Patricia Louise Isabelle Elizabeth Borchmann hiện sống trong một vương quốc sạch sẽ ngăn nắp, nằm cách con phố xám xịt bận rộn của Oslo một tầng lầu và một khu vườn. Cô đang ngồi đợi tại một chiếc bàn đã dọn sẵn cho hai người, giữa một căn phòng rộng hơn hẳn so với phòng tập thể dục mà tôi từng vào, bao quanh bởi thật nhiều sách, nhiều hơn bất kỳ một thư viện tư nhân nào tôi từng thấy.
Vẻ bề ngoài của cô Patricia trẻ tuổi không gây ấn tượng mấy với tôi. Tôi đoán cô có lẽ thấp hơn tôi một cái đầu nếu đứng thẳng, và cô nặng không quá 44 kg. Cô rất giống cha ở mái tóc đen, nhất là gương mặt nghiêm nghị và ánh mắt kiên định. Tôi chưa từng gặp một cô gái trẻ hay thậm chí một người phụ nữ nào có gương mặt mạnh mẽ nhường ấy.
Như thể có một giao ước ngầm, chúng tôi không bắt tay nhau. Tôi chỉ gật đầu, và cô chỉ tay vào một chiếc ghế bành phía đối diện mình. Patricia đang ngồi trên xe lăn, tivi, đài radio và máy nghe nhạc đều nằm trong tầm với. Cái bàn giữa chúng tôi rất lớn và hẳn nhiên là cần thiết. Bên tay trái cô là một chiếc điện thoại đời mới nhất. Một quyển sổ, ba cây viết bi và cả chồng tối thiểu sáu tờ tạp chí của ngày hôm nay nằm trước mặt cô. Căn cứ theo lựa chọn báo chí, Patricia Louise I. E. Borchmann là một người cởi mở và không thuộc đảng phái chính trị nào: cô đọc mọi thứ từ tờ báo phản động Morgenbladet cho đến báo cộng sản Friheten. Ba quyển sách có thẻ đánh dấu trang được đặt trên bàn, bên tay phải cô. Quyển trên cùng là sách tiếng Pháp mà tôi không hiểu tựa đề, ở giữa có vẻ là một giáo trình đại học về xã hội học và quyển dưới cùng là một tuyển tập những truyện ngắn bằng tiếng Anh của Stanley Ellin, người tôi chưa từng nghe nhắc đến. Giữa bàn có một bình nước lớn, một ấm trà và một ấm cà phê.
“Xin chào. Tôi rất cảm kích vì anh có thể dành cho tôi vài phút trong quỹ thời gian quý báu của mình. Anh uống thứ gì đó nhé?”
Tôi lập tức từ chối.
“Trong trường hợp này, Benedikte, cô xong việc rồi. Tôi sẽ bấm chuông khi cần gì khác.”
Cô giúp việc khẽ nhún gối chào và nhanh chóng rút lui. Patricia Louise I. E. Borchmann là một quý cô nguyên tắc và kín đáo. Cô không nói một lời nào cho đến khi chỉ còn lại chúng tôi trong phòng. Sau đó, y như cha mình, cô đi ngay vào vấn đề.
“Tôi không muốn làm mất thời gian quý báu của anh hơn nữa. Thông tin báo chí đưa ra về những cư dân sống trong tòa nhà có phần chưa đầy đủ, nên nếu tôi muốn nói điều gì đó có ích, có lẽ tôi cần được cập nhật. Báo chí đề cập đến bí ẩn chưa có lời giải là bằng cách nào hung thủ có thể trốn thoát khỏi căn hộ của nạn nhân mà không bị phát giác. Cửa sổ vẫn đóng kín và khóa từ phía trong, không có ô kính vỡ nào cho thấy phát súng được bắn từ bên ngoài. Cửa ra vào lắp khóa bấm, nghĩa là kẻ sát nhân có thể rời khỏi căn hộ và khóa cửa lại. Nhưng những người khác đã kéo đến trước cửa căn hộ rất nhanh sau khi nghe thấy tiếng súng và không ai có thể trốn thoát theo lối đó mà không bị phát hiện. Tóm lại, đó có phải là một mô tả trung thực về bí ẩn của vụ án mạng hay không? Và có phải nó vẫn là vấn đề chưa giải quyết được đối với anh và cuộc điều tra?”
