nạn ‘rất đáng tiếc’ vào bốn năm trước làm Gullestad liệt nửa thân dưới. Với nụ cười mỉm có vẻ nhún nhường, anh ta nói thêm: ‘Tôi chưa bao giờ, dẫu là trong cơn ác mộng khủng khiếp nhất, từng nghĩ đến khả năng sang sống ở bờ Đông của dòng sông.”
Tuy vậy, anh ta đã mua căn hộ này ngay và chưa từng hối tiếc về điều đó. Quan trọng là được có một căn hộ ở tầng trệt với các bậc thềm thấp và một thang máy. Hơn nữa, mọi người ở đây đã làm anh ta ngạc nhiên với sự tử tế của họ. Ông Harald Olesen quá cố luôn thân thiện và lịch sự. Thật là vinh dự cho một người vốn chỉ là một đứa trẻ trong chiến tranh, nay lại được ở chung tòa nhà với người anh hùng thời Kháng chiến như thế. Gullestad không thể hình dung được người nào trong tòa nhà có khả năng sát hại ông Olesen, và cũng không nghĩ ai đó trong số họ có động cơ để làm việc này. Anh ta tin rằng kẻ giết người đến từ bên ngoài, tuy không thể lý giải được bằng cách nào hắn đã xoay xở để lọt vào trong nhà.
Gullestad cũng đề cập đến việc ông gác dan có lẽ đã quá phụ thuộc vào rượu. Việc này hẳn nhiên có ảnh hưởng sâu sắc đến người vợ. Nhưng khi tỉnh táo, ông gác dan cũng là một người hay giúp đỡ, còn bà vợ thì luôn như thế. Darrell Williams là người dọn đến gần đây nhất. Anh ta đã chấp nhận lời mời dùng cà phê với Gullestad và đã gây một ấn tượng ‘rất tích cực’. Tuy nhiên, do sống cách hai tầng nên Gullestad không biết nhiều về những gì xảy ra trên tầng hai. Ngược lại, Gullestad có mối quan hệ rất tốt với cặp vợ chồng trẻ ở tầng một.
Khi đề cập đến Konrad Jensen, Gullestad biết những mối liên hệ ‘vô cùng đáng tiếc’ của ông này trong chiến tranh và muốn nói rõ rằng anh ta hoàn toàn không tán thành những chuyện đó. Nhưng anh ta có thể bỏ qua tất cả những lầm lỗi xưa cũ này vì cách hành xử của ông Jensen hiện giờ không có gì để chê trách. Ông ta gần như chắc chắn không có một quãng thời gian dễ chịu trong chiến tranh, và tỏ ra vừa cô độc vừa vỡ mộng. Dù sao đi nữa, Gullestad cũng không thể tưởng tượng được ông ta có thể là một sát thủ máu lạnh. Quý cô người Thụy Điển cũng đã chấp nhận đến dùng cà phê với Gullestad trong thời gian ngắn ngay saụ khi chuyển đến vào tháng 8. Và cô nàng, lúc đó cũng như bây giờ, luôn ‘cực kỳ duyên dáng’.
Gullestad dừng nói một lúc và trầm ngâm ngậm một viên đường. Sau đó, anh ta tiếp tục với một giọng rất khẽ ‘dẫu có thể bị cho là ngồi lê đôi mách’ rằng mình nên đề cập một việc về cô Sundqvist mà có thể hữu ích cho cuộc điều tra. Dù chưa bao giờ thấy cô nàng đi với bạn trai, hoặc từng nghe cô đề cập đến ai, anh có cảm tưởng rằng có một người đàn ông nào đó trong đời sống của cô. Phòng ngủ của Gullestad ngay tầng dưới phòng ngủ của cô Sara Sundqvist. Những âm thanh anh nghe được cho thấy cô thỉnh thoảng có ‘những chuyến thăm rất vui vẻ và sống động’. Anh ta chỉ nghe thấy tiếng động này vào khoảng từ 5 đến 7 giờ chiều, không bao giờ vào đêm khuya. Dường như cô Sara Sundqvist có một người ngưỡng mộ chỉ đến thăm vào buổi chiều và không ở lại qua đêm.
Andreas Gullestad nhanh chóng trả lời rằng anh ta không có khẩu súng nào trong căn hộ, và cũng chưa từng thấy một khẩu súng trong bất kỳ căn hộ nào khác. Nhưng anh ta ngồi ngẫm nghĩ một lúc trước khi trả lời câu hỏi của tôi về cái áo khoác đi mưa màu xanh dương, sau đó nói dứt khoát: “Chắc chắn tôi không thấy cái áo đi mưa màu xanh dương nào trong tòa nhà vào ngày xảy ra án mạng. Nhưng vào một ngày hè năm trước, tôi từng thấy một người đàn ông tại cầu thang, mặc một cái áo khoác đi mưa rộng màu xanh cùng với một khăn choàng màu đỏ che khuất mặt.”
Tôi ngay lập tức quan tâm đến chi tiết này và hỏi cặn kẽ hơn. Gullestad tập trung suy nghĩ độ một phút trước khi trả lời.
“Tôi khá chắc rằng tôi đã thấy một người đàn ông mặc áo choàng đi mưa màu xanh vào năm ngoái tại đây. Việc đó khiến tôi chú ý do thời tiết hôm ấy rất đẹp, hoàn toàn khô ráo, và tôi đã bỏ chút thời gian ngồi đoán xem người đàn ông bí ẩn đó có thể đến thăm ai. Tôi không nhớ chính xác ngày tháng nhưng có thể là dịp lễ Hiện xuống. Trong một thoáng, tôi cũng đã nghĩ nó có thể liên quan đến một cuộc diễu hành hoặc hoạt động lễ lạt gì đó, nhưng tôi e là không nhớ thêm được gì nữa.”
