Người Ruồi

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 46 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
5

❊ ❊ ❊

Hans Andersson và tôi đứng kế nhau nhìn lên sườn thung lũng vẫn còn phủ đầy tuyết.

“Cái thung lũng này tuyệt đẹp vào những ngày thời tiết tốt như hôm nay, nhưng những ngọn núi có thể là địa ngục khi những cơn bão tuyết quét qua,” ông nói.

Tôi gật đầu đồng tình với hy vọng rằng ông sẽ tiếp tục. Tôi càng lúc càng nôn nóng muốn nghe thêm về những trải nghiệm chiến tranh của nhân vật Chân nai trẻ tuổi, về Sara Sundqvist và số phận của cha mẹ cô. Ông Andersson có lẽ cũng nhận ra và bắt đầu nói.

“Anh sẽ được nghe câu chuyện ngay thôi, nhưng cái thung lũng và thời tiết thực sự là những yếu tố rất quan trọng. Như anh có thể thấy, lối đi ở đằng kia cực kỳ dốc.”

Ông hoàn toàn không nói quá. Con đường chính chạy xuống triền thung lũng dốc như một đường trượt tuyết và kết thúc ở một vách đá nhỏ cao gần 5 mét. Sườn núi lổn nhổn đá dăm lộ ra dưới lớp tuyết trắng. Hans Andersson chỉ vào đó và nói với giọng cảnh báo.

“Đó là con đường từ núi đi xuống nhanh nhất, nhưng chọn nó cũng đồng nghĩa với đối mặt trước sự sinh tử. Khi tuyết dày nhất, anh có thể nhảy xuống từ cái vách đó nếu anh biết cách tiếp đất. Nhưng ngay cả như thế thì nó vẫn là con đường rất nguy hiểm. Có người đã nói rằng đó là một trong những lí do đầu tiên khiến một đồn cảnh sát được xây dựng ở đây để đảm bảo rằng không một gã thanh niên ngông cuồng nào thử sức với nó. Lần đầu tiên ông Harald Olesen và Chân nai tới đây ngay trước khi họ về, tôi đã thấy Chân nai nhìn chằm chằm vào cái vách đá đó như thể bị mê hoặc. Tôi đã mau mắn nói rằng cậu ta không bao giờ được thử nhảy từ trên đó xuống, trừ phi bị ma dồn quỷ ép và ở trong một tình thế hiểm nghèo. Cậu ta trầm ngâm gật đầu và hứa với tôi sẽ không làm thế.”

Hans Andersson im lặng một lúc, rồi chỉ tay lên phía trên cao sườn núi.

“Người ta vẫn xuống núi từ trên kia. Trong chiến tranh, đó luôn là nơi tôi quan sát thấy những nhóm nhỏ người tị nạn đi xuống, dẫn đầu là ông Harald Olesen và Chân nai. Mỗi lần như vậy là một lần thở phào nhẹ nhõm. Khi xuất hiện ở trên kia tức là họ đã sang được đất Thụy Điển, và mọi nguy hiểm đã qua. Chúng tôi từng nói họ đi nhanh hết mức có thể ở Na Uy và đi chậm rãi tùy theo ý muốn ở Thụy Điển. Đoạn đường cuối cùng đi xuyên qua những cánh rừng trên kia đơn giản là một cuộc diễu hành chiến thắng. Chân nai luôn luôn đi đầu để dẫn đường.”

Con đường đi xuống nơi mà triền thung lũng ít dốc nhất, xuyên qua những cánh rừng. Ngay cả một người đã kiệt sức và không quen trượt tuyết cũng có thể đi xuống theo lối đó mà không có bất kỳ nguy cơ tai nạn nào. Tôi nôn nóng chờ đợi để biết địa hình tại đây có liên quan như thế nào với câu chuyện. May mắn thay, ông Hans Andersson đã nhanh chóng bắt đầu câu chuyện của mình.