Tôi nhanh chóng gật đầu - những hai cái. Gia đình Borchmann quả thật có biệt tài tóm tắt một cách đơn giản, súc tích và rõ ràng các vấn đề hệ trọng.
Cô Patricia trẻ tuổi dường như lớn hẳn lên trong chiếc xe lăn. Cô trầm ngâm nhai nhai mặt trong má một lúc trước khi tiếp tục.
“Đây là một dạng của án mạng trong phòng kín, nhưng không phải kiểu khó nhất, vì dây xích an toàn không được cài. Như Sherlock Holmes đã nói, ‘Khi anh loại bỏ hết những điều bất khả, thì điều còn lại, dẫu vô lý thế nào đi nữa, nhất định phải là sự thật’. Kẻ sát nhân rõ ràng đã thoát ra qua cửa chính, như vậy trên thực tế việc này chỉ có thể xảy ra theo hai khả năng.”
Tôi kinh ngạc lắng nghe giọng nói quyết đoán đầy tự tin của cô. Patricia rõ ràng đang bị kích động và tranh thủ uống vài ngụm nước lạnh trước khi tiếp tục.
“Giải pháp đầu tiên rất giống một tiểu thuyết nổi tiếng của Agatha Christie, trong đó các nhân vật, vì những nguyên nhân khác nhau, đã thông đồng để giết nạn nhân. Trong trường hợp đó, anh không nên quá để tâm đến lời khai của các cư dân khác trong tòa nhà.”
Tôi đã hy vọng một điều gì thực tế hơn, hẳn là vậy. Cô ấy nói tiếp ngay, không dừng chút nào để uống nước.
“Nhưng loại tình tiết đó tất nhiên thích hợp với các tiểu thuyết bên Anh quốc hơn là đời sống thường nhật tại Na Uy, và trong trường hợp này thì ít có khả năng xảy ra. Cũng sẽ là một nguy cơ đáng kể khi có nhiều người liên quan như vậy, và những cư dân sống tại đó có vẻ là một nhóm rất hỗn tạp. Nếu chúng ta bỏ qua sự hoang tưởng của mình và cất đi giả thiết về một sự thông đồng giữa họ, thì chỉ còn lại một khả năng.”
Tôi quan tâm trở lại và nhìn cô chằm chằm, những suy nghĩ quay cuồng trong khi cô rót và uống cạn nửa ly nước. Nhưng câu hỏi của cô là một bất ngờ tuyệt đối.
“Có phải nhiều cư dân trong tòa nhà đã từng phàn nàn về việc bị quấy rầy bởi đứa trẻ ở tầng một không?”
Patricia thoáng mỉm cười, có phần khiêm nhường khi thấy sự lúng túng trên gương mặt tôi, trước khi nói tiếp.
“Hoặc, để cho rõ ràng hơn, có phải âm thanh lan truyền cực tốt trong tòa nhà 25 phố Krebs? Có phải tòa nhà xây tường mỏng bất thường và truyền âm tốt?”
Tôi bắt đầu suy nghĩ mơ hồ về điều cô muốn đề cập nhưng vẫn chưa nhận ra được chuyện này sẽ đi đến đâu. Tôi ngẫm nghĩ, sau đó lắc đầu. Không có cư dân nào phàn nàn về việc đứa trẻ làm ồn.
“Thế thì làm sao một phát súng bắn trong căn hộ ở tầng hai lại có thể được nghe thấy một cách rõ ràng ở hành lang tầng trệt, cách hai mặt sàn phía dưới?”
Đó là một câu hỏi hay. Quả vậy, một câu hỏi rất hay mà đáng lẽ tôi đã phải nghĩ ra. Nhưng giọng nói của cô đã cắt ngang suy nghĩ của tôi trước khi tôi kịp hiểu hết ý nghĩa đầy đủ của nó.
“Hay thật, các cư dân trong tòa nhà, báo chí và ngay cả cảnh sát đều mắc cùng một sai lầm kinh điển nhưng hợp lý. Nếu ta nghe một tiếng súng nổ và không lâu sau đó tìm thấy một người đàn ông bị bắn, ta sẽ dễ dàng kết luận ông ta bị giết do tiếng súng vừa nghe. Hợp lý, nhưng không nhất thiết là sự thật. Nói cách khác, ông Harald Olesen không chết vì tiếng súng mà mọi người đã nghe vào lúc 10 giờ 15 phút tối. Ông đã bị giết bởi một phát súng khác, khó nghe thấy hơn, được khai hỏa sớm hơn trong buổi tối đó, có lẽ là nhờ sử dụng bộ phận giảm thanh. Liệu anh có dùng bộ phận giảm thanh không nếu anh định giết một người đàn ông trong căn hộ của ông ta và muốn tẩu thoát mà không bị phát hiện?”
