Tôi bần thần đứng phía bên ngoài tòa Bạch Ốc một lúc. Cuối cùng, tôi lái xe về lại đồn cảnh sát. Ba phóng viên lao tới ngay khi tôi vừa rời khỏi xe. Họ bám theo tôi vào trụ sở và điên cuồng ghi chép. Tôi xác nhận ngắn gọn rằng một trong số những cư dân tại đó, người từng bị kết án ở phiên tòa xử tội phản quốc sau chiến tranh, được tìm thấy đã chết trong căn hộ của mình. Một khẩu súng lục cỡ nòng 0,45 và một lá thư tuyệt mệnh có ký tên, trong đó ông ta thú nhận đã giết ông Harald Olsen, được tìm thấy bên cạnh thi thể ông ta. Sau đó, tôi nói thêm rằng vẫn còn một số giám định kỹ thuật phải tiến hành và một số chi tiết cần phải làm rõ nhưng nhiều thứ cho thấy vụ án có thể được khép lại. Một trong số những phóng viên đã hỏi liệu tôi có thể xác nhận những gì mà một trong những cư dân tại đó đã nói trong ngày, rằng dường như kẻ sát nhân đã tự sát vì hắn ta nhận thấy rằng cuộc điều tra đã có những bước tiến quan trọng và việc bắt giữ sẽ sớm xảy ra. Tôi nhấn mạnh chúng tôi cần phải luôn thận trọng khi suy diễn về lí do tự sát, nhưng tôi có thể xác nhận rằng cuộc điều tra đã có những đột phá quan trọng và người đã chết là một trong số những đối tượng tình nghi chủ yếu ngay từ đầu.
Tim đập thình thình, tôi chờ những câu hỏi khó nhằn, nhưng chúng không được nêu lên. Cả ba phóng viên đều chúc mừng tôi đã phá được vụ án mạng và cam đoan với tôi rằng câu chuyện sẽ nhận được những bài viết thật hay và tích cực trên các báo buổi sáng. Một trong số họ còn vui vẻ đề nghị giật tít “K2 thiết lập đỉnh cao mới”. Trở về văn phòng của mình, tôi soạn một thông cáo báo chí với nội dung gần giống với những gì tôi vừa cung cấp cho phóng viên.
Chuyên gia đạn đạo đã về nhà. Tuy nhiên, tôi đã tìm cách liên lạc với anh ta qua điện thoại để nói rằng mặc dù vụ án hiện nay có vẻ không còn gì để bàn cãi, khẩu súng trong căn hộ của Konrad Jensen vẫn cần phải được đối chiếu với viên đạn được tìm thấy ở đó và viên đạn trong căn hộ ông Harald Olesen. Anh ta nhất trí và hứa sẽ tiến hành trong sáng hôm sau, đồng thời chúc mừng tôi về thành công của cuộc điều tra. Chuyên gia lấy dấu vân tay cũng nói tương tự khi tôi gọi anh ta sau đó và yêu cầu anh ta xem xét căn hộ của Konrad Jensen vào sáng hôm sau.
Sau khi để điện thoại xuống, tôi ngồi trong chiếc ghế xoay của mình và suy nghĩ vài phút về khả năng những lời chúc mừng này còn nguyên vẹn sau ngày mai. Sau đó tôi kết thúc ngày làm việc và rời văn phòng, nhưng chưa vội về nhà. Thay vào đó, tôi đi đến số nhà 25 phố Krebs.
Bà vợ ông gác dan đã vào trong căn hộ của mình, nhưng mở cửa ngay khi tôi bấm chuông và cười tươi khi trông thấy tôi. Tôi lập tức cam đoan với bà rằng đây đơn giản chỉ là những công việc thường quy liên quan đến báo cáo của tôi, nhưng vẫn còn một số điều tôi cần phải hỏi bà.
Liên quan đến chùm chìa khóa, bà vợ ông gác dan dứt khoát rằng không ai khác có thế lấy được chúng. Bà giữ chúng bên mình cả ngày và đặt ở bàn đầu giường vào ban đêm. Bà ngủ một mình trong căn hộ với cửa nẻo khóa chặt và có thể thề với Chúa là không có người nào vào trong phòng ngủ của mình. Bà nói câu đó với một nụ cười hiền lành. Khi tôi nói rằng cần xem xét một số việc trong căn hộ của ông Konrad Jensen, bà lập tức lấy chiếc chìa khóa ra và để cho tôi vào trong đó.
Nhẹ nhõm thay tôi nhận thấy những gì tôi đã nói với Patricia đều là sự thật. Không có dấu vết hoặc dấu hiệu gì dù là trên cửa ra vào hay cửa sổ cho thấy đã có kẻ đột nhập. Khi vào trong căn hộ, tôi không rõ mình phải tìm kiếm thứ gì khác. Sau cuộc nói chuyện với Patricia, tôi chỉ muốn được nhìn lại căn hộ của ông Konrad Jensen một lần nữa và nghiền ngẫm về tình huống này.
