Người Ruồi

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 48 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Về Người Bà Út Của Tôi, Dagmar Lahlum Và Về Tiểu Thuyết Người Ruồi

❊ ❊ ❊

Về người bà út của tôi, Dagmar Lahlum

và Về tiểu thuyết Người Ruồi

Như đã đề cập ở đầu sách, tiểu thuyết này được dành để tưởng nhớ người bà út của tôi, Dagmar Lahlum. Do đó, cũng là lẽ đương nhiên khi khép lại quyển sách với một mô tả ngắn gọn về cuộc đời bà và sự tương quan của nó đối với cuốn tiểu thuyết này.

Bà Dagmar Lahlum chào đời tại Sorumsand ngày 10 tháng 3 năm 1923, nhưng lớn lên tại Eidsvoll vào những năm 1930. Nhỏ hơn mười một tuổi so với người chị của mình, bà giống như con gái của chị mình. Người cha của bà Dagmar đã năm mươi mốt tuổi vào lúc bà ra đời. Ông lớn lên trong nghèo khó, cũng giống như hai người con trai của ông từ cuộc hôn nhân đầu, những người đã về sống với ông bà ngoại sau khi mẹ mất sớm. Chỉ là một người đóng giày ở nông thôn, cha của bà Dagmar hẳn đã phải chật vật kiếm sống cho gia đình thứ hai của mình trong những thập niên 1920 và 1930 đầy khủng hoảng. Người con gái út của ông được cho là một thiếu niên nóng tính và bày tỏ rõ ràng sự không hài lòng của mình với hoàn cảnh sống. Trong suốt phần đời còn lại, bà đã cho thấy một gu thưởng thức và sự khao khát đối với trang phục đẹp và những món đồ xa hoa.

Một vài tuần trước khi quân Đức chiếm đóng vào ngày 9 tháng 4 năm 1940, bà Dagmar đến Oslo, khi vừa tròn mười bảy. Bà theo học một khóa người mẫu, rồi kiếm sống bằng nghề thợ may và tiếp tân trong khách sạn, cùng những công việc khác. Không thể xác định được liệu bà có tham gia trong phong trào Kháng chiến Na Uy hay không. Vào tháng 4 năm 1943, bà bắt đầu một chuyện tình say đắm với Eddie ‘Zigzag’ Chapman, một điệp viên MIS của Anh đang ở Na Uy dưới một vỏ bọc làm việc cho quân Đức. Có vẻ như bà Dagmar tin rằng Eddie là một quân nhân Đức khi bắt đầu yêu ông ta. Do mối tình này, bà Dagmar cũng giữ vai trò điệp viên hai mang trong thời gian còn lại của cuộc chiến tranh, đánh liều mạng sống của mình để giúp đỡ cho Chapman hoàn thành những nhiệm vụ của ông ta. Những tài liệu lưu trữ không thể hiện rõ ràng ghi nhận của MIS về sự hoạt động của bà như một điệp viên trong mạng lưới, nhưng rõ ràng rằng họ biết về vai trò của bà. Eddie đã được ghi nhận là hôn phu của bà trong những năm 1943 và 1944. Một số nguồn tin còn cho rằng bà Dagmar đã có thai nhưng rồi phá thai.

Eddie Chapman rời Na Uy vào mùa xuân năm 1944, vẫn trong vai trò một quân nhân Đức. Bà Dagmar chưa bao giờ là một thành viên của Đảng NS, Đảng Phát xít Na Uy. Nhưng vì bà đã làm việc cho những cơ quan kiểm duyệt của Đức trong những tháng cuối cùng của chiến tranh, và có lẽ vì bà bị đồn thổi là người tình của quân Đức, bà bị bắt giữ bởi cảnh sát Na Uy vào ngày 19 tháng 5 năm 1945 rồi bị đưa đến nhà tù nữ Bredtveit.

Trong lời khai được viết trong tù vào ngày 15 tháng 6 năm 1945, bà Dagmar có nhắc đến mối liên hệ giữa mình và Eddie. Bà cam kết rằng mình luôn có cảm tình với Kháng chiến và người Anh, và rằng công việc kiểm duyệt thư từ cho quân Đức đã được Eddie làm rõ, người đã hứa nếu còn sống sót sẽ trở lại với bà ngay khi chiến tranh kết thúc. Ông đã cam đoan với bà rằng nếu ông không thể trở lại, bà cứ liên lạc với các cấp trên của ông ở cục tình báo Anh, họ sẽ giúp đỡ bà. Vì thế, bà Dagmar được hộ tống đến Oslo để gặp mặt những người đại diện chính thức của nước Anh vào ngày 19 tháng 6 năm 1945, nhưng họ phủ nhận vụ việc này và bà được đưa trở về nhà tù nữ Bredtveit.