“Chúng tôi hầu như đã quen với những nhóm người tị nạn vào những năm cuối cùng của chiến tranh. Mọi thứ đều tốt đẹp cho đến lúc đó, nên chúng tôi có lẽ đã hơi mất cảnh giác. Tôi có một người chú sống ở Elverum, ngay trên lộ trình mà người tị nạn đi qua và giúp chúng tôi tổ chức mọi chuyện. Ông sẽ gọi tôi khi thấy những người tị nạn đi ngang qua, và bằng cách nói về những công việc gia đình và đồng áng, ông sẽ gửi một thông điệp để cho chúng tôi biết ai đang đi trên đường, cũng như có bao nhiêu người trong nhóm. Khi đó chúng tôi sẽ chuẩn bị thức ăn, đồ uống và chờ họ đến. Những thông điệp đó dĩ nhiên đều được mã hóa, phòng khi điện thoại bị nghe trộm. Nhưng rồi trong nhiều năm sau này, tôi cứ bị ám ảnh suốt vì đây là cách mà thảm kịch bắt đầu.”

Ông đứng đó một lúc và buồn bã quan sát triền núi. Rồi ông nói tiếp, nhưng không hề vội vã.

“Ngày 20 tháng 2 năm 1944, trời vừa sẩm tối thì chú tôi gọi, với thông điệp là cha con Chân nai vừa đi qua với hai cái bị lớn và một bị nhỏ. Điều đó có nghĩa là ông Harald Olesen và Chân nai đi cùng hai người tị nạn trưởng thành và một đứa trẻ. Chưa đầy một giờ sau, chú tôi gọi lại và báo có một bầy sói sáu con vừa lao qua cửa sổ. Thế là cơn ác mộng kinh khủng nhất của chúng tôi đã thành hiện thực. Ông Harald Olesen và Chân nai đang ở ngoài kia cùng với những người tị nạn, và một nhóm tuần tra của quân Đức đang theo dấu bọn họ.”

Tốc độ nói của ông Hans Andersson chậm dần. Những hồi ức mạnh mẽ rõ ràng đang đè nặng lên ông.

“Và rồi…” tôi mớm lời.

“Và rồi cơn bão tệ hại nhất của mùa đông năm đó bắt đầu quét qua,” ông nói với khuôn mặt nặng trĩu. “Tôi đã dậy từ 5 giờ sáng hôm đó, nhưng vẫn thức đến tận 4 giờ đêm. Tôi đi ra ngoài vài lần để quan sát bằng ống nhòm nhưng không thể thấy bất cứ thứ gì trên ngọn núi, trong bóng đêm và cơn bão tuyết. Cơn bão là một con dao hai lưỡi. Thời tiết có thể gây khó khăn cho những kẻ bám đuổi họ, nhưng đồng thời sẽ là địa ngục trần gian khi ở ngoài đó với bọn lính Đức theo đuôi, đặc biệt là với một đứa trẻ đang kêu khóc. Trong đêm tối, chỉ gió và cái lạnh cũng đã đủ nguy hiểm rồi. Khi lên giường đi ngủ vào lúc 4 giờ, tôi đã chắc mẩm lần gặp ông Harald Olesen và Chân nai trước đó là lần cuối tôi được thấy họ. Vợ đánh thức tôi dậy lúc 10 giờ sáng để nói cho tôi biết rằng gió đã ngớt, nhưng vẫn không có dấu hiệu sống nào trên triền núi. Tôi gần như từ bỏ hy vọng từ lúc đó.”

Hans Andersson không nói thêm gì nữa trong một khoảnh khắc dài như cả giờ đồng hồ. Ông cứ đứng đó nhìn đăm đăm lên triền núi.

“Tôi vẫn nhớ rõ từng chi tiết của buổi sáng ngày 21 tháng 2 năm 1944. Gió đã ngừng thổi hoàn toàn được vài giờ. Bầu trời xanh ngắt và không khí trong lành, nhưng vẫn cực kỳ lạnh và khô - nhiệt kế khi đó chỉ âm 25 độ. Thế nên tôi ngồi chờ trong văn phòng với hy vọng tắt dần. Tôi chưa bao giờ thực sự tin vào Chúa, nhưng khoảng 2 giờ chiều hôm đó, tôi đã chứng kiến điều được gọi là sự hiển linh của Chúa. Tôi đột nhiên cảm thấy mình phải đi ra ngoài cho bằng được để kiểm tra xem có bất kỳ dấu hiệu chuyển động nào trên triền núi hay không. Không thể ngồi lại trong văn phòng sau cảm giác thôi thúc đó, tôi chộp lấy cái ống nhòm và đi ra ngoài.”

Ông đưa cho tôi cái ống nhòm và nói với giọng quả quyết: “Hãy nhìn lên đỉnh của triền núi.”