Trong nhiều năm Konrad Jensen sống một mình, một người đàn ông cáu kỉnh và chán đời. Căn hộ thấm đẫm tinh thần của ông ta, ngay cả sau khi ông chết. Rõ ràng ông ta đã sợ hãi đến nỗi không dám mở cửa sổ trong những ngày vừa qua. Khói thuốc còn ám đầy trên tường. Ông Konrad Jensen không để lại nhiều đồ đạc cá nhân. Chồng đĩa dơ hai ngày chưa rửa còn chất đống trong bếp. Một bức ảnh chân dung nhạt nhòa, ố vàng được treo trên tường phòng khách, ngoài ra không có hình ảnh nào khác trong nhà. Đây là căn hộ của một người đàn ông không chỉ sống không có gia đình mà còn không có bạn bè.
Konrad Jensen có một cái radio cũ, nhưng không có tivi. Có vẻ như ông không đặt mua báo dài hạn, mà chỉ mua các tờ VG Dagbladet và Aytenpostenvko một số ngày đặc biệt. Báo chí của tháng trước nằm chất đống trên sàn. Một vài trong số đó được gấp mép ở trang thể thao. Trên kệ sách là quyển Kinh thánh đã cũ và một bộ sưu tập sách tương đối lung tung. Trong ngăn tủ bếp, tôi tìm thấy một bộ sưu tập những hình ảnh xe hơi được cắt ra từ tạp chí, một quyển sổ ngân hàng và vài giấy tờ tùy thân khác. Một xấp nhỏ những tờ phiếu cá cược bóng đá nằm chỏng chơ, có vẻ như Konrad Jensen không dành nhiều thời gian cho chúng và cũng chưa từng thắng cược lần nào. Trúng được tám kron là kỷ lục cao nhất ông từng đạt được, theo những ghi chép của ông.
Tôi tự hỏi người đàn ông quá cố đã làm những gì trong hàng ngàn giờ ông đã sống ở đây qua chừng ấy năm - ngoài việc ăn uống; hút thuốc và nguyền rủa số phận. Tôi nhận ra rằng; trong nhiều năm qua, có lẽ không có ai khác ngoài ông ta từng đi vào căn hộ này, trước khi vụ án mạng này buộc tôi khám phá nó. Câu hỏi vẫn còn đó: liệu Konrad Jensen đã ở đây một mình khi ông ta chết vào sáng nay, hay có ai đó đã ở đây với ông ta?
Phòng ngủ của Konrad Jensen cũng được bài trí sơ sài và ám khói thuốc. Một cái gạt tàn đầy phân nửa vẫn nằm trên cái ghế đẩu mà ông ta dùng thay cho bàn đầu giường. Tôi tự hỏi liệu có người đàn bà nào đã từng lên giường với ông ta. Rõ ràng là nếu có, thì chuyện đó xảy ra cũng đã nhiều năm rồi.
Hai chiếc quần dài và hai áo khoác được treo trong tủ quần áo, cùng ba cái áo sơ mi và ba bộ đồ lót. Một bộ vest cũ màu đen nhàu nhĩ nằm trơ trọi trên kệ. Rất có khả năng nó đã không được dùng từ nhiều năm rồi. Chắc chẳng ai mời Konrad Jensen đi đến một nơi cần phải mặc đồ vest và ông ta càng chẳng bao giờ tự mình đi đến những nơi đó. Tôi chán nản cầm cái áo vest lên và nhảy dựng khi có cái gì đó rơi ra khỏi nó.
Đó là một bao thư màu nâu khá to và dày, bên ngoài không đề gì cả. Trong bao thư có một xấp giấy trắng với nét chữ mực xanh được viết tay bởi Konrad Jensen. Tôi lập tức đem chúng ra ngoài bàn ngoài phòng khách. Tôi ngồi đó gần một giờ xem qua chừng năm mươi trang giấy được để lại bởi người đàn ông đã chết ở đây, ngay trong cái ghế của mình vào buổi sáng hôm nay.
Đó không phải là điều tôi mong đợi tìm được trong căn hộ này: một nỗ lực viết sách. Sau nhiều năm suy nghĩ về số phận của mình trong im lặng, Konrad Jensen rõ ràng đã quyết định viết ra những suy nghĩ của mình. Có khoảng hai mươi trang về tuổi thơ và thời trẻ của ông, cùng khoảng hai mươi trang về chiến tranh. Sau khi cày xới hết nội dung đó, tôi phải chấp nhận với chút thất vọng rằng nó không chứa thông tin nào hữu ích cho cuộc điều tra. Không có một chữ nào nhắc đến Harald Olesen hoặc bất cứ điều gì về Chân nai. Đó là một câu chuyện đầy tự tôn và thẳng thắn về một người đàn ông trẻ đã nhầm lẫn cả cuộc đời và cảm thấy khó mà chấp nhận sự thất bại.
