Người Ruồi

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 5 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
5

❊ ❊ ❊

Cao hơn 1m83 và nặng gần 127 kg, Ragnar Borchmann thực sự là một trong số những nhân vật ấn tượng nhất tôi từng gặp. Nhưng chính tính cách và năng lực trí tuệ của ông mới là thứ gây ấn tượng mạnh mẽ nhất. Ông Ragnar Borchmann là con trai duy nhất của một lãnh sự kiêm giám đốc, xuất thân từ một trong những gia tộc danh tiếng nhất Oslo. Ông đã thừa kế đế chế kinh doanh của cha mình, nhưng điều hành nó ít nhiều như là một thú vui. Phần lớn thời gian ông đều dành cho công việc của một giáo sư kinh tế. Ông có một danh tiếng mẫu mực và một danh sách dài các quyển sách đã viết trong lý lịch khoa học. Ở tuổi sáu mươi tư, Giáo sư Giám đốc Ragnar Borchmann là một trong những người giàu nhất Oslo và cũng là một trong những trí thức được ngưỡng mộ nhất ở Na Uy.

Tuy vậy, Ragnar Borchmann mang trong mình một nỗi đau lớn suốt nhiều năm qua. Tôi đã lần đầu nghe về chuyện đó khi lên mười. Một tối thứ Bảy, trong niềm vui khôn xiết lúc kết thúc chiến tranh, ông và vợ nán lại lâu với cha mẹ và tôi. Cả hai vị khách đều thể hiện một mối quan tâm cảm động đối với tôi, về việc học và các cơ hội trong tương lai của tôi. Trước khi tôi lên giường ngủ đêm đó, cha tôi đã nói với tôi: “Có rất nhiều thứ cha có thể ghen tỵ với Ragnar Borchmann, nhưng cha vẫn là người đàn ông giàu có hơn. Vì cha có con.” Ragnar Borchmann lập gia đình lúc mới ngoài hai mươi tuổi với một cô gái đến từ một gia đình môn đăng hộ đối, người cũng chuẩn bị bắt đầu một sự nghiệp giảng dạy đầy hứa hẹn. Đôi trẻ tỏ ra hạnh phúc và hòa hợp, nhưng không có con cái. Một nỗi buồn đè nặng lên họ, và dường như nặng nề hơn đối với ông ấy. Vào năm 1948, Ragnar Borchmann bước vào tuổi bốn mươi tư, và sở hữu một di sản ấn tượng gồm sách vở, tài sản và tiền bạc, nhưng ông vẫn chưa có người thừa kế và dường như không hi vọng có con được.

Tuổi thơ của tôi trải qua trong một căn nhà rõ ràng thuộc tầng lớp thượng lưu, nơi những cảm xúc mạnh mẽ ít khi được thể hiện công khai. Tôi chỉ nhớ đã chứng kiến cha mẹ tôi khóc một lần duy nhất - và đó là những giọt nước mắt của niềm vui. Một ngày tháng 7 năm 1949, sau khi từ trường về nhà, tôi đón nhận tin bà Caroline Borchmann đang mang thai. Chỉ đến lúc đó tôi mới hiểu việc không có con đã đè nặng gia đình Borchmann và bạn bè thân thích của họ như thế nào. Tôi chưa từng thấy niềm vui và sự hân hoan nào lớn hơn nơi đôi vợ chồng trung tuổi vào mùa hè năm đó. Cùng với cha mẹ, tôi đến dự lễ rửa tội con gái họ vào tháng 1 năm 1950, giống như khoảng hai trăm năm mươi ‘bạn bè thân thiết’ khác từ cộng đồng tinh hoa văn hóa, tài chính và học thuật của thủ đô. Có thể nói vui rằng Oslo chưa từng thấy sự kiện tương tự kể từ lễ rửa tội cho hoàng tử kế vị vào năm 1937, nhưng hình như nói vậy cũng đúng, vì xét cho cùng, chúng ta đang nói về một nàng công chúa của đế chế. Việc chọn tên cho đứa con duy nhất của mình hiển nhiên không phải một nhiệm vụ dễ thực hiện của ông bố và bà mẹ, với từng ấy cái tên nổi tiếng ở cả hai gia đình nội ngoại. Cuối cùng, họ chọn cái tên Patricia Louise Isabelle Elizabeth Borchmann.