Tôi làm như ông nói. Thời tiết trong trẻo nhưng tôi vẫn không thấy dấu hiệu của bất kỳ người nào trên đó. Ông gật đầu.

“Triền núi này vẫn chết chóc y như vào cái ngày lạnh lẽo khủng khiếp tháng 2 năm 1944 ấy. Thế rồi bỗng nhiên tôi thấy một chuyển động khẽ qua ống nhòm. Hóa ra nó chỉ là một con thỏ. Nhưng nó có vẻ rất hoảng sợ và đang chạy trốn khỏi điều gì đó. Tôi tự hỏi liệu trên kia có thêm động tĩnh nào không. Tiếp đó, một bầy gà gô bay vụt lên trời. Rồi thình lình người đó xuất hiện và trượt xuống từ đỉnh núi trong cái lạnh thấu xương. Một con người đơn độc trên hai thanh ván trượt - và người đó di chuyển rất nhanh, giống như bị ma đuổi vậy!”

“Harald Olesen ư?” Tôi hỏi. Đột nhiên cái khả năng tàn nhẫn là chỉ có ông ta và cô Sara bé nhỏ là hai người sống sót duy nhất vụt lóe lên trong suy nghĩ của tôi.

Hans Andersson lắc đầu.

“Đầu tiên tôi cũng nghĩ như thế. Nhưng tôi nhận ra vẻ thoăn thoắt của đôi chân ngay cả trước khi tôi có thể quan sát cậu ấy rõ ràng qua ống nhòm. Đó là Chân nai đang lướt như bay xuống trên biển tuyết trắng.”

Tôi ghé sát cái ống nhòm vào mắt và gần như có thể hình dung Chân nai đang trượt tuyết từ trên đỉnh núi xuống triền thung lũng. Tôi nín thở chờ nghe tiếp phần còn lại của câu chuyện, khi ông thực sự muốn nói tiếp.

“Lúc đầu, tôi hy vọng có thể thấy ông Harald Olesen và những người tị nạn khác xuất hiện phía sau Chân nai. Và rồi tôi bắt đầu sợ rằng cơn ác mộng tồi tệ nhất đang nhằm vào chúng tôi và rằng bọn lính Đức với mong muốn bắt được người dẫn đường đã vượt biên giới sang đất Thụy Điển. Một nỗi sợ cũ đã thức dậy. Trong những năm đầu của chiến tranh, chúng tôi đã bàn luận xem cần phải làm chuyện quái quỷ gì trong tình huống như thế, nhưng chưa bao giờ tìm được một giải pháp tốt hơn ngoài việc lập tức gọi báo cho Stockholm. Tôi còn nhớ mình đã nghĩ rằng bọn chúng sẽ sớm xuất hiện, nếu chúng muốn giữ cậu ấy trong tầm bắn. Nhưng không có ai xuất hiện sau lưng cậu ấy hết, cả bạn lẫn thù. Bình thường thì người dẫn đường sẽ đến cùng với một nhóm nhỏ, nhưng lần này Chân nai không dẫn đường cho ai hết. Và cậu ấy vẫn tiếp tục lao đi với tốc độ như của một nhà vô địch môn trượt tuyết đổ dốc. Tôi không thể hiểu nổi chuyện đó và bắt đầu lo rằng có thể cậu ấy đã lú lẫn. Đặc biệt khi tôi nhận ra cậu ấy định chọn con đường nào.”

Tôi hạ thấp ống nhòm xuống, trố mắt nhìn ông già. Ông gật đầu và chỉ tay về phía vách đá.

“Cảm giác nhẹ nhõm của tôi khi trông thấy Chân nai đã nhanh chóng nhường chỗ cho nỗi tuyệt vọng khi chứng kiến cậu ấy lao nhanh về vách đá. Sẽ rất mạo hiểm nếu cố nhảy xuống từ trên đó vào cuối tháng 2. Lớp tuyết che phủ ở phía cao trên triền núi mỏng dần khi xuống thấp và lớp đá sỏi từ từ lộ ra. Có họa là điên thì Chân nai, trong tình trạng kiệt sức sau khi vượt qua những ngọn núi và với cặp ván trượt không phù hợp kia, mới dám thử làm điều đó. Tôi cố vẫy tay ra hiệu cho cậu ấy dừng lại, nhưng cậu ấy đã huy động hết sức mạnh và tốc độ cho cú nhảy.”