Trong phiên tòa xử tội phản quốc tại Na Uy năm 1947, bà Dagmar bị kết án 189 ngày, bằng chính xác số ngày bị tạm giữ trong năm 1945. Bà cũng mất quyền được bầu cử trong mười năm tiếp theo. Bà chọn chấp nhận án phạt, hơn là đối mặt với một phiên tòa khác. Không rõ động cơ của bà khi làm việc này. Một lời giải thích có vẻ hợp lý là, với một cô gái đến từ vùng quê không được giáo dục, không có tiền bạc hoặc mối quan hệ ở Oslo, bà cho rằng tình cảnh của mình là vô vọng, khi bị từ chối hỗ trợ bởi đại diện của nước Anh và cảnh sát Na Uy. Mọi thứ đều chống lại bà. Tất nhiên, một khả năng khác là bà có những động cơ đáng ngờ trong những mối liên hệ với quân chiếm đóng trong chiến tranh và vì thế chấp nhận án phạt. Dù là trường hợp nào đi nữa, phán quyết trong những phiên tòa xét xử tội phản quốc và cái mác tình nhân của lính Đức đầy tai tiếng đã gắn liền với cuộc đời bà trong nhiều năm sau chiến tranh. “Nên nhớ rằng dì mày là một con đĩ của bọn Đức!”, một người hàng xóm đã gào theo cô cháu gái bé nhỏ của bà Dagmar ở Eidsvoli. Bản thân bà sớm quay lại với sự vô danh trên những con phố của Oslo và rời khỏi Eidsvoll sau khi nhận một khoản thừa kế nhỏ từ cha mẹ vào giữa những năm 1950.

Bà Dagmar chưa bao giờ có con và sống một mình trong quãng đời còn lại, với một ngoại lệ là cuộc hôn nhân ngắn ngủi đầu những năm 1950. Bà có một vài người tình - đều là những người đàn ông lớn tuổi và giàu có - những người có thể thỏa mãn nhu cầu vật chất xa xỉ của bà. Không mối quan hệ nào được hợp thức hóa hay tồn tại lâu dài. Bà làm thư ký và thực hiện những công việc văn phòng khác cho đến khi nghỉ hưu khoảng cuối những năm 1980, nhưng chưa bao giờ xin vào một vị trí nào trong chính quyền hoặc tìm cách lôi kéo sự chú ý của công chúng theo bất kỳ cách nào.

Bà Dagmar có lẽ không biết rằng người tình thời chiến của mình, Eddie Chapman vẫn còn sống và sau đó đã kết hôn tại Anh, cho đến khi ông bất ngờ liên lạc lại với bà vào những năm 1990. Gần năm mươi năm sau khi chiến tranh chia cắt hai người, Eddie và Dagmar đã nối lại mối liên hệ. Một lần nữa, không chắc bà có thực sự đến nước Anh và gặp lại ông hay không, nhưng dường như trong những năm 1996-1997, bà Dagmar đã hy vọng rằng Chapman sẽ sớm trở lại Na Uy và công bố câu chuyện về những nỗ lực của bà trong thời chiến. Tuy nhiên, cho dù đó là dự định của mình, ông Chapman đã không thể hoàn thành tâm nguyện đó vì lí sức khỏe kém và ông qua đời vào ngày 12 tháng 12 năm 1997.

Cái tin Eddie đã chết mà chưa thể đến Na Uy để nói ra sự thật về những trải nghiệm của bà trong thời chiến có lẽ là cú đánh cuối cùng vào tâm hồn vốn đã yếu đuối của bà Dagmar. Hy vọng cuối cùng của bà về một lời minh oan, lại trở thành một nỗi thất vọng khác. Những năm cuối đời của hà Dagmar rất khó khăn. Bà không chỉ là người nghiện thuốc lá và nghiện rượu nặng, mà còn phải chịu đựng căn bệnh Parkinson, ngày càng trở nên xa lánh xã hội và suy dinh dưỡng. Chỉ còn là một cái bóng điêu tàn của vẻ đẹp thời son trẻ, bà tiếp tục bước những bước chân cô độc và ngày càng liêu xiêu trên đoạn đường đi từ Vinmonopolet (cửa hàng bán rượu của nhà nước) đến ngân hàng rồi về lại căn hộ của mình trong những năm cuối thập niên 1990.

