Buồn thay, vợ ông đã đúng. Không còn lại gì nhiều nơi ông Anton Hansen năm 1968, nếu so sánh với chú rể đẹp trai, tóc sẫm trong hình năm 1928. Bốn mươi năm sau, cùng một người đó giờ chỉ còn da bọc xương nằm trên chiếc giường trắng toát của bệnh viện. Tôi đoán tuổi ông không ít hơn bảy mươi lăm và cân nặng của ông kém xa 57 kg, dù ông cao tối thiểu 1m78. Mái tóc muối tiêu, da dẻ xanh xao, hơi thở ông khó nhọc và miệng ông không còn cái răng nào. Ông được gắn một dây truyền dịch ở tay trái và một ống thở oxy nơi mũi, nhưng vì ông ho liên tục, chúng cứ chực rơi ra.
Nói cách khác, ông gác dan Anton Hansen đúng là giống như người đã có một cuộc sống khó khăn và giờ đây đang chết dần do hậu quả của nó. Mắt ông sáng lên khi thấy tôi nhưng gương mặt và cơ thể ông vẫn nặng nề, có phần hơi lẫn. Ông gật rất khẽ và nhấc tay lên khỏi giường chào tôi nhưng cái bắt tay không thể hiện chút năng lượng hay ý chí nào. Có điều gì đó lạ lùng, dị dạng nơi bàn tay ông ta. Mất đến vài phút tôi mới nhận ra rằng không những mất răng, ông cũng không còn cái móng tay nào.
“Thanh tra cảnh sát Kolbjorn Kristiansen. Việc tôi có mặt ở đây, như ông hẳn đã biết, liên quan đến vụ sát hại người hàng xóm của ông, Harald Olesen.”
Ông già lại gật đầu. Giọng ông yếu ớt nhưng thân thiện.
“Khi được nghe về vụ án mạng, tôi tưởng mình cũng sắp chết đến nơi. Ông Harald Olesen là một trong số những người tôi ngưỡng mộ trên thế giới này, và tôi chưa bao giờ hình dung mình sống lâu hơn ông ấy. Tôi đã hy vọng ông ấy sẽ đến dự đám tang tôi và còn sống lâu nữa cơ.”
Ông vừa thở hổn hển vừa ho, nhưng nhanh chóng nói tiếp.
“Trong chiến tranh, bất cứ ai từng biết danh tính của ông ấy đều lo lắng rằng ông có thể bị bắn chết bất kỳ lúc nào. Nhưng giờ đây, đã qua nhiều năm rồi… chuyện đó xảy đến như một cú sốc, và tôi không tưởng tượng nổi ai có thể muốn giết ông ấy. Không thể nào.”
Ông già lại ngả đầu xuống gối. Tôi kín đáo đứng lên và đến gần cái giường hơn để ông có thể thấy tôi mà không cần nhấc đầu lên. Ông gật đầu với vẻ biết ơn.
“Tôi ngưỡng mộ ông Harald Olesen trong thời chiến, dĩ nhiên, nhưng sau này tôi mới hoàn toàn hiểu rõ ông ấy đã mạnh mẽ như thế nào. Ông ấy là một con người của hành động, luôn có thể phân biệt được điều gì quan trọng, điều gì không, và luôn nhìn về tương lai. Ông ấy đã biết cách để sống tiếp, dù rằng trong chiến tranh, ông đã từng chứng kiến những việc tồi tệ hơn tôi nhiều.
Ông già lại ho, lần này mạnh đến nỗi tôi vội nhìn quanh tìm một cô y tá, nhưng rồi ông tiếp tục nói.
“Vấn đề là tôi nhớ mọi thứ quá rõ ràng. Thế nên tôi bị kẹt với những chuyện đã xảy ra và không thể tiếp tục - đặc biệt là với những trải nghiệm nặng nề như những gì chiến tranh đem lại cho tôi.”
Tôi cảm thấy đầu óc ông gác dan khỏe mạnh hơn thể xác của ông. Nhưng giờ tôi nóng lòng muốn biết nhiều hơn về chuyện đã xảy ra trong chiến tranh và những người hàng xóm của ông trước khi quá trễ.
“Chắc hẳn ông và ông Harald Olesen, hai cựu binh Kháng chiến, phải cảm thấy rất kỳ cục khi có một người hàng xóm là cựu thành viên của đảng NS.”
Một nụ cười khẽ lướt qua gương mặt của ông Anton Hansen, nhưng chuyển ngay thành cái nhăn nhó.