Không thấy ai trên triền núi hay tại vách đá ngày hôm nay, nhưng khi tôi lắng nghe câu chuyện, tôi có thể hình dung rõ ràng cảnh Chân nai lao qua rìa vách đá.

“Đó là khoảnh khắc kinh hãi nhất trong đời, khi đứng ở đây nhìn cậu ấy quăng mình qua rìa của vách đá. Ban đầu, trông cứ như thể cậu ấy đang lao thẳng vào những hòn đá. Nhưng cậu ấy bật nhảy trên cặp ván trượt và chúi người về phía trước trong khi bay vút lên cao. Hai thanh ván sượt qua những tảng đá lớn cuối cùng. Chân nai đáp xuống an toàn trên tuyết và tiếp tục cúi người cho đến khi chậm lại, đứng thẳng lên, rồi dùng sức đẩy của đôi chân để lao tới đây nhanh nhất có thể. Tôi tưởng cậu ấy đã mất trí. Nhưng khi có thể nhìn rõ mặt cậu ấy trong ống nhòm, tôi thấy trên đó không có dấu hiệu gì của vẻ sợ hãi hay hoảng hốt, có chăng chỉ là một sự quyết tâm điên rồ để xuống tới chỗ chúng tôi càng sớm càng tốt. Khi đã xuống đến thung lũng, cậu ấy lướt như bay. Hai cánh tay cậu ấy chuyển động nhanh đến nỗi anh nhìn thấy cũng phát sợ.”

Ông đột ngột ngừng lời và lắc đầu.

“Vẫn không thể tin được là tôi không hiểu chuyện gì xảy ra lúc đó. Còn anh?”

Tôi chậm rãi lắc đầu, thậm chí không suy nghĩ về việc đó.

“Tôi vẫn không hiểu gì hết khi Chân nai xuống đến đây, chỉ còn cách tôi vài mét. Và rồi thế giới xung quanh tôi ngừng lại khi cậu ấy lôi từ bên trong chiếc áo trùm đầu của mình ra một đứa bé bất động, được quấn trong một cái khăn quàng cổ và một cái áo len.”

Tôi nhìn xuống tuyết một lúc và phải thừa nhận với bản thân rằng, cũng như ông, tôi đáng lẽ phải nhận ra. May mắn thay, ông ấy lập tức tiếp tục.

“Nếu có một sự kiện gây ấn tượng sâu sắc mà cả đời tôi không bao giờ quên, thì chính là chuyện này. Chân nai vỗ hai phát lên má của đứa bé, nó không có bất kỳ phản ứng nào, nhưng cậu ấy vẫn không từ bỏ hy vọng. “Vẫn còn hơi ấm trong cô bé,” cậu ấy nói như vậy với một giọng bình tĩnh lạ thường. Rồi cậu ấy đưa đứa bé cho tôi và bảo tôi nhúng ngay nó vào nước ấm. Tôi vẫn còn tê hệt và đứng đó không nhúc nhích trong vài giây. Chân nai lặp lại một lần nữa với giọng lớn hơn rằng tôi phải lập tức nhúng cô bé vào trong nước ấm. Nghe như một mệnh lệnh vậy. Nhưng chỉ đến khi cậu ấy vươn tay định giành lại đứa bé thì tôi mới tỉnh ra và đem nó chạy lên cầu thang.”

Bất chấp tính nghiêm trọng của tình hình, một nụ cười rộng mở lướt qua gương mặt của ông Hans Andersson.

“May mắn thay, vợ tôi mới vừa tắm xong cho con trai chúng tôi. Anh có thể hình dung những gì cô ấy nghĩ đến khi tôi bước vào với một đứa bé khác và nhúng luôn nó vào nước, quần áo còn nguyên. Nhưng vợ tôi nhanh chóng hiểu ra tình hình và cố hô hấp nhân tạo cho đứa bé. Trong vài phút, không có dấu hiệu nào của sự sống. Thế rồi một bàn tay nhỏ xíu co lại. Và cô bé bắt đầu khóc.”

“Vậy là cô bé Sara đã sống sót xuống núi?” Tôi nói.

Ông già trịnh trọng gật đầu.