“Cô gái nhà Borchmann’ đã bắt đầu đọc sách từ năm bốn tuổi, nếu cha mẹ tôi nói đúng. Mới tám tuổi cô đã đọc vở kịch Ibsen đầu tiên. Vào lúc mười tuổi, cô xuất hiện trên trang đầu của một tạp chí quốc gia, dù không hề muốn, dưới dòng tít ‘Người con gái siêu thông minh của Giám đốc thách thức trường học của mình”. Vấn đề là hiệu trưởng nhà trường, với sự hậu thuẫn của Bộ Giáo dục, chỉ đồng ý cho cô học vượt một năm, trong khi cha mẹ cô và các thầy giáo tin rằng vượt ba năm mới xứng đáng. Năm sau đó, Patricia Louise I. E. Borchmann lại lên báo lần nữa, lần này ở mục thể thao, với những dòng tít xưng tụng “một Sonja Henie mới”. Báo chí viết rằng cô là một trong số những ngôi sao đang lên của bộ môn bắn súng, đã đạt được một số thành tích cao tại giải vô địch trẻ toàn quốc.

Vào một ngày mùa đông năm 1963, tôi và mẹ gặp Patricia Louise cùng cha mẹ cô trên đường từ sân trượt băng về nhà. Giáo sư Borchmann như thường lệ áp đảo cuộc đối thoại. Tuy nhiên, trong lúc phân tích tin tức của ngày hôm đó - tương lai chính phủ mới của Gerhardsen sau vụ áp-phe Kings Bay - một chuyện không tưởng đã xảy ra. Không những cô bé chỉnh lại phần điểm tin của cha mình, cô còn vặn vẹo các đánh giá của ông. Điều ngạc nhiên hơn nữa là ông tiếp nhận chuyện đó một cách vui vẻ, thừa nhận các sai sót của mình và thậm chí còn xoa đầu người chỉ trích mình vài lần. Việc này đã gân ấn tượng mạnh với hai mẹ con tôi. ‘Chúng ta sẽ còn nghe nói nhiều về cô gái đó’, mẹ tôi đã nói thế trong khi chúng tôi nhìn theo họ.

Thật không may, tôi chỉ nhớ đến câu chuyện đó và lời nhận xét của mẹ trong màu sắc của bi kịch sẽ phủ bóng lên nó mãi mãi. Đó là lần cuối chúng tôi gặp bà Borchmann còn sống, và Patricia không bao giờ trượt băng được nữa. Vài ngày sau, một trong số những chiếc xe của gia đình Borchmann bị trượt bánh trên lớp băng mỏng ở giao lộ và đâm trực diện với một chiếc xe tải đầu kéo. Tài xế và bà Borchmann ngồi ở ghế trước chết ngay tại chỗ, còn Patricia Louise ngồi phía sau đã chiến đấu chống lại thần chết trong cơn hôn mê suốt năm ngày sau đó. Tôi được nghe nói lại rằng hai ngày sau tai nạn, bác sĩ tuyên bố cô bé khó có thể sống đến sáng hôm sau. Mười ngày sau tai nạn, báo chí đăng một mẩu tin nhỏ cho biết tình trạng cô bé không còn nguy kịch nữa, nhưng sẽ chịu những tổn thương vĩnh viễn. Đó là những thông tin cuối cùng người ta viết về Patricia Louise I. E. Borchmann.

Sau này tôi nghe mẹ kể rằng Patricia bị liệt nửa thân dưới và phải nghỉ học. Cha cô trong nỗi tuyệt vọng đã tìm kiếm lời khuyên từ một loạt các bác sĩ tên tuổi, và trong bước đường cùng thậm chí còn đưa cô đến gặp hai thầy lang, một già ở Lillehammer và một trẻ hơn ở Snasa. Không thể phục hồi được, Patricia đành sống với viễn cảnh tàn phế suốt phần đời còn lại. Sau đó tôi không còn nghe tin tức gì về cô lẫn cha cô. Cho đến khi ông gọi tôi sáng sớm ngày 6 tháng 4 năm 1968 để đề nghị một sự giúp đỡ bất ngờ trong việc điều tra vụ án mạng này.