“Ờ, vâng, nhưng Konrad Jensen không làm hại đến một con ruồi sau khi chiến tranh kết thúc. Tôi chưa bao giờ hỏi xem ông Harald cảm thấy thế nào khi có một người cựu Phát xít sống ngay cạnh, nhưng với tôi đó không phải là vấn đề. Thật lạ lùng, tôi có cảm giác như Konrad và tôi có cùng một số phận. Chúng tôi đều là những con người nhỏ bé, yếu đuối, cố theo kịp những người vĩ đại, mạnh mẽ như Harald Olesen trong suốt chiến tranh. Và chúng tôi đã trả giá đắt cho nó trong những năm sau này, mỗi người mỗi cách.”
“Ông có nhớ được sự kiện đặc biệt nào hoặc ai đó trong thời kỳ chiếm đóng mà ông nghĩ là có thể quan trọng không?”
Ông già thở nặng nhọc và lại hổn hển lấy hơi.
“Vấn đề của tôi là tôi nhớ quá nhiều. Nhiều chuyện đã xảy ra trong những năm đó, hầu hết là bí mật, cho nên tôi không chắc điều gì có thể quan trọng và điều gì không. Tôi nhớ những thời khắc hạnh phúc như ngày Giải phóng và sự trở về của gia đình hoàng tộc. Và tôi nhớ những người tị nạn đầu tiên mà chúng tôi giấu dưới hầm. Có bốn người trong khoảng từ năm 1942 đến năm 1943, và tất cả đều vượt biên giới thành công đến Thụy Điển. Tôi không bao giờ quên tình thế căng thẳng khi họ ở đây với chúng tôi. Nếu quân Đức đến khi họ ở đó, cả tôi và vợ chắc sẽ bị bắn chung với họ. Chúng tôi đã sống chung với họ vài ngày với thần chết lơ lửng trên đầu. Người trẻ nhất trong những vị khách đó là một cậu nhóc tê cứng vì sợ, chỉ khoảng mười sáu, mười bảy tuổi, nói cả hai thứ tiếng Na Uy và Đức. Mười năm sau, cậu ấy quay lại cùng với vợ và con trai để tặng chúng tôi những món quà cảm ơn vì đã giúp đỡ. Đó là một trong những ký ức đẹp đẽ nhất của tôi sau chiến tranh.”
Ông Anton Hansen bật cười một lúc, cho đến khi bị một đợt ho át đi.
“Thế rồi có ba người cuối cùng… nhưng họ không được may mắn lắm.”
Tôi tiến sát gần ông hơn nữa và nóng ruột ra dấu cho ông nói tiếp.
“Một đôi vợ chồng trẻ đi cùng một đứa bé đến nhà chúng tôi vào tháng 2 năm 1944. Tóc sẫm màu, lịch thiệp và ăn mặc đẹp nhưng sợ hãi bởi mối nguy hiểm treo trên đầu họ. Họ sợ đến nỗi không dám để cho một trong hai người hoặc đứa trẻ ở ngoài tầm mắt dù chỉ trong phút chốc, tôi nghe họ khóc và thì thầm bằng tiếng nước ngoài mỗi đêm. Họ nói tiếng Na Uy, nhưng với âm điệu kỳ quặc và cách dùng từ lạ lùng. Thế nên, tôi nhận ra họ đến từ một nước khác và không hiểu sao bị kẹt lại giữa hai làn đạn ở Na Uy.”
Ông lại oằn người vì một trận ho rũ rượi khác. Tôi sợ rằng ông Anton Hansen sẽ tắt thở giữa lúc câu chuyện đang đến hồi gay cấn, nhưng đôi mắt ông vẫn sáng quắc khi cơn ho dịu xuống.
“Ông Harald Olesen có một năng lực gần như siêu nhiên trong những hoàn cảnh khó khăn. Ông ấy có thể đánh hơi thấy nguy hiểm như một con thú săn mồi - nhờ bản năng hơn là trí tuệ của mình. Vào buổi chiều thứ ba sau khi họ đến ở cùng chúng tôi, ông ấy xuất hiện, bảo là cảm nhận được mối nguy hiểm đang chực chờ, và sau khi cân nhắc cho cả họ lẫn chúng tôi, ông không thể để những người tị nạn này ở lại trong thành phố lâu hơn được nữa. Do vậy, ông quay lại đưa họ đi bằng xe hơi vào khoảng 2 giờ sáng. Đó là một cuộc chia tay vội vã. Tôi còn nhớ chiếc giày em bé nhỏ xíu bị rớt lại trên sàn.”