“Sara bé nhỏ đã sống sót xuống núi nhưng chỉ là trong đường tơ kẽ tóc. Người bác sĩ đến khám cho cô bé đã nói rằng chỉ chậm năm phút nữa thôi là không cứu được nữa. Nhưng tôi tin vợ tôi hơn, cô ấy nói rằng thậm chí hai phút nữa thôi cũng đã là quá trễ.”

“Chân nai đã phản ứng như thế nào?” tôi hỏi.

Hans Andersson chỉ tay vào lớp tuyết sát bên tường nhà.

“Cậu ấy nằm ngửa ngay trên tuyết tại chỗ đó, hoàn toàn kiệt sức, và vẫn thở rất nặng nhọc khi tôi quay ra. Chỉ đến khi đó tôi mới hoàn toàn hiểu rõ việc trượt tuyết băng qua những ngọn núi tốn sức như thế nào. Tuy vậy, Chân nai thư thái lạ thường và tỉnh táo. Khi tôi hỏi liệu cậu ấy có cầu Chúa hay không, cậu ấy thì thào rằng mình không còn tin vào Chúa nữa. Và khi tôi nói rằng đứa trẻ sẽ sống, cậu ấy chỉ gật đầu nói khẽ rằng rốt cuộc điều đó đem lại ý nghĩa cho tấn bi kịch. Chân nai nằm dài trên tuyết thêm vài phút nữa nhưng rồi nhanh chóng hồi phục trở lại sau một cốc cà phê nóng. Tôi nói đùa rằng cậu ấy không bao giờ được phép nghĩ đến việc nhảy xuống từ vách đá đó một lần nữa. Với một nụ cười thoáng qua, cậu ấy đáp rằng mình không có dự định làm như thế. Nhưng rồi Chân nai trầm giọng nói tiếp rằng đó là vấn đề giữa sự sống và cái chết và cậu thật sự bị ma dồn quỷ ép. Cậu ấy cảm thấy tự tin với phần đầu của quãng đường, vì nghe được tiếng đứa trẻ khóc và cảm thấy cử động của nó. Nhưng ở giai đoạn tiếp theo, cậu chỉ nghe thấy những tiếng thút thít nho nhỏ, và rồi không nghe được gì nữa. Cô bé vẫn nằm áp vào bụng của Chân nai và cậu ấy có thể cảm thấy cô bé đang lạnh đi. Chân nai nhanh chóng nhận ra mối nguy hiểm và trượt tuyết như ma đuổi để đưa cô bé đến nơi an toàn càng sớm càng tốt.”

Hans Andersson cau mày và nhìn quanh.

“Tôi, vợ mình và người bác sĩ đến khám đều nói rằng Chân nai đã thực sự làm một hành động anh hùng. Ông bác sĩ đã gọi đó là một thử thách sức bền kiểu Birkebein mới. Tôi không hiểu ông ta nói vậy nghĩa là gì, và đã phải tìm trong một quyển sách lịch sử để khám phá câu chuyện về việc những người ủng hộ nhà vua Sverre hộ tống hoàng tử bé Haakon đi quá núi vào mùa đông năm 1206. Nhưng ngay khi nghe ông bác sĩ nói như vậy thì Chân nai chỉ cười và đáp rằng thật ra hồi xưa có một nhóm mấy người Birkebein[*] cơ, nên ít nhất họ cũng có thể luân phiên giữ đứa bé. Điều này cùng với những lời bình luận khiêm nhường khác của cậu ấy càng củng cố ấn tượng trong tôi rằng Chân nai xuất thân trong một gia đình khá giả và được hưởng một sự giáo dục tốt.*”

Nghe có vẻ là một suy luận hợp lý. Sự hiếu kỳ của tôi đối với Chân nai là rất lớn nhưng vào lúc đó nó lại bị lấn át bởi sự tò mò của tôi về người đồng hành của cậu ta.

“Còn ông Harald Olesen? Việc gì đã xảy ra với ông ta? Rõ ràng là ông ta vẫn còn sống.”

Hans Andersson gật đầu.