Dagmar được trông thấy còn sống lần cuối bởi người bạn duy nhất còn lại, cô cháu gái Bibbi tận tình, vào buổi tiệc Giáng sinh ngày 25 tháng 12 năm 1999. Bốn ngày sau, bà Dagmar Lahlum được tìm thấy đã chết trong căn hộ khóa trái của mình. Đúng như tính đặc thù của cuộc đời bà, thời gian bà chết cũng như bối cảnh xung quanh vẫn còn chưa rõ. Theo báo cáo, người ta tìm thấy bà nắm trên sàn giữa mớ quần áo cũ và những chiếc chai rỗng, trong một tư thế khá khác thường và giống như đang tự vệ. Tuy nhiên, không hề có bằng chứng bạo lực nào, và một cuộc điều tra thường quy của cảnh sát kết luận rằng không có ai khác đã ở trong căn hộ vào thời điểm bà chết. Tôi tin rằng, cuối cùng thì bà cô già của tôi đã chết cô độc tại nhà mình sau khi chiến đấu chống lại một bóng ma nào đó từ những năm tháng chiến tranh. Hẳn nhiên sẽ không ai biết được liệu đó có phải là những gì đã diễn ra trong những giây phút cuối cùng của bà hay không.

Dagmar Lahlum thực sự đã bị quên lãng bởi tất cả mọi người và những nỗ lực trong chiến tranh của bà vẫn hoàn toàn không được biết đến vào thời điểm bà qua đời, thế nên rất ít người đến dự đám tang bà. Câu chuyện của bà lần đầu được công bố vào năm 2007, sau khi hai cuốn tiểu sử mới về người tình thời chiến của bà được xuất bản và nhận được rất nhiều sự chú ý cả ở Na Uy lẫn Anh quốc.

Dagmar Lahlum là người con gái út của ông cố tôi, Karl Lahlum (1871-1954) và là em gái cùng cha khác mẹ với ông nội tôi, Hans Lahlum (1898-1977). Tôi được sinh ra vào năm 1973 và chưa bao giờ có dịp được gặp bà Dagmar. Do không có con, bà Dagmar ban đầu đã thể hiện những mối quan tâm đến người cháu trai của anh mình và sự tồn vong của dòng họ Lahlum. Tuy nhiên, từ giữa những năm 1970 trở về sau, bà càng lúc càng ít đến dự những buổi họp mặt gia đình và tỏ ra rất kín đáo trong những lần tham gia. Bà nói về bản thân và quá khứ của mình ít nhất có thể. Đôi mắt bà chỉ sáng lên khi có ai đó đề cập đến chiến tranh. Nhưng chẳng bao giờ có chuyện đó. Ký ức tuổi thơ duy nhất của tôi về người bà của mình là mệnh lệnh không bao giờ được nhắc đến chiến tranh nếu bà Dagmar đi dự họp mặt gia đình lần nữa. Bà không bao giờ đến nữa.

Với câu hỏi rằng liệu số phận của bà Dagmar có truyền cảm hứng cho tôi học lịch sử, và đưa cuộc Thế chiến thứ Hai trở thành một trong số những chuyên ngành của tôi, câu trả lời là hoàn toàn không. Tôi chỉ biết được câu chuyện thời chiến của bà một vài năm sau khi tốt nghiệp. Và với mối quan hệ gia đình gần gũi, sau đó tôi đã quyết định không viết về bà với tư cách một nhà sử học.