Mặt trước tòa nhà 104-8 phố Erling Skjalgsson, nơi vừa là nhà vừa là đế chế doanh nghiệp của ông Ragnar Borchmann, vẫn ấn tượng y như trong ký ức của tôi ngày còn bé. Tòa nhà rộng lớn được những người thân quen của giáo sư mệnh danh là ‘tòa Bạch Ốc’ bởi màu sắc của nó. Ba căn nhà riêng biệt đã được nối lại bởi ông nội của Ragnar Borchmann, người giờ đây ngự trị trên một cái bệ trong tiền sảnh rộng mênh mông ngay phía ngoài văn phòng của cháu nội mình. Việc bước chân vào căn nhà của ông Borchmann cho tôi cảm giác như đang trở lại những năm 1930.

Thư ký của giáo sư Borchmann chỉ tôi lối đi nhanh nhất đến văn phòng của giám đốc. Cái cầu thang với hai mươi ba bậc vẫn dài y như trong ký ức tuổi thơ tôi. Khi tôi lên đến nơi, Ragnar Borchmann đã chờ ở đó, và vẫn bệ vệ như ngày nào. Gương mặt ông nay nhuốm một chút u sầu, nhưng lưng ông vẫn thẳng; râu tóc vẫn đen, và cái bắt tay cùng giọng nói vẫn uy lực như trong trí nhớ của tôi.

“Chào anh, và một lần nữa chúc mừng anh về những thăng tiến gần đây. Tôi hoàn toàn chắc chắn anh sẽ vượt qua thách thức này. Giờ tôi nên gọi anh là Kolbjorn hay Thanh tra Cảnh sát Kristiansen?”

Tôi quả quyết với ông mình vẫn sẽ xem như đó là một lời khen nếu ông chọn gọi tôi là Kolbjorn, nhưng để cho an toàn, tôi vẫn sẽ gọi ông là ‘Giáo sư Borchmann’. Ông cười, nhưng không phản đối.

“Trước hết, tôi phải xin anh tha lỗi vì đã dụ anh đến đây bằng cái cớ giả, nhưng với ý định tốt. Đáng buồn là bản thân tôi không giúp ích được gì. Tôi dĩ nhiên từng gặp ông Harald Olesen trong mấy thập kỷ qua, nhưng dạo gần đây ít hơn hẳn. Nếu chưa xúc tiến thì anh cần nói chuyện với Thẩm phán Tòa án Tối cao Jesper Christopher Haraldsen về những năm chiến tranh và Thư ký Đảng Lao động Haavard Linde về các vấn đề chính trị và về đảng. Nhưng ngoài chuyện đó ra, tôi e rằng tôi không mấy hữu ích cho việc điều tra.”

Tôi chưa tiến xa đến mức tiếp xúc với bất kỳ ai trong hai quý ông quyền lực mà giáo sư vừa đề cập, nhưng ông ấy hoàn toàn có lý khi cho rằng tôi nên liên lạc với họ. Như vậy nguyên do vì sao tôi phải đến nơi này vẫn là một bí ẩn. Ông Borchmann thấy sự lúng túng trên gương mặt tôi và nhanh chóng tiếp lời.

“Tôi e rằng việc này vừa không chính thống vừa kỳ quặc, nhưng người anh cần gặp không phải là tôi mà là Patricia.”

Vẻ lúng túng của tôi không hề giảm đi sau lời giải thích tiếp theo của ông - dưới dạng một câu hỏi hoàn toàn bất ngờ.

“Anh có từng gặp một người nào mà suy nghĩ của họ luôn luôn đi trước một bước, nhanh hơn và sâu sắc hơn bản thân anh không? Đó là một trải nghiệm vừa thú vị vừa đáng sợ khi nhìn vào mắt một người mà, nói thật lòng là, tuyệt đối thông minh hơn anh. Anh cảm thấy vừa an toàn lại vừa vô dụng.”