“Khi Chân nai hồi phục, tôi nhẹ cả người khi cậu ấy nói với tôi rằng ông Harald Olesen vẫn sống sót và đang trên đường băng qua ngọn núi. Họ bị kẹt trong một tình cảnh hết sức ngặt nghèo trên kia. Ba tên lính Đức đã quay về khi cơn bão quét qua dữ dội, nhưng ba tên còn lại vẫn tiếp tục. Sau khi trú qua đêm trên núi để tránh bão tuyết; hai bên đã có một cuộc đọ súng; kết quả là ba tên lính Đức và hai người tị nạn đều chết. Ông Harald Olesen đã ở lại phía sau để chôn cất họ trong khi Chân nai đem theo cô bé đi trước. Cậu hy vọng rằng ông Harald Olesen có thể tìm được đường đến đây bằng cách lần theo dấu của cậu. Đúng là ông ấy đã làm được và đến nơi sau Chân nai ba hay bốn giờ. Rõ ràng ông ấy đã đi chậm hơn và chọn lối đi ít nguy hiểm hơn xuyên qua những cánh rừng. Câu chuyện của ông ấy cũng y hệt như Chân nai đã kể. Khi cơn bão dịu xuống vào lúc mặt trời mọc; họ đã bị kẹt trong một trận đọ súng và ông đã xoay xở để bắn chết ba tên lính Đức; nhưng không thể bảo vệ hai người tị nạn khỏi bị trúng đạn. Ông đã đặt năm thi thể trong một cái hang rồi theo dấu của Chân nai. Tôi đã làm một báo cáo ngắn gọn về sự việc và liên lạc với Stockholm. Theo như những gì tôi hiểu; cuộc đấu súng đã diễn ra bên phía lãnh thổ Na Uy và Stockholm sớm từ bỏ mối quan tâm khi họ biết không có công dân Thụy Điển nào bị liên lụy.”

Có một khoảng lặng ngắn trước khi ông Hans Andersson tiếp tục.

“Tối hôm đó; đứa trẻ đã khỏe lại và bò quanh trên tấm thảm cùng với cậu con trai của chúng tôi. Nhìn nó tôi thấy thật ấm lòng. Nhưng không khí lại nặng trĩu. Ông Harald Olesen và Chân nai ngủ đêm trong hai phòng riêng. Cả hai đều có vẻ rối trí. Tôi tự nhủ việc đó không có gì lạ, căn cứ trên những gì họ đã trải qua. Tôi đánh liều hỏi liệu họ có cho rằng trở lại Na Uy ngay là khôn ngoan hay không, nhưng họ đều cương quyết nói sẽ lên đường sau bữa sáng hôm sau. Nhưng tôi còn bị một cú sốc nữa trước khi họ ra đi.”

Tôi bám sát từng lời của ông với sự chú ý đặc biệt.

“Tôi chứng kiến việc đó một cách hoàn toàn ngẫu nhiên. Lúc mở một cửa sổ ở tầng trên để hất nước cạo râu đi thì tôi thấy ông Harald Olesen và Chân nai. Họ đã đi ra ngoài và đứng dựa lưng vào tường ngay chỗ góc nhà. Tôi không thể nghe rõ họ nói những gì nhưng nhanh chóng nhận ra rằng đó là một cuộc đối thoại căng thẳng. Khi bản thân đã từng là một thiếu niên và có những đứa con vào tuổi đó, chắc chắn anh sẽ trải qua một vài màn đối đầu căng thẳng. Nhưng đó vẫn là một trong những cuộc đối thoại kịch tính nhất mà tôi từng thấy. Chân nai, người bình thường vốn rất bình tĩnh, lại bất ngờ giận dữ không kiềm chế được. Cậu ta giơ một ngón tay đe dọa chỉ vào mặt ông Harald Olesen, tay kia co thành nắm đấm vung vẩy lung tung, miệng nói liên hồi và gằn giọng như một khẩu súng máy. Ông Harald Olesen ngược lại hầu như không nói từ nào. Ông dựa vào tường, mặt cắt không còn hột máu và run rẩy đến nỗi tôi sợ rằng ông ấy sẽ ngất đi bất kỳ lúc nào. Đó thật sự là một cảnh tượng không thể tin được. Tôi chưa từng thấy hai người họ như vậy trước đây. Khi tôi chào tạm biệt họ nửa tiếng sau, mọi thứ lại bình thường như cũ. Chân nai lại nở nụ cười tinh nghịch và đùa giỡn với cô bé con một lúc trước khi đi. Chuyện đó khiến tôi tự hỏi phải chăng điều tôi đã thấy là một giấc mơ lạ thường. Nhưng không phải vậy. Một khi họ đã đi khỏi, tôi tiến lại chỗ bức tường. Rõ ràng vẫn còn những dấu vết cho thấy họ đã ở đây, và dấu giày của ông Harald Olesen còn lún sâu trong tuyết.”