Dĩ nhiên tôi sẽ dùng. Mọi chuyện rõ ràng đến đau lòng qua lời giải thích cặn kẽ, đơn giản của cô, và buồn thay trước đó tôi chưa từng nghĩ đến. Tuy nhiên, một câu hỏi nhanh chóng lóe lên trong tôi.
“Thế thì tiếng súng mà tất cả bọn họ đều nghe thấy đến từ đâu? Chúng tôi đã lục soát căn hộ của ông Olesen và tất cả những người khác một cách kỹ lưỡng nhưng không tìm thấy dấu vết của máy phát vô tuyến hay thiết bị theo dõi.”
Patricia mỉm cười lần nữa. “Tôi cũng đoán vậy. Và điều đó cho thấy chúng ta đang đối mặt với một vụ sát nhân được lên kế hoạch rất kỹ, được tiến hành bởi một tên giết người đặc biệt máu lạnh. Nhưng trong căn hộ của ông Harald Olesen có tình cờ hiện diện một máy quay đĩa, với cái đĩa đặt trên bàn quay không nhỉ?”
Câu hỏi tựa như một cú đấm thôi sơn vào bụng tôi. Tôi đã thấy và ghi nhận chiếc máy quay đĩa cũng như cái đĩa nhạc, nhưng không hiểu ra ý nghĩa của chúng. Tôi gật đầu và lau mô hôi trán. Thật bối rối khi Patricia đã nhìn thấy ngay tại đây trong căn phòng đóng kín của cô, những điều mà tôi không nhìn thấy, dù đã xem xét hiện trường vụ án nhiều lần. Và giờ tôi phát hiện ra cô ấy dường như có thể đọc được các suy nghĩ của tôi.
“Thật lạ là anh thường dễ dàng nhìn thấy các mối liên quan khi ngồi điểm lại tất cả các yếu tố theo một trật tự ngay ngắn và không bị bất kỳ ảnh hưởng hay ấn tượng nào từ hiện trường vụ án. Khái niệm dùng một thiết bị thu âm để thay đổi thời gian án mạng khá là quen thuộc, chẳng hạn như ở một trong số các tiểu thuyết thời kỳ đầu của Agatha Christie. Bây giờ, nếu anh quay lại số 25 phố Krebs và bật cái đĩa vẫn còn nằm trên bàn quay trong căn hộ ông Harald Olesen, tôi sẵn sàng cược chiếc xe lăn và một nửa tài sản thừa kế rằng sớm muộn gì anh cũng sẽ nghe thấy một tiếng súng khác.”
Tôi không theo vụ cá cược của Patricia. May mắn thay, tôi không cần chiếc xe lăn, và xui thay tôi sẽ không bao giờ có nổi một nửa phần thừa kế của cô ấy. Hơn nữa, tôi hoàn toàn tin rằng điều cô nói là đúng. Tôi lúng búng cảm ơn và đứng dậy để ra về. Cô gọi người giúp việc ngay. Trong khi chờ đợi, Patricia viết ra giấy một dãy số và đưa nó cho tôi.
“Đây là số điện thoại của tôi. Tôi sẽ rất cảm kích nếu anh có thể gọi tôi ngay khi xác nhận giả thiết của tôi về chiếc máy quay đĩa. Sau đó chúng ta có thể xem liệu tôi còn giúp được gì thêm cho anh không.”
Tôi lờ mờ nhận thấy chúng tôi đã xưng hô thân mật hơn, và có cảm giác hoàn toàn tự nhiên, bất chấp không khí xưa cũ trong căn nhà của gia đình Borchmann. Tôi gật đầu chào, cẩn thận cất mẩu giấy nhỏ vào trong bóp rồi yên lặng và ngoan ngoãn đi theo cô giúp việc ra ngoài. Tôi vẫn cảm thấy như thể bị thôi miên khi đến được chỗ chiếc xe, nhưng tôi hiểu khá rõ rằng vụ án mạng bí ẩn tưởng như không thể giải được của tôi đã nhảy một bước dài về phía một kết luận khả dĩ.