Mối ngờ vực rằng Na Uy đã không mất một tài năng văn học sau cái chết của ông Konrad Jensen được xác nhận ngay cả trước khi tôi kết thúc trang đầu tiên. Cấu trúc lộn xộn, thiếu trọng tâm, chấm phẩy tùy tiện và văn phạm kinh hoàng. Nỗ lực được thực hiện bởi cựu thành viên đảng NS này là một dự án mà không một nhà xuất bản nào dám rờ vào và sẽ không có độc giả nào bỏ tiền mua về đọc. Nhưng Konrad Jensen đã dồn rất nhiều công sức vào việc này. Theo ngày tháng được viết ở lề các trang giấy, ông đã gần như viết mỗi ngày kể từ tháng 11 năm ngoái. Đoạn cuối cùng về sự kết thúc chiến tranh được viết ngày 3 tháng 4, chỉ một ngày trước khi Harald Olesen bị sát hại.
Tôi đặt xấp giấy xuống với một niềm tin được củng cố rằng Patricia đã đúng và ông Konrad Jensen quả thực đã bị giết. Bi thảm làm sao là Konrad Jensen đã chết đi và dể lại phía sau một ảo tưởng cuộc đời, như chữ dùng bởi Ipsen, một trong những kịch tác gia vĩ đại của chúng tôi - một dự án mà ông đang tiến hành và đặt nhiều kỳ vọng vào đó. Nhưng tôi cũng biết chuyện này chỉ hoàn toàn dựa trên trực giác của mình và sẽ khó đứng vững ở tòa hoặc trên truyền thông.
Khi tôi sắp cất lại xấp giấy vào trong bao thư, mắt tôi bắt gặp câu đầu tiên: “Giưới đây tôi Konrad Jensen bắt đầu kể lại câu chuyện cuộc đời mình mà tôi không hề hối hậng”
Tôi ngồi nhìn chằm chằm vào câu đầu tiên đó. Chính tay ông Konrad Jensen đã viết câu này chỉ vài tháng trước và đã sai chính tả những từ ‘dưới đây’ và ‘hối hận’. Trong lá thư tuyệt mệnh đánh máy, cả hai chữ này đều được viết đúng.
Dĩ nhiên, cũng có thể sau này ông ta đã học được cách đánh vần chính xác cả hai từ đó, nhưng bản thảo của ông Konrad Jensen đã được viết không có lấy một dấu phẩy và những từ đơn giản nhất thường xuyên bị viết sai chính tả. Những đoạn văn cuối cùng được viết chỉ mới vài ngày trước cũng vậy. Patricia đã hoàn toàn đúng trong suy đoán của mình về khả năng viết lách của ông ta. Không thể tưởng tượng được cùng một người đàn ông này đã viết nên một lá thư tuyệt mệnh với chính tả và văn phạm hoàn hảo.
Tôi cẩn thận đặt xấp giấy xuống bàn. Rồi tôi bước sang nhà bếp và rửa mặt hai lần dưới dòng nước lạnh giá. Sau đó, tôi vẫn còn tin rằng Konrad Jensen đã bị giết hại và quyết tâm bắt cho bằng được tên sát nhân quỷ quyệt máu lạnh đáng kinh ngạc kia. Tôi đem theo di cảo của Konrad Jensen và lặng lẽ rời căn hộ, sau đó yêu cầu bà vợ ông gác dan khóa cửa lại.
Rồi tôi lái xe về nhà và gọi cho Patricia. Đã 9 giờ rưỡi tối, nhưng cô lập tức tỉnh táo khi nghe tin. Đó là một cuộc đối thoại ngắn gọn và lạc quan, tương phản rõ ràng với cuộc trao đổi giữa hai chúng tôi lúc nãy. Tôi hứa sẽ không kết thúc vụ án này cho đến khi qua dịp lễ Phục sinh. Cô thì hứa với tôi rằng với nỗ lực của cả hai, chắc chắn chúng tôi sẽ bắt được hung thủ.
Tôi lên giường ngủ vào ngày thứ sáu của cuộc điều tra với tâm trạng hăng hái, đầu óc tôi tràn ngập suy nghĩ. Đồng hồ chỉ 2 giờ sáng trước khi tôi nhắm mắt ngủ, nhưng những giờ cuối cùng ấy không thể giúp ích gì thêm. Trước khi chìm vào giấc ngủ, suy nghĩ cuối cùng của tôi xoay quanh những gì mà di chúc của Harald Olesen sẽ đề cập. Gương mặt cuối cùng mà tôi thấy là Konrad Jensen. Ông ta nhìn tôi chằm chằm, cáu kỉnh và rầu rĩ như mọi khi. Tôi nhìn Konrad dò hỏi, nhưng không thu được câu trả lời. Tôi có cảm giác ông không hài lòng, và ông lắc đầu không đáp khi tôi nói gì đó về việc ghi nhận cái chết của ông như một vụ tự sát. Nhưng rõ ràng sau đó tôi đã ngủ thiếp đi.