Tôi gật đầu. Việc Chân nai nổi giận và đe dọa ông Harald Olesen có vẻ khá phù hợp với những gì diễn ra hai mươi bốn năm sau đó.

“Đó có phải là lần cuối cùng ông gặp cả hai người họ?”

Hans Andersson gật đầu.

“Phải - có thể nói là gần như thế. Không ai trong số họ quay lại đây trong chiến tranh và tôi không nhìn thấy hay nghe nói đến Chân nai từ đó. Nhưng tôi có gặp ông Harald Olesen vài năm sau chiến tranh. Lần đó tôi đến thăm gia đình ở Oslo khi ông ấy đang có bài phát biểu tại thành phố. Tôi đến nói chuyện với ông sau đó.

Ông nhận ra tôi và cảm ơn tôi về tất cả sự giúp đỡ trong chiến tranh, nhưng ông ấy rõ ràng đang rất bận và không sẵn lòng để trò chuyện. Nhiều năm qua tôi thường tự hỏi chuyện gì đã xảy ra với Chân nai, thế nên tôi cố gặng hỏi. Nhưng ông ấy chỉ lẩm bẩm rất khẽ rằng đó là một câu chuyện buồn. Rồi ông ấy cáo từ vì phải đến một nơi nào đó và vội vã đi ngay.”

Chúng tôi im lặng trong một lúc. Rõ ràng là ông Harald Olesen không muốn nhắc đến chuyến đi thảm họa lẫn người dẫn đường của mình, và chắc chắn ông ấy phải có lý do mới làm như thế. Tôi đã suy nghĩ nát óc để cố hiểu xem đó có thể là gì, cũng như ai là người biết rõ hơn về chuyện đó và Chân nai ngoài ông Olesen quá cố.

“Anh chàng tị nạn đi cùng với Chân nai và ông Harald Olesen vào năm 1942 - ông có biết chúng tôi có thể tìm người đó ở đâu không?”

Hans Andersson lắc đầu một cách tiếc nuối.

“Cậu ta là con trai của một người Áo tị nạn và tên là Helmut Schmidt. Lần cuối cùng tôi hay tin về Helmut thì cậu ta sống ở Vienna, nhưng tôi không nghĩ anh sẽ thu được gì nhiều từ phía đó. Helmut không đi cùng họ trong cái đêm ấy, và khi cậu ta quay lại đây sau chiến tranh, cậu ta không biết Chân nai tên thật là gì, hay đang ở đâu. Helmut nói rằng cậu ta sẵn sàng đi đến cùng trời cuối đất tìm Chân nai để thể hiện lòng biết ơn của mình. Cậu ta không bao giờ quên cái đêm giá lạnh và tối đen như mực đó khi Chân nai đã dẫn lối cho mình an toàn vượt qua núi để đến với tự do. Họ đã lên đường cùng nhau sau khi Helmut được thả xuống từ một chiếc xe ở một con đường thôn quê gần Elverum. Chân nai từ đâu đó xuất hiện trên cặp ván trượt tuyết. Không thể biết cậu ấy đến từ đâu.”

Tôi nguyền rủa trong im lặng. Bực làm sao, nhân vật Chân nai này thực sự không chỉ giỏi trong việc dẫn đường mà cả trong việc xóa dấu vết.

Hans Andersson và tôi đứng đó không nói gì trong vòng vài phút, nhìn lên triền núi tuyết phủ trong im lặng. Không nghi ngờ gì nữa, chúng tôi đều nghĩ rằng câu chuyện lạ thường về những nỗ lực trong chiến tranh của chàng Chân nai trẻ tuổi về mặt nào đó rất quan trọng đối với vụ sát hại ông Harald Olesen, nhưng không dễ để tìm ra nó quan trọng đến thế nào. Việc Chân nai có còn sống hai mươi bốn năm sau hay không và anh ta đang ở đâu trên trái đất này vẫn là một bí ẩn chưa giải đáp được. Ít ra tôi cũng bắt được một hành tung thoáng qua của nhân vật bí hiểm này tại đây ở Salen, để rồi lại mất dấu anh ta lần nữa. Chân nai, với đôi chân dẻo dai như thường lệ, đã đi ngược trở lên triền núi phủ tuyết đó vào một ngày lạnh giá năm 1944, và mọi dấu vết của anh ta dừng lại tại đó.