Tôi không thể để tuột mất thông tin bất ngờ về người đàn ông mặc áo mưa và hỏi liệu anh ta có chắc chắn đó là một người đàn ông hay không. Gullestad suy nghĩ một lúc trước khi trả lời. Anh ta có vẻ là một nhân chứng chu đáo và có suy nghĩ.
“Tôi tin là thế, vì người đấy có vẻ khá cao, nhưng tôi không thể chắc chắn hoàn toàn. Tôi chỉ thấy người đấy thoáng qua và không dễ mà biết được một cái áo choàng đi mưa như thế có thể che giấu điều gì.”
Andreas Gullestad cho tôi biết anh vốn xuất thân từ một ngôi làng nhỏ gần Gjovik ở Oppland. Mặc dù cha mất sớm, anh ta vẫn được nuông chiều từ nhỏ. Sau khi mẹ qua đời vào năm anh ta hai mươi lăm tuổi, Gullestad đã thừa kế di sản rất đáng nể của cha mình. Nếu chi tiêu vừa phải, anh ta có thể sống thoải mái đến cuối đời. Anh ta đã gửi phần lớn số tiền vào ngân hàng, phần còn lại đầu tư vào cổ phiếu, thứ cho đến giờ chỉ mang lại khoản lợi nhuận “rất ít ỏi’. Tai nạn dẫn đến tình trạng tàn tật dĩ nhiên là một cú sốc lớn và đánh dấu một thay đổi lớn lao trong cuộc đời Gullestad. Tuy nhiên, phải nói rằng sự việc đó đối với anh ta có phần đỡ thê thảm hơn so với những người khác. Do không có áp lực kiếm sống, anh ta đã đi đó đây trong những năm hai mươi tuổi và có một cuộc sống rất dễ chịu. Với một nụ cười mỉm và nhún nhường, Andreas Gullestad giải thích tiếp: ‘Bây giờ cả ngày tôi chỉ ngồi đây với tivi, radio và sách báo. Đáng buồn thay đó cũng là những gì tôi đã làm trong căn hộ cũ, trước khi bị tai nạn. Khác biệt chính yếu, đó là giờ đây tôi trả tiền cho ai đó đi chợ giùm mà không cảm thấy tội lỗi.” Trước khi tôi về, Andreas Gullestad hỏi liệu anh ta có thể đi thăm chị gái mình ở Gjovik vào cuối tuần như đã dự định được không. Họ có vài vấn đề gia đình cần thảo luận. Chị và cháu gái rõ ràng lo lắng và muốn biết thêm về tình hình của anh ta. Gullestad hứa sẽ quay về trong chiều Chủ nhật và cho tôi số điện thoại liên lạc khi cần thiết. Tôi thấy chẳng có lí do gì để ngăn không cho anh ta đi cả.
Cuộc gặp với Andreas Gullestad khiến tôi có cảm giác anh ta là người ít có liên quan đến vụ án mạng nhất. Nhưng cũng không loại trừ khả năng anh ta còn giấu thông tin quan trọng nào đó, dù là vô tình hay hữu ý. Điều tôi quan tâm nhất là anh ta nói đã thấy một người đàn ông mặc áo khoác đi mưa màu xanh, cũng như đề cập ngay đến cái khăn choàng màu đỏ. Tôi cũng thắc mắc về lai lịch vị khách bí ẩn của cô Sara Sundqvist, và làm cách nào anh ta có thể ra vào tòa nhà mà không bị ai để ý.
Tôi lập tức đi xuống gặp bà vợ ông gác dan và hỏi bà một lần nữa về cái áo đi mưa màu xanh dương. Nhưng lần này, tôi chỉ hỏi liệu bà ta có từng nhìn thấy ai đó mặc trang phục như thế trong tòa nhà. Bà ta suy nghĩ thật kỹ trong vòng một phút, sau đó nhấn mạnh rằng mình không chắc chắn, nhưng có thể đã thấy một người đàn ông ăn mặc như thế vào mùa hè trước. Nếu đúng thì bà ta chỉ thoáng thấy người đó lướt qua tiền sảnh hoặc trên cầu thang. Bà nghĩ có lẽ mình đã nhầm, vì chưa từng thấy người nào như thế ra vào tòa nhà. Nhưng tất nhiên bà Randi cũng có thể đã ra ngoài đi chợ hoặc làm việc gì khác lúc đó.
Một lần nữa, tôi quay lên, gõ cửa căn hộ cô Sara Sundqvist và giải thích rằng tôi quên hỏi cô hay có khách đến thăm không. Cô trả lời rằng thỉnh thoảng cũng có bạn bè đến chơi, nhưng vài tuần trước khi xảy ra án mạng thì không. Cô ít gặp bạn bè sinh viên những tuần gần đây, do gần đến các đợt thi cử. Sara phủ nhận câu hỏi trực tiếp của tôi về chuyện cô đã có chồng sắp cưới hoặc người yêu, và nói thêm với giọng thật khẽ: ‘Trong tám tháng tôi sống ở đây, không có ai từng ngủ lại qua đêm’. Với thông tin nóng hổi vừa được cung cấp bởi Andreas Gullestad, tôi gật đầu chấp nhận lời khẳng định này của cô nhưng không thực sự tin vào câu nói trước đó. Vị khách buổi chiều mờ ám của cô Sara Sundqvist vẫn còn là một bí ẩn nho nhỏ.