Tôi hoang mang gật đầu. Tôi không muốn nói nhiều nhưng tôi biết cảm giác đó rất rõ. Chẳng hạn như, tôi cảm thấy điều đó mỗi khi nói chuyện với Giáo sư Giám đốc Borchmann.

‘Dĩ nhiên anh đã từng. Bản thân tôi có lẽ ít cảm thấy như vậy hơn những người khác, nhưng tôi cũng đã trải qua điều đó. Ngoại trừ những cuộc đối thoại liên quan đến lĩnh vực chuyên môn, tôi hầu như luôn có cảm giác đó mỗi khi nói chuyện với cô con gái mười tám tuổi của mình. Con bé không những đọc nhanh gấp hai lần tôi, dù là tiếng Na Uy, Anh, Đức hay Pháp, mà còn đánh bại tôi về tốc độ và chất lượng các bình luận liên quan đến nội dung đã đọc. Điều đó làm tôi hơi kinh hãi, nhưng cũng làm tôi tự hào ghê gớm’.

Tôi cảm thấy hoang mang cực độ và không biết nói gì, nói thế nào, nên tôi giữ im lặng. Ông giáo sư nói tiếp.

“Trong những năm gần đây, không có gì hấp dẫn Patricia hơn các vụ án chưa phá được. Con bé đã đọc hàng tá sách về lịch sử tội phạm và ít nhất một trăm tiểu thuyết trinh thám. Con bé đã hơn một lần dự đoán kết cục của các vụ án lớn trên cơ sở những gì đọc được trên báo. Patricia quan tâm đặc biệt đến vụ án mạng tại phố Krebs. Một phần vì ông Harald Olesen là người bạn của gia đình, phần nữa vì những tình huống khác thường xung quanh vụ án. Con bé có những câu hỏi và bình luận mà tôi không thể trả lời - ví dụ như cách thức mà thủ phạm đã chọn để rời khỏi căn hộ. Nhưng theo những gì tôi biết, có thể anh và các đồng nghiệp đã giải quyết được bí ẩn đó và sẽ sớm bắt được thủ phạm…”

Ông nhìn tôi dò hỏi. Tôi cố lắc đầu sao cho không thể hiện sự tuyệt vọng.

“Trong trường hợp đó, tôi hết sức biết ơn nếu anh có thể bàn luận vụ án này một lát với Patricia, dĩ nhiên là trong sự bí mật tuyệt đối. Sẽ không mất quá mười lăm phút đâu, và nó có thể rất hữu ích đấy.”

Tôi nghĩ rằng việc một người cha tán dương con mình có lẽ nên có giới hạn nào đó, nhưng lúc này cô gái Patricia và thế giới của cô đang khơi gợi sự tò mò của tôi. Và tôi cũng tò mò không kém trước việc làm thế nào cô ấy có thể giải đáp bí ẩn về cách thủ phạm tẩu thoát, trong khi tôi không có lời giải nào. Thế nên tôi cười thân thiện và nói mình rất vui được dành ra mười lăm phút hoặc hơn, dĩ nhiên là trong sự bí mật tuyệt đối, để tìm hiểu giả thiết.

Giáo sư Borchmann cười, siết nhẹ tay tôi và, không chần chừ thêm nữa, ông nhấn chuông gọi. Một cô giúp việc tóc vàng trạc hai mươi tuổi xuất hiện vài giây sau đó. “Vui lòng dẫn vị khách này đến gặp cô Patricia Louise trong thư viện ngay bây giờ,” nói đoạn ông lập tức quay trở lại với đống giấy tờ trên bàn làm việc.

Đấng quyển năng thương xót cho linh hồn tôi! Đoạn văn được đánh máy nhưng Konrad Jensen ký tên bằng bút bi ngay phía dưới. Tôi gật đầu với chính mình, do tôi đứng đó một mình trong căn hộ với một người đàn ông đã chết và đã ký một lá thư t
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Hans Olav Lahlum

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.