Với câu hỏi rằng liệu cuộc đời và số phận của bà Dagmar Lahlum có truyền cảm hứng cho quyển tiểu thuyết trinh thám này, câu trả lời là nhất định có. Ở Na Uy, cũng như nhiều nước khác, những bức tranh về số phận con người trong Thế chiến thứ Hai thường có màu đen và trắng. Chắc chắn đó là việc đúng đắn phải làm liên quan đến một số anh hùng thời chiến hoặc tội phạm chiến tranh. Nhưng cũng có nhiều, rất nhiều câu chuyện về ‘vùng xám’ của chiến tranh, vốn luôn chuyển động và khơi gợi nhiều suy nghĩ. Chúng ta vẫn có thể chờ đợi để xem liệu rồi có bất kỳ nghiên cứu lịch sử nào trong tương lai có thể khám phá ra vị trí thực sự của bà Dagmar Lahlum trong vùng xám của chiến tranh hay không. Tuy nhiên, điều quan trọng trong ngữ cảnh này là những trải nghiệm trong những năm cuối của chiến tranh đã đeo đuổi bà dai dẳng suốt quãng thời gian bốn mươi năm còn lại của cuộc đời bà. Từ thời điểm được thả ra vào mùa hè năm 1945 cho đến cái chết của bà trong mùa Giáng sinh năm 1999, bà út Dagmar Lahlum của tôi đã là một ví dụ sống của một thân phận được Patricia Louise I. E. Borchmann gọi là ‘người ruồi’ trong quyển tiểu thuyết này, một hình tượng cũng có thể được dùng để mô tả bản thân cô Patricia và một số nhân vật chính khác trong tác phẩm. Vì thế, tôi chưa bao giờ có chút nghi ngờ gì về tên tiểu thuyết đầu tay của tôi, cũng như người mà tôi sẽ đề tặng trong quyển sách này.

Gjovik, 20 tháng 9 năm 2013

Hans Olav Lahlum

TB. Về nguồn tư liệu và những tài liệu đọc thêm: mối quan hệ của bà Dagmar với Eddie Chapman được công bố lần đầu vào năm 2007 trong hai quyển tiểu sử của Chapman: Zigzag - Những kỳ tích chiến tranh đáng kinh ngạc của điệp viên hai mang Eddie Chapman của tác giả Nicholas Booth; và Điệp viên Zizag - Câu chuyện thật về một điệp viên Phát xít, tình yêu và sự phản bội của Ben Macintyre. Cả hai quyển đều đưa ra ánh sáng những tư liệu thú vị về vụ việc này từ kho lưu trữ và những nguồn tài liệu khác của nước Anh. Bốn năm sau, câu chuyện thời chiến của họ lên sóng truyền hình trong bộ phim tài liệu Điệp viên hai mang: Câu chuyện của Eddie Chapman, sản xuất bởi Walker George Film cho đài BBC2.

Phần câu chuyện về bà Dagmar được tiếp tục nghiên cứu ở Na Uy với hai bài báo dài viết bởi ký giả kiêm nhà khoa học chính trị Hilde Harbo và công bố trên tờ tạp chí Aftenposten (14 tháng 1 năm 2007 và 22 tháng 1 năm 2008). Nhà sử học đầu tiên viết về bà Dagmar là Giáo sư Tore Pryser, bao gồm một chân dung ngắn gọn trong quyển sách năm 2007 của ông, Kvinner I hemmelige tjenester. Etterretning I Norden under den annen verdenskrig (‘Phụ nữ trong Tổ chức Tinh báo. Những hoạt động tình báo ở các nước Bắc Âu trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai’). Sau đó, nhà sử học tài ba trẻ tuổi người Na Uy Kristin Hatledan đã nghiên cứu kỹ lưỡng vụ việc này trong luận án Thạc sĩ của cô, Krigsheltinne eller tyskarjerite? Historia om Dagmar Lahlum - I lys av andre etterretnings-kvinner (‘Nữ anh hùng thời chiến hay người tình của quân Đức? Câu chuyện của Dagmar Lahlum - trong ánh sáng của những nữ chiến sĩ Kháng chiến khác’) vào năm 2009 và sau đó trong quyển sách của cô Kvinnekamp. Historia om norske motstandskvinner (‘Phụ nữ chiến đấu. Lịch sử của những nữ chiến sĩ Kháng chiến Na Uy’), xuất bản năm 2011.

Tôi đã trao đổi với Booth, Harbo, Pryser và Hatledal và cung cấp cho họ những thông tin cần thiết từ gia đình Lahlum cũng như tài liệu về phiên tòa của Dagmar Lahlum trong kho lưu trữ tư liệu quốc gia Na Uy. Tôi nợ rất nhiều lời cảm ơn đến người cháu của bà Dagmar, cô Bibbi vì đã chia sẻ với tôi những sự kiện và cảm xúc của mình về cuộc đời bà Dagmar.

Đấng quyển năng thương xót cho linh hồn tôi! Đoạn văn được đánh máy nhưng Konrad Jensen ký tên bằng bút bi ngay phía dưới. Tôi gật đầu với chính mình, do tôi đứng đó một mình trong căn hộ với một người đàn ông đã chết và đã ký một lá thư t
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Hans Olav Lahlum

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.