Đầu ông Anton Hansen lại ngả xuống gối lần nữa. Tôi tận dụng cơ hội để hỏi một câu.
“Ông có thể nhớ được loại xe mà ông Harald Olesen đã lái hay không?”
Ông gật đầu yếu ớt và không hề nhấc đầu lên khỏi gối.
“Tối hôm đó ông ấy lái chiếc Volvo 1932 đen của mình, như thường lệ.”
Tôi cười, hy vọng có thể khích lệ cho cả ông ấy và tôi.
“Tốt, tốt. Và điều gì xảy đến cho những người tị nạn sau đó?”
Sau một nụ cười thoáng qua, gương mặt ông Anton Hansen co rúm lại.
“Tôi e rằng tôi không biết gì nhiều. Chúng tôi chưa bao giờ được nói cho biết tên hoặc bất kỳ điều gì về những người đến tá túc tại nhà chúng tôi, cũng không biết họ sẽ đi tiếp bằng đường nào. Tôi chưa bao giờ gặp lại họ, nhưng tôi không nghĩ mọi việc kết thúc tốt đẹp. Về sau, có lần tôi hỏi ông Harald Olesen về gia đình ấy. Ông ấy bỗng sa sầm và nói rằng họ đã không may mắn lắm, rằng tôi không nên hỏi nữa. Ông nói rằng tốt nhất là tôi không nên biết thêm. Vậy nên tôi chưa bao giờ hỏi lại. Tôi tuyệt đối tôn trọng những gì ông Harald Olesen đã nói, nhưng cũng thường suy nghĩ về việc đó. Những hình ảnh và ký ức vẫn đeo bám tôi qua chừng ấy năm. Tôi đoán rằng không có ai trong số họ sống sót sau chiến tranh.”
Ông dừng một chút, ho vài lần, rồi nói tiếp.
“Ngoài ra, có một điều mà tôi chắc chắn là lần đó bản năng của ông Harald Olesen đã cứu mạng vợ chồng tôi. Không hiểu bằng cách nào chúng tôi đã bị phát hiện, hoặc có ai đó đã chỉ điểm. Buổi sáng hôm sau, tôi bị đánh thức bởi năm tên lính Gestapo, chúng đá tung cửa và lục soát khắp nhà. Chiếc giày em bé trên sàn là một trong số những đồ vật mà chúng truy vấn, nhưng thật may mắn là chiếc giày lại vừa khít với đứa con trai nhỏ nhất của chúng tôi.”
Ông lại dừng một chút. Những hồi ức rõ ràng quá mạnh và giọng ông run lên.
“Tuy nhiên tôi vẫn bị tống vào trại giam Grini. Khi bị lôi khỏi nhà buổi sáng hôm đó, tôi đã tưởng đó là lần cuối cùng được trông thấy vợ và lũ trẻ. Tôi bị tra khảo và đánh đập trong bốn ngày trước khi chúng thả tôi ra. Vào ngày thứ ba, chúng nói rằng tôi sẽ bị bắn nếu không khai ra những người tị nạn đã đi đâu và đi cùng ai. Tôi đã nói lời từ biệt cuộc sống. Nhưng hóa ra đó chỉ là lừa gạt - chúng dựng tôi lên và bóp cò mà không nạp đạn. Điều đó thuyết phục chúng rằng tôi không có gì để khai cả. Ngày hôm sau, chúng thả tôi ra. Tôi về nhà thiếu ba cái răng và mười cái móng tay nhưng với tôi và vợ điều đó không hề gì. Nếu đó là tổn thất nặng nề nhất, thì tôi đoán chúng tôi có thể tiếp tục sống hạnh phúc suốt đời. Sự tham gia của tôi trong phong trào Kháng chiến dừng tại đó. Ông Harald cảm thấy quá nguy hiểm cho chúng tôi và cả những người kháng chiến khác nếu chúng tôi tiếp tục che giấu người tị nạn. Tôi đã không phản đối.”
Ông Anton Hansen rơm rớm nước mắt. Những ký ức sau chiến tranh có vẻ còn nặng nề hơn nhiều. Giọng ông gần như thều thào và run lên khi ông tiếp tục.