Tôi và Hans Andersson nhìn nhau. Ông hiểu những gì tôi đang nghĩ và chỉ tay về phía con đường xuyên núi.

“Chân nai đi sau ông Harald Olesen một quãng khi họ khởi hành vượt núi trở về Na Uy vào buổi sáng hôm đó. Tôi đã đứng đây với chiếc ống nhòm và quan sát cho đến khi cậu ấy khuất dạng trên đường. Tôi không biết điều gì xảy đến cho cậu ấy sau đó, nhưng tôi vẫn tự hỏi mình mỗi năm khi tôi đứng đây và nhìn thấy những dấu hiệu đầu tiên của mùa xuân.”

Tôi hứa sẽ cho ông biết nếu có thêm thông tin về Chân nai, rồi hỏi thăm chuyện xảy ra với cô Sara Sundqvist sau đó.

“Đó cũng là một câu chuyện buồn, mặc dù dĩ nhiên việc cô bé được cứu sống là một điều kỳ diệu. Đó là một cô bé con rất dễ thương và hay chơi đùa vui vẻ trên sàn với con trai tôi trong vài tuần lễ sau đó. Vợ chồng tôi hay nói về việc nhận nuôi cô bé, nhưng rồi điều đó đã không xảy ra. Theo những thông tin mà ông Harald Olesen cung cấp về cha mẹ cô ấy, rõ ràng họ không chỉ là người tị nạn, mà còn là dân Do Thái. Cha vợ tôi khi nghe điều này đã nổi giận đùng đùng. Thế nên chúng tôi đã từ bỏ ý định giữ cô bé lại và gửi Sara đến một văn phòng nhận con nuôi ở Gothenburg. Điều này đã làm chúng tôi vô cùng đau lòng. Trong nhiều năm trời chúng tôi hoàn toàn không biết chuyện gì đã xảy ra với Sara bé nhỏ. Nhưng có vẻ như cô ấy đã được chăm sóc bởi những người tử tế, và bất chấp một khởi đầu khó khăn, mọi chuyện giờ đây đã trở nên tốt đẹp với cô ấy.”

Đột nhiên tôi cảm thấy tim mình bị bóp nghẹt bởi một mối nghi ngờ lạnh lẽo và vội hỏi xem làm sao ông biết chuyện đó. Lần này câu trả lời của ông ngắn gọn và mau mắn.

“Bởi vì Sara đã đến đây, và tôi cũng đã kể cho cô nghe câu chuyện này. Chắc cũng phải được vài năm rồi. Rõ ràng đó là lần đầu tiên cô nghe đến tên cha mẹ mình và được kể cho biết mình đã đến Gothenburg như thế nào. Dĩ nhiên cô ấy rất quan tâm đến ông Harald Olesen, và đặc biệt là Chân nai.”

Ông già nhận ra có gì đó không ổn và ném cho tôi một cái nhìn thắc mắc.

“Tôi đã gọi trụ sở chính để kiểm tra trước khi kể cho Sara nghe bất cứ điều gì. Nhưng họ cũng có cùng ý kiến như tôi: cô ấy có quyền được biết những gì chúng ta biết về câu chuyện của cô. Nó đã xảy ra rất lâu rồi, và không liên quan đến bất kỳ vụ án hình sự nào trên đất Thụy Điển, chắc chắn là như thế.”

Tôi khó lòng phản bác, nhưng điều đó không thể ngăn được cảm giác giận dữ và bất an đang trào lên trong lòng tôi. Sara Sundqvist một lần nữa lại nói dối tôi - và khám phá lần này hoàn toàn không có lợi cho cô ta.

Tôi nói rằng ông đã làm đúng, để ông thanh thản. Rồi tôi không chần chừ hỏi ngay liệu tôi có thể mượn văn phòng của ông để gọi một cuộc điện thoại quan trọng về Oslo.

Đấng quyển năng thương xót cho linh hồn tôi! Đoạn văn được đánh máy nhưng Konrad Jensen ký tên bằng bút bi ngay phía dưới. Tôi gật đầu với chính mình, do tôi đứng đó một mình trong căn hộ với một người đàn ông đã chết và đã ký một lá thư t
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Hans Olav Lahlum

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.