“Sau này, tôi vẫn thường nghĩ lẽ ra tôi phải từ chối khi ông Harald Olesen lần đầu hỏi liệu tôi có muốn tham gia phong trào Kháng chiến và che giấu người tị nạn hay không. Bây giờ tôi cảm thấy rất hối hận về việc đó khi nhìn thấy những hậu quả nơi vợ và các con tôi. Nhưng nếu Na Uy bị chiếm đóng lần nữa và ông Harald Olesen đứng ngay cái bàn bếp kia, yêu cầu tôi giúp tổ quốc mình bằng cách che giấu người tị nạn, tôi cũng sẽ không từ chối. Làm sao tôi có thể từ chối được?”
Tôi gật đầu với tất cả vẻ cảm thông của mình.
“Dĩ nhiên là không. Ông đã đóng góp to lớn cho tổ quốc và đồng bào mình. Không ai có thể tiên liệu được hậu quả sẽ như thế nào mà.”
Ông giả mỉm cười một chút, nhưng rồi gương mặt co rúm lại và nét mặt ông sa sầm.
“Thật lạ là chúng ta đối phó với những việc này theo những cách thật khác nhau. Không ai có thể đoán trước được. Có những đứa trẻ và phụ nữ trở về nhà sau những năm sống trong trại tập trung và rõ ràng biết cách xoay xở để vượt qua dễ dàng. Họ vẫn sống hạnh phúc đến hôm nay. Trong khi tôi, một người đàn ông trưởng thành, lại chưa bao giờ vượt qua được bốn ngày trong trại giam đó. Thậm chí ở ngay trong bệnh viện này, tôi vẫn bị đánh thức giữa đêm vì hồi ức lúc bọn Đức thình thịch bước vào, hoặc đá bay những cái răng của tôi, hoặc trói tôi đứng đó trước đội xử bắn. Những gương mặt ám ảnh tôi thường xuyên, kể cả khi tôi thức hay ngủ. Và thường là đôi vợ chồng trẻ đầy khiếp sợ cùng với đứa bé ấy.”
Cái cách ông khăng khăng dùng từ ‘đứa bé’ nhắc tôi nhớ đến một câu hỏi chưa có lời giải.
“Ông có biết đứa trẻ là trai hay gái không?”
Ông yếu ớt lắc đầu.
“Cả hai vợ chồng tôi đều không biết, lạ lùng thay. Lúc đó điều quan trọng là chỉ nên biết và nhớ càng ít càng tốt. Đứa trẻ mới chỉ vài tháng tuổi và được quấn kỹ, nên không dễ để biết nó là trai hay gái. Tôi nghĩ đó là một bé gái nhưng không chắc lắm.”
“Và Ông cũng không biết ông Harald Olesen đã lái xe đưa họ đi đâu?”
Ông già khẽ rên lên và lắc đầu.
“Không. Không may là ông ấy không nói. Chúng tôi không nên biết những việc như thế, nhưng tôi nghĩ…”
Ông lại ho một trận nữa. Tôi cảm thấy tội lỗi khi truy vấn một ông già chỉ còn da bọc xương trên giường, nhưng cũng không thể ra về khi chưa nghe toàn bộ câu chuyện.
“Tôi không nghĩ ông ấy dự định đi thẳng qua biên giới. Quân Đức có nhiều chốt gác trên đường và hiện diện rất nhiều ở vùng biên giới, thế nên đường gần nhất luôn là nguy hiểm nhất. Càng không dễ đưa hai người lớn và một đứa trẻ qua trót lọt các chốt kiểm soát. Tôi nghĩ khả năng lớn là ông ấy đưa họ đi bộ vào rừng.”
“Nhưng đó đang là mùa đông - không lẽ không có tuyết trên đường đi?”
Ông già yếu ớt gật đầu hai lần.
“Đó là giữa tháng 2. Họ ra đi đêm 14 tháng 2. Đó là một tình huống khó khăn. Hoặc ông Harald Olesen phải tìm một nơi trú ẩn an toàn cho gia đình họ trong hai hoặc ba tháng, hoặc mọi người phải trượt tuyết băng rừng. Tôi nghĩ ông ấy đã theo kế hoạch sau. Vào cái ngày trước khi họ rời đi, ông nói vội rằng có lẽ ông và Chân nai phải đi một chuyến lên núi.”
Tôi cúi xuống nhìn người đàn ông hốc hác trên giường, không hề che giấu vẻ thắc mắc hiển hiện trên gương mặt. Ông cười đấu dịu và nghỉ một chút trước khi nỗ lực nói tiếp.
“Theo những gì ông Harald nói thì tôi hiểu Chân nai là một người dẫn đường mà ông sử dụng mỗi khi cần đưa người tị nạn trốn qua Thụy Điển. Tôi luôn hình dung Chân nai là một nam thanh niên khoảng hai mươi, ba mươi tuổi, nhưng thực sự tôi không biết Chân nai đến từ đâu hoặc anh ta bao nhiêu tuổi, và dĩ nhiên tên thật không phải như người ta gọi rồi. Tôi cũng không biết họ đi đường nào, do có rất nhiều khả năng. Ví dụ, họ có thể lái xe về phía tây qua Ostfold, hoặc lên phía bắc đến Hedmark, Oppland. Điều làm tôi bối rối là Chân nai chỉ được nhắc đến vài lần trong hai năm 1942 và 1943, sau đó thì không. Tôi có đề cập đến anh ta một lần sau chiến tranh nhưng ông Harald gằn giọng trả lời là mọi việc đã không suôn sẻ với Chân nai. Do không biết gì chắc chắn, tôi đoán chừng có điều gì đó tồi tệ đã xảy ra trong chuyến đi đó, và kết quả là Chân nai cùng ba người tị nạn kia đều bị thiệt mạng vào mùa đông năm 1944.”
Điều đó không phải là không có lí, nhưng tôi không định để nhân vật mới trong cuộc đời ông Harald Olesen biến mất dễ dàng như vậy.
“Ông có từng tình cờ thấy anh Chân nai này khi ông Olesen đến đưa người tị nạn đi?”
Ông già lắc đầu, vô cùng dứt khoát.
“Không, không. Ông Harald đến một mình, và khi ra đi chỉ có cặp vợ chồng đó cùng đứa trẻ đi cùng. Tôi chưa bao giờ gặp gỡ hay nói chuyện với Chân nai. Tôi chỉ biết chừng đó.”
Rồi đột nhiên sức lực rời bỏ ông già. Ông nằm thiêm thiếp trên giường trong vài phút, miệng thở hổn hển lấy hơi. Tôi vỗ nhẹ vai ông, cảm ơn ông rất nhiều vì đã giúp đỡ và nói ông hãy nghỉ ngơi. Ông gật đầu với một nụ cười thoáng hiện trên môi. Nhưng khi tôi sắp đi ra, ông tập trung hết sức lực và vẫy tôi trở lại.
“Nếu anh có gặp vợ tôi, hãy nói với bà ấy nếu bà không đến đây nữa cũng không sao, nhưng hãy nói…”
Giọng ông lạc đi, nhưng ông thều thào nói tiếp sau khi nghỉ một chút.
“Hãy nói rằng tôi yêu bà ấy rất nhiều và tôi rất xin lỗi về mọi chuyện sau chiến tranh. Anh có thể làm ơn nói với bà ấy như vậy được không?”
Tôi gật đầu, dù có chút nghi ngờ rằng tôi sẽ không đủ can đảm để hoàn thành lời hứa. Sau đó tôi lí nhí chào từ biệt và cảm ơn ông già một lần nữa. Tôi cảm thấy lúng túng không biết nói gì thêm, và tự dưng chỉ mong sao cho chóng rời khỏi bệnh viện trước khi bị kết tội gây nên cái chết của ông gác dan Anton Hansen.
Tôi liếc nhìn ông gác dan lần cuối cùng tại ngưỡng cửa. Ông đã chìm vào giấc ngủ. Với tinh thần trách nhiệm, tôi đã chặn một cô y tá đang đi ngang và nhờ cô ghé vào thăm ông ấy. Sau đó tôi đi qua những hành lang dài dằng dặc đến lối ra với cảm giác mình vừa thấy một người ruồi đang chết dần, và đó thật sự là một cảnh tượng buồn. Tôi cũng nhận ra rằng xét cho cùng, người ruồi cũng là con người mà thôi.
Trí nhớ tuyệt vời của ông gác dan, điều đã gây hại cho ông đến vậy, lại cung cấp cho tôi nhiều thứ để suy nghĩ. Ngoài những gương mặt quen thuộc của những người hàng xóm khác, giờ đây tôi phải đi tìm một gia đình tị nạn đã mất tích và một bóng ma vô diện của cuộc chiến tranh. Như Patricia đã gợi ý ngày hôm qua, càng ngày càng có nhiều manh mối cần phải củng cố, và tất cả đều dẫn về những tháng ngày đen tối của chiến tranh.